1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

T LIEU ON TAP NGU VAN 9

67 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 205,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung: Với cảm quan lịch sử và lòng tự hào dân tộc, các tác giả đã tái hiện một cách chân thực, sinh động hình ảnh Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm bại c

Trang 1

PHẦN II: VĂN BẢN ( ÔN TẬP VĂN BẢN KẾT HỢP VỚI TẬP LÀM VĂN)

Chủ đê: CÁC TÁC PHẨM TRUYỆN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

A MẤY NÉT KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI:

I Khái niệm vê văn học trung đại: Văn học trung đại là một cách gọi tên mang tính qui

ước, một giai đoạn mà văn học hình thành và phát triển trong khuôn khổ của nhà nước phong kiến Việt Nam, được xác định từ thế kỷ X (dấu mốc cho sự ra đời của nhà nước phong kiến Việt Nam đầu tiên) đến hết thế kỷ XIX.

II Vị trí, vai trò của văn học trung đại:

- Vị trí, vai trò rất quan trọng, bởi đây là mốc đầu tiên, chặng đường đầu tiên của văn học.

- Nội dung tư tưởng của văn học trung đại có tính chất bao trùm của nền văn học dân tộc.

III Các giai đoạn của văn học trung đại: Văn học trung đại có 3 giai đoạn:

2 Giai đoạn 2: Từ thế kỷ XVI -> Nửa đầu thế kỷ XVIII

- Tác phẩm tiêu biểu: Truyền kỳ mạn lục( Nguyễn Dữ), Luận pháp học ( Nguyễn Thiếp)

- Các tác phẩm vẫn chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, tuy chưa có lối đi riêng nhưng cũng đã đề cao được ý thức dân tộc, bắt đầu ca ngợi cuộc sống, đạo lý con người.

3 Giai đoạn 3: Từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX

- Tác phẩm tiêu biểu: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Lục Vân Tiên ( Nguyễn Đình Chiểu), thơ Hồ Xuân Hương

- Văn học thời kì này phát triển mạnh mẽ, có nhiều sự chuyển bến lớn, nhằm thoát ra khỏi sự ảnh hưởng của văn họcTrung Quốc, tạo nên đặc trưng riêng của văn học dân tộc Hầu hết các tác phẩm thời kỳ này được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm; thể loại cũng phong phú hơn

4 Nội dung văn học trung đại.

- Phản ánh khí phách hào hùng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc

- Phản ánh lòng yêu nước, lòng căm thù giặc, đòi quyền sống, quyền làm người

- Tố cáo chế độ phong kiến đương thời bất công, tàn bạo

- Theo các tài liệu để lại, ông còn là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

- Sống trong cảnh chế độ phong kiến mục nát, Nguyễn Dữ chỉ làm quan một năm rồi lui về ở ẩn Đó là hình thức bày tỏ thái độ chán nản trước thời cuộc của một trí thức tâm huyết nhưng sinh ra không gặp thời.

Trang 2

2 Tác phẩm:

a Truyên kì mạn lục: Là ghi chép tản mạn về những điều kì lạ vẫn được lưu truyền.

Viết bằng chữ Hán, được xem là “Thiên cổ kì bút” ( áng văn hay ngàn đời ) Gồm 20

truyện, với đề tài phong phú Nhân vật trong truyện: Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức hạnh, khao khát sống cuộc sống yên bình , hạnh phúc, nhưng lại bị những thế lực tàn bạo và lễ giáo phong kiến nghiệt ngã đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, bi thương, bất hạnh vì oan khuất Hoặc một kiểu nhân vật khác, những trí thức tâm huyết với cuộc đời nhưng bất mãn với thời cuộc, không chịu trói mình trong vòng danh lợi,sống ẩn dật để giữ được cốt cách thanh cao.

b Văn bản: Chuyện người con gái Nam Xương là truyền thứ 16, có nguồn gốc từ

một truyện cổ tích Việt Nam có tên là: Vợ chàng Trương.

II TÌM HIỂU VĂN BẢN

2 Nhân vật Vũ Nương là người phụ nữ đức hạnh mà bất hạnh.

Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

- Hai câu thơ quen thuộc trong: Truyện Kiều của Nguyễn Du là một lời tổng kết vô

cùng xác đáng cho cuộc đời, thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy bất công, oan trái

- Cùng với đề tài này, Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ là tác phẩm

nổi tiếng của văn xuôi trung đại Việt Nam giai đoạn thế kỉ XVI – XVII

a Vũ Nương là người phụ nữ đức hạnh:

- Mở đầu tác phẩm, tác giả đã có lời giới thiệu bao quát về Vũ Nương “Tính đã thuỳ

mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” => Tạo ấn tượng về một chân dung phụ nữ hoàn hảo.

- Sau đó, đi sâu miêu tả vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của nhân vật trong các mối quan

hệ khác nhau, trong các tình huống khác nhau:

a.1 Trước hết, Vũ Nương là người phụ nữ thuỷ chung, son sắc trong tình nghĩa

vợ chồng:

- Lúc mới lấy chồng: Trong cuộc sống vợ chồng, biết Trương Sinh vốn có tính đa

nghi, nên nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa” Nàng luôn giữ cho tình cảm gia đình đầm ấm, yên vui => Nàng là một người vợ hiền

thục, khôn khéo, nết na đúng mực!

- Lúc tiễn chồng đi lính: Khi đất nước có chiến tranh, Trương Sinh phải đầu quân ra

trận Trong buổi tiễn chồng, Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn dò chồng những lời tình

nghĩa, đằm thắm, thiết tha: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong thế là đủ rồi”

=> Ước mong của nàng thật bình dị, chứng tỏ nàng luôn coi trọng hạnh phúc gia đình,

không mong danh hiển

- Lúc xa chồng ( chồng đi lính): Nàng cảm thông trước những nỗi vất vả gian lao

mà chồng sẽ phải chịu đựng; nàng cũng bộc lộ nỗi khắc khoải nhớ chồng của mình

Trang 3

=> Người vợ hết mực thùy mị, dịu dàng Trái tim ấy giàu lòng yêu thương, biết chịu

đựng những thử thách, biết đợi chờ để yên lòng người đi xa, thật đáng trân trọng!

- Lúc chồng vê: Khi tan giặc, Trương Sinh trở về, hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan

vỡ: Vũ Nương ra sức cứu vãn, hàn gắn Khi người chồng trút cơn ghen bóng gió, Vũ Nương

đã ra sức thanh minh, phân trần Những lời nói nhún nhường tha thiết đó

=> Thái độ trân trọng chồng, trân trọng gia đình nhà chồng, muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình.

- Lúc ở thủy cung: Những năm tháng sống sung sướng ở chốn làng mây cung nước,

nàng vẫn không nguôi nỗi thương nhớ chồng con Vừa gặp lại Phan lang, nghe Lang kể về tình cảnh gia đình, nàng đã ứa nước mắt xót thương Mặc dù đã nặng lời thề sống chết với Linh Phi nhưng nàng vẫn tìm cách trở về với chồng con trong giây lát để nói lời đa tạ tấm lòng chồng

=> Rõ ràng trong trái tim người phụ nữ ấy, không chút thù hận, chỉ có sự yêu thương

- Trong thời gian chồng đi lính, một mình nàng vừa là cô con dâu vừa làm cha, làm

mẹ để chăm sóc phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạy con thơ:

+ Với mẹ chồng, nàng là một cô con dâu hiếu thảo

+ Với con thơ, nàng rất mực yêu thương con Chi tiết nàng chỉ bóng mình trên vách

và bảo đó là cha Đản cũng xuất phát từ tấm lòng của người mẹ: để con trai mình bớt đi cảm

giác thiếu vắng tình cảm của người cha.

=> Nguyễn Dữ đã dành cho nhân vật một thái độ yêu mến, trân trọng qua từng trang truyện, từ đó khắc họa thành công hình tượng người phụ nữ với đầy đủ phẩm chất tốt đẹp.

b Vũ Nương là người phụ nữ bất hạnh:

- Vũ Nương là nạn nhân của chế độ nam quyền, một xã hội mà hôn nhân không có phần không bình đẳng

- Là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa: Chiến tranh đã làm xa cách, tạo điều kiện cho sự hiểu lầm trở thành nguyên nhân gây bất hạnh Đó cũng là ngòi nổ cho thói hay ghen,

đa nghi của Trương Sinh nảy nở, phát triển, dẫn đến cái chết oan uổng của Vũ Nương.

- Đỉnh điểm của bi kịch là khi gia đình tan vỡ, bế tắc, Vũ Nương đã phải tìm đến cái

chết để giải nỗi oan ức, thoát khỏi cuộc đời đầy đau khổ, oan nghiệt => Cái kết thúc tưởng là có hậu hoá ra cũng chỉ đậm tô thêm tính chất bi kịch trong thân phận Vũ Nương.

=> Xây dựng hình tượng Vũ Nương, một mặt nhà văn ngợi ca những phẩm chất tâm hồn đáng quý của người phụ nữ, mặt khác thể hiện thái độ cảm thông thương xót cho số phận bất hạnh của họ và cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi lí chà đạp, rẻ rúng con người, đặc biệt là người phụ nữ Qua nhân vật Vũ Nương, người đọc đủ thấy chiều sâu hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nguyễn Dữ.

Những lí do nào đã dẫn đến bi kịch oan khuất mà Vũ Nương phải chịu?

3 Nhân vật Trương Sinh:

- Con nhà giàu, ít học, có tính hay đa nghi.

- Cuộc hôn nhân với Vũ Nương là cuộc hôn nhân không bình đẳng.

Trang 4

- Tâm trạng Trương Sinh nặng nề, buồn đau vì mẹ mất Lời nói của Đản kích động tính ghen tuông, đa nghi của chàng Xử sự hồ đồ, độc đoán, vũ phu thô bạo, đẩy vợ đến cái chêt oan.

- Mắng nhiếc vợ thậm tệ, không nghe lời phân trần; không tin cả những nhân chứng bênh vực cho nàng.

4 Các chi tiết kì ảo và ý nghĩa của nó:

a Những chi tiết kì ảo:

- Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa.

- Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi yến và gặp, trò chuyện với Vũ Nương; được trở về dương thế.

- Vũ Nương hiện về sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng ở bến Hoàng Giang

b Ý nghĩa:

- Tăng sức hấp dẫn bằng sự li kì và trí tượng tượng phong phú.

- Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương, một người dù đã ở thế giới khác, vẫn quan tâm đến chồng con, nhà cửa, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danh dự.

- Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về

sự công bằng: người tốt dù có phải trải qua bao oan khuất, cuối cùng sẽ được minh oan.

- Khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với sự bi thảm của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

5 Ý nghĩa chi tiết cái bóng:

a Trong kể chuyện:

- Cái bóng là một chi tiết đặc sắc, là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo làm cho câu chuyện hấp dẫn hơn so với truyện cổ tích.

- Cái bóng là đầu mối, vừa thắt nút vừa mỏ nút của câu chuyện,

b Trong việc xây dựng nhân vật, chiếc bóng góp phần thể hiện tính cách nhân vật:

- Bé Đản ngây thơ

- Trương Sinh hồ đồ, đa nghi.

- Vũ Nương yêu thương chồng con.

c Cái bóng biểu tượng cho hạnh phúc mong manh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, họ chỉ là chiếc bóng bên người đàn ông, chiếc bóng góp phần tố cáo xã hội phong kiến suy tàn.

III TỔNG KẾT:

1 Nghệ thuật:

- Nghệ thuật viết truyện điêu luyện, kết cấu độc đáo, sáng tạo: thắt nút và mở nút hợp lý.

- Diễn biến tâm lý nhân vật được khắc hoạ rõ nét.

- Xây dựng tình huống truyện đặc sắc, kết hợp tự sự + trữ tình + kịch.

- Yếu tố truyền kỳ: Kỳ ảo, hoang đường.

Trang 5

Bài 2: HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ - Ngô Gia Văn Phái

I GIỚI THIỆU CHUNG

1 Tác giả: Ngô gia văn phái là một nhóm các tác giả dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai

(Hà Tây)

- Ngô Thì Chí (1753-1788) là người viết 7 hồi đầu của Hoàng Lê nhất thống chí.

- Ngô Thì Du (1772-1840), cháu gọi Ngô Thì Sĩ là bác ruột, là người viết tiếp 7 hồi

cuối của Hoàng Lê nhất thống chí (trong đó có hồi 14).

- Chiêu Thống lo cho cái ngai vàng mục rỗng của mình, cầu viện nhà Thanh kéo quân vào chiếm Thăng Long.

- Người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, lập nên triều đại Tây Sơn.

II TÌM HIỂU VĂN BẢN

1 Tóm tắt hồi thứ 14:

- Nguyễn Huệ nghe tin quân Thanh đến Thăng Long giận lắm liền họp các tướng sĩ định thân chinh cầm quân đi ngay Tướng sĩ xin Bắc Bình Vương lên ngôi để làm yên lòng người.Nguyễn Huệ cho đắp đàn trên núi tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung Ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân hạ lệnh xuất quân.

- Đến Nghệ An, Quang Trung cho tuyển thêm hơn 1 vạn lính mở cuộc duyệt binh.Đến Tam Điệp mở tiệc khao quân, chia quân sĩ làm 5 đạo Đúng tối 30 tết lập tức lên đường.

- Trên đường tiến quân ra Bắc, những toán quân Thanh do thám bị bắt sống Ngày 03 tháng giêng năm Kỉ Dậu, đồn Hà Hồi bị hạ Mờ sáng ngày 05 tiến đánh đồn Ngọc Hồi Quân Thanh đại bại Thái thú Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt cuống cuồng chạy mất mật Quân Thanh tranh nhau qua cầu tháo chạy rơi xuống nước nhiều không kể xiết Vua tôi Lê Chiêu Thống dìu dắt nhau chạy trốn sang đất Bắc.

2 Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ:

a Con người hành động với tính cách mạnh mẽ, quyết đoán:

Trong mọi tình huống, Nguyễn Huệ luôn thể hiện là con người hành động với tính cách mạnh mẽ, quyết đoán Ông luôn xông xáo, giải quyết nhanh gọn và có chủ đích Điều

đó thể hiện qua từng thái độ, từng hành động của nhân vật:

- Nhận được tin giặc chiếm Thăng Long thì “giận lắm”,”định thân chinh cầm quân

đi ngay”.

- Chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã làm rất nhiều việc lớn:

+ Tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế để “chính vị hiệu”,”giữ lấy lòng người”.

+ Tự mình “đốc suất đạo binh” ra Bắc.

+ Tìm gặp người cống sĩ ở huyện La Sơn là Nguyễn Thiếp để hỏi kế sách.

+ Tuyển mộ quân sĩ và “mở cuộc duyệt binh lớn” ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ.

b Con người có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén trước thời cuộc:

- Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc, thế tương quan giữa ta và địch Trong lời phủ dụ quân sĩ ở Nghệ An:

Trang 6

+ Nguyễn Huệ đã khẳng định chủ quyền của dân tộc đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng và lên án hành động xâm lăng phi nghĩa, trái đạo trời của quân Thanh, nêu bật

dã tâm của chúng bụng dạ ắt khác…cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải

+ Nhắc lại truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.

+ Kêu gọi quân lính đồng tâm hiệp lực, ra kỉ luật nghiêm.

=> Lời phủ dụ có thể xem như một bài hịch ngắn gọn mà ý tứ phong phú, sâu xa, nó tác động, kích thích lòng yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc.

- Sáng suốt trong việc xét đoán và dùng người: Thể hiện qua cách xử trí vừa có lí vừa

có tình với các tướng sĩ tại Tam Điệp Ông rất hiểu tướng sĩ, hiểu tường tận năng lực của bề tôi, khen chê đúng người đúng việc.

c Con người có ý chí quết thắng và tầm nhìn xa trông rộng:

- Mới khởi binh, chưa lấy được tấc đất nào, vậy mà Quang Trung đã tuyên bố chắc

nịch “phương lược tiến đánh đã có sẵn”, “Chẳng qua mươi ngay có thể đuổi được người Thanh”.

- Biết trước kẻ thù “lớn gấp mười nước mình”, bị thua một trận “ắt lấy làm thẹn mà

lo mưu báo thù” khiến việc binh đao không bao giờ dứt nên Nguyễn Huệ còn tính sẵn cả kế

hoạch ngoại giao sau chiến thắng để có thời gian “yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng”, làm

cho nước giàu quân mạnh.

d Con người có tài dụng binh như thần:

- Cuộc hành quân thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn do vua Quang Trung chỉ huy: + Ngày 25 tháng Chạp xuất quân từ Phú Xuân (Huế),

+ Ngày 29 đã tới Nghệ An, vượt khoảng 350km qua núi, qua đèo Đến Nghệ An, vừa tuyển quân, tổ chức đội ngũ, vừa duyệt binh, chỉ trong vòng một ngày

+ Hôm sau, tiến quân ra Tam Điệp (cách khoảng 150km) Đêm 30 tháng Chạp đã

“lập tức lên đường”, tiến quân ra Thăng Long Quang Trung định kế hoạch mồng 7 tháng

Giêng sẽ vào ăn Tết ở Thăng Long Trên thực tế, đã thực hiện kế hoạch sớm hai ngày: trưa mồng 5 đã vào Thăng Long.

- Tổ chức các trận đánh ở Hà Hồi, Ngọc Hồi hợp lí, ít hao tổn binh lực:

e Hình ảnh vị anh hùng lẫm liệt trong chiến trận:

- Là một tổng chỉ huy chiến dịch thực sự: thân chinh cầm quân ra trận, vừa hoạch định chiến lược, sách lược, vừa trực tiếp tổ chức quân sĩ, bài binh bố trận, vừa tự mình thống lĩnh một mũi tiến công, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha nơi trận tiền.

- Hình ảnh người thủ lĩnh ấy đã làm quân sĩ nức lòng, tạo niềm tin quyết chiến quyết thắng, đồng thời khiến kẻ thù kinh hồn bạt vía, rơi vào cảnh đại bại nhanh chóng.

2 Hình ảnh bọn xâm lược và lũ tay sai bán nước.

a) Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh:

- Không đề phòng, không được tin cấp báo.

- Ngày mồng 4, quân giặc được tin Quang Trung đã vào đến Thăng Long:

+ Tôn Sĩ Nghị sợ mất mặt, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, nhằm hướng bắc mà chạy.

+ Quân sĩ hoảng hồn, tranh nhau qua cầu, xô nhau xuống sông, sông Nhị Hà bị tắc nghẽn.

b) Số phận thảm hại của bọn vua tôi phản nước, hại dân:

- Vua Chiêu Thống vội cùng bọn thân tín “đưa thái hậu ra ngoài”, chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền của dân để qua sông, “luôn mấy ngày không ăn”.

- Đuổi kịp Tôn Sỹ Nghị, vua tôi “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt” đến mức “Tôn Sỹ Nghị cũng lấy làm xấu hổ”.

3 Ngòi bút của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (một của quân tướng nhà Thanh và một của vua tôi Lê Chiêu Thống) có gì khác biệt?

Trang 7

- Tất cả đều tả thực, với những chi tiết cụ thể, nhưng âm hưởng lại khác nhau:

+ Đoạn văn trên nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hả, ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hả hê sung sướng của người thắng trận trước sự thảm bại của lũ cướp nước.

+ Đoạn văn dưới nhịp điệu chậm hơn, miêu tả tỉ mỉ giọt nước mắt của người thổ hào, nước mắt tủi hổ của vua tôi nhà Lê… Âm hưởng có phần ngậm ngùi, chua xót.

- Vì các tác giả đều là những cựu thần của nhà Lê, nên không thể không có sự thương xót, ngậm ngùi cho tình cảnh của vua tôi Lê Chiêu Thống Đấy là điều tạo nên sự khác biệt trong thái độ và cách miêu tả hai cuộc tháo chạy.

III TỔNG KẾT

1 Nghệ thuật:

- Cách trần thuật đặc sắc; ghi lại những sự kiện lịch sử diễn biến gấp gáp, khẩn trương qua từng mốc thời gian.

- Khắc hoạ một cách rõ nét hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ giàu chất sử thi.

- Kể sự kiện lịch sử rành mạch chân thực, khách quan, kết hợp với miêu tả sử dụng hình ảnh so sánh độc lập.

2 Nội dung: Với cảm quan lịch sử và lòng tự hào dân tộc, các tác giả đã tái hiện một cách

chân thực, sinh động hình ảnh Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.

Bài 3 : TRUYỆN KIỀU– Nguyễn Du

I GIỚI THIỆU TÁC GIẢ:

1 Tiểu sử: Nguyễn Du: (1765-1820), tên chữ: Tố Như, tên hiệu: Thanh Hiên Quê: Tiên

Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

- Các anh đều học giỏi, đỗ đạt, làm quan to, trong đó có Nguyễn Khản (cùng cha khác

mẹ) làm quan thượng thư dưới triều Lê Trịnh, giỏi thơ phú.

3 Thời đại:

- Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỉ XIX, là thời kỳ lịch sử có những biến động dữ dội : Chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, giai cấp thống trị thối nát, tham lam, tàn bạo, các tập đoàn phong kiến (Lê- Trịnh; Trịnh - Nguyễn) tranh giành quyền vị.

- Khởi nghĩa nông dân nổi dậy khắp nơi mà đỉnh cao là phong trào Tây Sơn đánh đổ các tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn, quét sạch hai mươi vạn quân Thanh xâm lược Những biến cố đó có tác động tới tình cảm, nhận thức của tác giả, ông hướng ngòi bút vào hiện thực.

4 Cuộc đời:

Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc (1786 1796), rồi về ở ẩn tại quê nội ở Hà Tĩnh ( 1796 – 1802) Sau khi đánh bại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi (1802), Nguyễn Du Ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn Năm ( 1813- 1814), ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc Năm 1820, dưới triều Minh Mạng, Nguyễn Du lại được lệnh làm chánh sứ sang Trung Quốc lần 2 nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh, mất tại Huế

Cuộc đời ông chìm nổi, gian truân, đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều hạng người Là người có trái tim giàu lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc với những người nghèo khổ ….

=> Cuộc đời từng trải, vốn sống phong phú, có nhận thức sâu rộng, được coi là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn

Trang 8

5 Sự nghiệp văn học:

Nguyễn Du có nhiều tác phẩm có giá trị lớn bằng chữ Hán và chữ Nôm.

- Tác phẩm chữ Hán: Thanh Hiên thi tập; Nam Trung tạp ngâm; Bắc hành tạp lục.

- Tác phẩm chữ Nôm: Truyện Kiều; Văn chiêu hồn

Kết luận: Từ gia đình, thời đại, cuộc đời đã kết tinh ở Nguyễn Du một thiên tài kiệt

xuất Với sự nghiệp văn học có giá trị lớn, ông là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là danh nhân văn hoá thế giới, có đóng góp to lớn đối với sự phát triển của văn học Việt Nam.

II GIỚI THIỆU TRUYỆN KIỀU:

1 Nguồn gốc:

- Dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung quốc) nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là rất lớn Lúc đầu có tên: “Đoạn trường Tân Thanh”, sau đổi thành “Truyện Kiều”.

- Viết vào đầu thế kỷ XIX (1805-1809), gồm 3254 câu thơ lục bát.

2 Tóm tắt tác phẩm:

- Phần 1: Gặp gỡ và đính ước

- Phần 2: Gia biến và lưu lạc

- Phần 3: Đoàn tụ gia đình, gặp lại người xưa.

3 Giá trị Truyện Kiêu:

3.1 Giá trị nội dung:

a Giá trị hiện thực: Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội phong kiến bất công

tàn bạo Phản ánh nỗi khổ đau, bất hạnh của con người, đặc biệt là người phụ nữ.

b Giá trị nhân đạo:

- Truyện Kiều là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người;

- Tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, bất công, tàn bạo;

- Khẳng định và đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như: khát vọng về quyền sống, tự do, công lý, về tình yêu tự do và hạnh phúc.

3.2 Giá trị nghệ thuật: Truyện Kiều là kiệt tác, đạt thành tựu lớn về nhiều mặt, nổi bật là

ngôn ngữ và thể loại:

- Ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đạt tới đỉnh cao rực rỡ.

- Nghệ thuật tự sự có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên ( bên cạnh bức tranh thiên nhiên sinh động là bức tranh tả cảnh

ngụ tình); khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người rất thành công ( nhân vật chính diện được miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng trưng, còn nhân vật phản diện được miêu tả bằng bút pháp tả thực bốc trần).

Tóm lại, từ những giá trị trên, chúng ta có thể khẳng định: Truyện Kiều chính là một kiệt tác trong Văn học trung đại nói riêng và văn học dân tộc nói chung.

ĐOẠN TRÍCH CHỊ EM THÚY KIỀU

( Trích: Truyện Kiều – Nguyễn Du )

I TÌM HIỂU CHUNG:

Vị trí đoạn trích: Đoạn trích thuộc phần đầu của tác phẩm, đây là đoạn thơ tiêu biểu cho nghệ thuật tả người của Nguyễn Du: Tả vẻ đẹp của Thúy Vân và Thúy Kiều để dự báo

về số phận tương lai của họ.

II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN:

1 Giới thiệu chung vê chị em Kiêu ( 4 dòng thơ đầu):

- Trước hết, Nguyễn Du giới thiệu chung về hai chị em trong gia đình, lời giời thiệu

cổ điển, trang trọng rằng họ là “tố nga”, đẹp và trong sáng:

- Tiếp đến, tác giả miêu tả chung vẻ đẹp của hai chị em trong một nhận xét mang tính chất lí tưởng hóa, tuyệt đối hóa (đẹp một cách hoàn thiện):

Trang 9

+ Với bút pháp ước lệ tượng trưng, tác giả đã gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, thanh tao,

trong trắng của người thiếu nữ ở hai chị em Thúy Kiều: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” Vóc

dáng mảnh mai, tao nhã như mai; tâm hồn trắng trong như tuyết.

+ Hai chị em đều tuyệt đẹp “mười phân vẹn mười”, song mỗi người lại mang nét đẹp

riêng khác nhau “mỗi người một vẻ”.

-> Đó là vẻ đẹp hài hòa đến độ hoàn mĩ cả hình thức lẫn tâm hồn, cả dung nhan và đức hạnh.

=> Bốn câu thơ đầu là bức tranh nền để từ đó tác giả dẫn người đọc lần lượt chiêm ngưỡng sắc đẹp của từng người.

2 Vẻ đẹp của Thúy Vân ( 4 dòng thơ tiếp theo ):

- Câu thơ mở đầu: “Vân xem trang trọng khác vời” đã giới thiệu khái quát vẻ đẹp của

Thúy Vân: một vẻ đẹp cao sang, quí phái.

- Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ẩn dụ, nhân hoá: “khuôn trăng”, “nét ngài”,

“hoa cười ngọc thốt, “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”

-> Vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu; tính cách thì đoan trang, thùy mị: khuôn mặt đầy đặn, tươi sáng như trăng đêm rằm; lông mày sắc nét như mày ngài; miệng cười tươi thắm như hoa; giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngọc ngà là những lời đoan trang, thùy mị Mái tóc của nàng đen mượt hơn mây, da trắng mịn màng hơn tuyết.

=> Vân đẹp có một vẻ đẹp tạo sự hòa hợp, êm đềm -> Dự báo về một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ.

3 Chân dung Thúy Kiêu ( 12 dòng thơ ):

a Sắc của Kiêu:

- Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Vân trước để làm nổi bật Thúy Kiều theo thủ pháp nghệ thuật đòn bẩy Tả kĩ, tả đẹp để Vân trở thành tuyệt thế giai nhân, để rồi khẳng định

Kiều còn hơn hẳn: “Kiều càng sắc sảo mặn mà” Từ “càng”đứng trước hai từ láy liên tiếp

“sắc sảo”, “mặn mà” làm nổi bật vẻ đẹp của Kiều: sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn.

- Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ẩn dụ: “Làn thu thủy nét xuân sơn” gợi đôi mắt

trong sáng, long lanh như làn nước mùa thu; hàng lông mày thanh tú như dáng núi mùa xuân Vẻ đẹp của Kiều hội tụ ở đôi mắt – cửa sổ tâm hồn thể hiện phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ.

- Vẻ đẹp của Kiều khiến “hoa ghen”, “liễu hờn”, nước phải nghiêng, thành phải đổ.

Nhà thơ không tả trực tiếp vẻ đẹp mà tả sự đố kị, ghen ghét với vẻ đẹp ấy; tả sự ngưỡng mộ,

mê say trước vẻ đẹp ấy “Nghiêng nước nghiêng thành” là cách nói sáng tạo điển cố để cực

tả giai nhân Rõ ràng, cái đẹp của Kiều có chiều sâu, có sức quyến rũ làm mê mẩn lòng người Vẻ đẹp ấy như tiềm ẩn phẩm chất bên trong cao quý – tài và tình rất đặc biệt của nàng.

b Tài của Kiêu:

- Trí tuệ thông minh trời phú

- Kiều là người con gái đa tài mà tài nào cũng đạt đến độ hoàn thiện, xuất chúng: đủ

cả cầm, kì, thi, họa.

- Đặc biệt, tài đàn của nàng vượt trội hơn cả Nàng đã soạn riêng một khúc bạc mênh

mà ai nghe cũng não lòng Khúc nhạc thể hiện tâm hồn,tài năng, trái tim đa sầu đa cảm.

=> Chân dung Thúy Kiều mang tính cách số phận Ngòi bút Nguyễn Du nhuốm màu định mệnh Sắc đẹp và tài năng của Kiều nổi trội nên thiên nhiên, tạo hóa cũng ghen hờn -> Cuộc đời của nàng sẽ gặp nhiều éo le, đau khổ.

4 Nhận xét chung vê cuộc sống của chị em kiêu ( 4 dòng thơ cuối):

- Thúy Vân, Thúy Kiều dưới ngòi bút của Nguyễn Du không chỉ nhan sắc tuyệt vời

mà còn đức hạnh khuôn phép Dù đã đến tuổi “cài trâm, búi tóc” nhưng hai chị em vẫn giữ

gìn nề nếp, gia phong:

Trang 10

ĐOẠN TRÍCH: KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH

( Trích: Truyện Kiều – Nguyễn Du )

I GIỚI THIỆU CHUNG

Đoạn trích nằm ở phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc) Sau khi biết mình bị lừa vào chốn

lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn Tú Bà vờ hứa hẹn đợi Kiều bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế, rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới.

II TÌM HIỂU VĂN BẢN

1 Hoàn cảnh cô đơn, cay đắng xót xa của Kiêu ( 6 dòng thơ đầu)

- Sáu câu thơ đầu gợi tả cảnh thiên nhiên nơi lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian.

- Không gian nghệ thuật được miêu tả dưới con mắt nhìn của Thúy Kiều: Lầu Ngưng

Bích là nơi Kiều bị giam lỏng Hai chữ “khóa xuân” đã nói lên điều đó; Cảnh đẹp nhưng

mênh mông, hoang vắng và lạnh lẽo:

- Ngước nhìn xa xa, chỉ thấy dãy núi mờ nhạt.

- Nhìn lên trời cao chỉ có “tấm trăng gần” -> Thời gian chiều tối, gợi buồn.

- Xa hơn nữa, nhìn ra “bốn bề bát ngát xa trông” là những cát vàng cồn nọ nối tiếp

nhau cùng với bụi hồng trên dặm dài thăm thẳm.

=> Nghệ thuật liệt kê, đối lập tương phản “non xa”/”trăng gần”, đảo ngữ, từ láy “bát ngát”-> gợi không gian rợn ngợp, vắng lặng không một bóng người Đối diện với cảnh

ấy, Kiều cảm thấy trống trải cô đơn.

- Nàng đau đớn, tủi nhục cho thân phận của mình:

+ Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn khép kín, quanh đi quẩn lại hết “mây sớm” lại “đèn khuya” Thời gian cứ thế trôi đi, rồi lặp lại, Kiều thấy tuyệt vọng với tâm trạng cô đơn, buồn tủi, hổ thẹn đến “bẽ bàng”.

+ Bốn chữ “như chia tấm lòng” diễn tả nỗi niềm chua xót, nỗi lòng tan nát của Kiều.

=> Bút pháp chấm phá đặc sắc, khung cảnh làm nền cho Kiều thổ lộ tâm tình Thiên nhiên rộng lớn mà con người nhỏ bé, đơn côi.

2 Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiêu ( 8 dòng thơ tt)

Chính trong hoàn cảnh cô đơn nơi đất khách quê người, tâm trạng của Kiêu chuyển

từ buồn sang nhớ Kiều nhớ người yêu, nhớ cha mẹ Nỗi nhớ ấy được Nguyễn Du miêu tả

xúc động bằng những lời độc thoại nội tâm của chính nhân vật.

- Trước hết, Kiều nhớ đến Kim Trọng bởi trong cơn gia biến, Kiều đã phải hi sinh mối tình đầu đẹp đẽ để cứu gia đình Vì thế trong lòng Kiều, Kim Trọng là người mất mát nhiều nhất, nỗi đau ấy cứ vò xé tâm can Kiều khiến Kiều luôn nghĩ đến Kim Trọng.

+ Nàng nhớ đến cảnh mình cùng Kim Trọng uống rượu thề nguyền dưới ánh trăng Chữ “tưởng” ở đây có thể xem là một nhãn tự Nguyễn Du không dùng chữ “nhớ” mà dùng

chữ “tưởng” “Tưởng” vừa là nhớ, vừa là hình dung, tưởng tượng ra người mình yêu.

+ Thúy Kiều như tưởng tượng thấy, ở nơi xa kia, người yêu cũng đang hướng về mình, đang ngày đêm đau đáu chờ tin nàng: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.

Trang 11

+ Rồi bất chợt, nàng liên tưởng đến thân phận “bên trời góc biển bơ vơ” của mình.

Kiều băn khoăn tự hỏi: “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” Câu thơ muốn nói tới tấm lòng

son của Kiều, tấm lòng nhớ thương Kim Trọng sẽ không bao giờ phai mờ, nguôi quên dù cho có gặp nhiều trắc trở trong đường đời Câu thơ còn gợi ra một cách hiểu nữa: Tấm lòng son trong trắng của Kiều bị những kẻ như Tú Bà, Mã Giám Sinh làm cho dập vùi, hoen ố, biết bao giờ mới gột rửa được?

=> Trong bi kịch tình yêu, Thúy Kiều có nỗi đau về nhân phẩm.

- Kiều cũng xót xa nghĩ đến cha mẹ:

+ Chữ “xót” diễn tả tấm lòng Kiều dành cho đấng sinh thành:

+ Nàng lo lắng xót xa nghĩ đến hình bóng tội nghiệp của cha mẹ, khi sáng sớm, lúc chiều hôm tựa cửa ngóng tin con, hay mong chờ con đến đỡ đần; lo lắng không biết giờ đây

ai là người chăm sóc cha mẹ khi thời tiết đổi thay Nàng xót xa khi cha mẹ ngày một thêm già yêu mà mình không được ở bên cạnh để phụng dưỡng.

+ Tác giả đã sử dụng các thành ngữ “rày trông mai chờ”, “quạt nồng ấp lạnh”,

“cách mấy nắng mưa” và các điển tích, điển cố “sân Lai, gốc Tử”để nói lên tâm trạng nhớ

thương, lo lắng và tấm lòng hiếu thảo của Kiều dành cho cha mẹ.

=> Ở đây, Nguyễn Du đã miêu tả khách quan tâm trạng của Thúy Kiều vượt qua những định kiến của tư tưởng phong kiến: đặt chữ tình trước chữ hiếu Trong cảnh ngộ khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng vẫn quên mình để nghĩ đến người yêu, nghĩ đến cha mẹ Chứng tỏ Kiều là con người thủy chung hiếu nghĩa, đáng trân trọng.

3 Tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiêu qua cách nhìn cảnh vật ( 8 dòng thơ cuối)

- Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại 4 lần tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp

khúc diễn tả nỗi buồn đang dâng lên lớp lớp trong lòng Kiều Cảnh vật thiên nhiên qua con mắt của Kiều gợi nỗi buồn da diết:

+ Cánh buồm thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện nơi cửa bể chiều hôm gợi hành trình lưu

lạc mờ mịt không biết đâu là bến bờ.

+ Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi thân phận nhỏ bé, mỏng manh,

lênh đênh trôi dạt trên dòng đời vô định không biết đi đâu về đâu.

+ Nội cỏ rầu rầu trải rộng nơi chân mây mặt đất gợi cuộc sống úa tàn, bi thương, vô

vọng kéo dài không biết đến bao giờ.

+ Hình ảnh “gió cuốn mặt duềnh” và âm thanh ầm ầm của tiếng sóng “kêu quanh ghế ngồi” gợi tâm trạng lo sợ hãi hùng như báo trước,chỉ ngay sau lúc này, dông bão của số

phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều.

=> Bằng nghệ thuật ẩn dụ, hệ thống câu hỏi tu từ, các từ láy “thấp thoáng”, “xa xa”, “man mác”,“rầu rầu”,”xanh xanh”,”ầm ầm”… góp phần làm nổi bật nỗi buồn

nhiêu bê trong tâm trạng Kiêu

Tác giả lấy ngoại cảnh để bộc lộ tâm cảnh Cảnh được miêu tả từ xa đến gần; màu sắc từ nhạt đến đậm; âm thanh từ tĩnh đến động; nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến cơn bão táp của nội tâm, cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiêu Toàn là hình ảnh vê sự vô định, mong manh, sự dạt trôi, bế tắc, sự chao đảo nghiêng đổ dữ dội Lúc này, Kiêu trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất, vì thế nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời ô nhục.

III TỔNG KẾT:

1 Nghệ thuật: Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đọan tả cảnh ngụ tình hay

nhất trong: Truyện Kiều Tác giả rất thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ độc thoại, độc

thoại nội tâm, điệp ngữ liên hoàn, đối xứng, hình ảnh ẩn dụ… để khắc hoạ nội tâm nhân vật.

Trang 12

2 Nội dung: Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung,

hiếu thảo của Kiều.

Bài 4: TRUYỆN LỤC VÂN TIÊN – Nguyễn Đình Chiểu )

1 Tác giả :

- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), tục gọi Đồ Chiểu, sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh ), quê cha ở Phong Điền -Thừa

Thiên Huế

- Ông đỗ tú tài ở Gia Định (1843) Đến năm 1849, ông ra Huế dự thi Hội, đang chờ

kì thi thì hay mẹ mất ở trong Nam, ông bỏ thi về chịu tang mẹ Trên đường về, thương khóc nhiều về mẹ rồi bị mù cả hai mắt và bị từ hôn.

- Sau đó mở trường dạy học và làm thuốc tại quê nhà.

- Năm 1858, Pháp đánh vào Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu chạy về Cần Giuộc – Long An.

Sau đó là về Ba Tri – Bến Tre Thực dân Pháp nhiều lần mua chuộc nhưng ông đều chối từ Đến năm 1888, ông mất tại Ba Tri (Bến tre).

- Quan niệm sáng tác: Dùng văn chương làm vũ khí chiến đấu Các tác phẩm của ông hầu hết viết bằng chữ Nôm.

=> Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương sống đầy nghị lực Là nhà thơ lớn của dân tộc, ông để lại cho đời nhiều tác phẩm văn chương có giá trị nhằm truyền bá đạo lý

và cổ vũ lòng yêu nước, ý chí chống giặc ngoại xâm.

2 Tác phẩm

a Tóm tắt tác phẩm: Truyện Lục vân Tiên gồm 2082 câu thơ lục bát, gồm 4 phần:

- Lục Vân Tiên đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga.

- Lục Vân Tiên gặp nạn được thần và dân cứu giúp.

- Kiều Nguyệt Nga gặp nạn vẫn chung thuỷ với Lục Vân Tiên.

- Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga đoàn tụ.

b Giá trị nội dung, nghệ thuật:

b.1 Nội dung:

- Truyền dạy đạo lý làm người Đề cao tư tưởng nhân nghĩa, tác phẩm có tính chất tự truyện, nhân vật Lục Vân Tiên chính là hình ảnh và ước mơ của tác giả: ca ngợi, đề cao đạo đức, nhân nghĩa.

- Xem trọng tình nghĩa con người với con người trong xã hội, tình cha con, nghĩa vợ chồng, bè bạn, yêu thương cưu mang, giúp đỡ bạn bè lúc hoạn nạn… Đề cao tinh thần nghĩa hiệp ( Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh, Vương Tử Trực, Ông Ngư…).

- Thể hiện khát vọng của nhân dân, hướng tới lẽ công bằng và những điều tốt đẹp trong cuộc đời Phê phán, lên án những kẻ bất nhân, phi nghĩa (Võ Công, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm).

b.2 Nghệ thuật: Thể loại truyện thơ Nôm lục bát Ngôn ngữ mộc mạc giản dị, mang tính

chất là truyện để kể nhiều hơn là để đọc, để xem Truyện có kết cấu ước lệ gần như đã thành khuôn mẫu Tác phẩm khắc hoạ thành công những phẩm chất đẹp đẽ của hai nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga

ĐOẠN TRÍCH LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA

(Trích truyện: Lục Vân Tiên)

I GIỚI THIỆU CHUNG

Đoạn trích thuộc phần đầu tác phẩm Trên đường đi thi, Lục Vân Tiên thấy dân khóc than bỏ chạy hỏi thăm mới biết bọn cướp đã hoành hành, bắt đi hai người con gái Thấy cảnh bất bình, Vân Tiên nổi giận liền ra tay dẹp bọn cướp cứu người bị nạn Hai người con

Trang 13

gái ấy là Kiều Nguyệt Nga và tì tất Kim Liên

II TÌM HIỂU VĂN BẢN

1 Nhân vật Lục Vân Tiên :

- Đây là nhân vật lý tưởng của tác phẩm được khắc họa qua một kiểu thức khuôn mẫu thường gặp trong truyện Nôm truyền thống Hình ảnh này cũng giống như hình ảnh Thạch Sanh đánh đại bàng cứu công chúa trong truyện cổ

- Hành động đánh giặc cướp cứu người của Lục Vân Tiên cho ta thấy tính cách của chàng Một chàng trai anh hùng, tài năng và giàu nghĩa khí.:

+ Chỉ một mình, lại không có vũ khí chàng đã dám bẻ gậy xông vào bọn cướp đông người giáo gươm đầy đủ Hình ảnh Lục Vân Tiên xông xáo tung hoành được nhả thơ miêu

tả thật đẹp sánh ngang với hình ảnh Triệu Tử Long – một dũng tướng thời Tam Quốc

+ Với võ nghệ cao cường, LVT đã đánh tan bọn cướp và diệt tên đầu đảng Phong

Lai Hành động của chàng còn tỏ rõ đức độ của người nghĩa hiệp : “Giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha” Không sợ nguy hiểm Vân Tiên sẵn sàng vì nghĩa trừ hại cho dân

- Đánh xong bọn cướp thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng Vân Tiên đã ân cần hỏi han, an ủi họ Hành động của chàng thật đàng hoàng, giữ lễ nghĩa, chính trực của một con người có văn hoá :

“ Khoan khoan ngồi đó chớ ra Nàng là phận gái ta là phận trai”.

+ Vân Tiên đã từ chối cái lạy trả ơn, từ chối lời mời đền đáp của Nguyệt Nga Câu trả

lời “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” và đặc biệt là câu nói của Vân Tiên:

“Nhớ câu kiến ngãi bất vi.

Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”

=> Người đáng quý: trọng nghĩa, khinh tài

2 Nhân vật Kiêu Nguyệt Nga:

- Người có học thức, cách nói năng của nàng dịu dàng, mực thước và chân thành:

“Trước xe quân tử tạm ngồi,

………

Xin theo cùng thiếp đền ân cho chàng”

- Là một cô gái rất mực đằm thắm ân tình, Nguyệt Nga nhớ ơn và mong muốn đền ơn người đã cứu giúp mình giữ được tiết hạnh:

“Lâm nguy chẳng kịp giải nguy.

Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi”

- Cuối cùng, nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với cuộc đời chàng trai nghĩa hiệp

III TỔNG KẾT

1 Nghệ thuật: Nhân vật được miêu tả chủ yếu qua hành động, cử chỉ, lời nói Ngôn ngữ

đối thoại kết hợp với những từ chỉ hoạt động mạnh mẽ.

2 Nội dung:

- Đoạn trích thể hiện khát vọng hành đạo cứu đời của Nguyễn Đình Chiểu Qua đoạn

trích này, tác giả còn khắc hoạ thành công hai nhân vật lý tưởng hóa: Lục Vân Tiên tài ba dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài; còn Kiều Nguyệt Nga hiều hậu, nết na, ân tình.

- Nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga chính là hai mặt của một cách sống: Một là, làm ơn không cần người khác đền ơn; Hai là chịu ơn thì phải nhớ ơn - đạo lý của người Việt Nam chúng ta, một lẽ sống cần được giữ gìn và phát huy.

Chủ đê: CÁC TÁC PHẨM TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

Bài 1: LÀNG – Kim Lân

Trang 14

A TÓM TẮT KIẾN THỨC CƠ BẢN:

1 Tác giả:

Kim Lân (1920- 2007) tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê Bắc Ninh ông là nhà văn

chuyên viết truyện ngắn và đã có sáng tác đăng báo từ trước cách mạng tháng Tám 1945 Vốn gắn bó và am hiểu sâu sắc cuộc sống ở nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông dân Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

2 Tác phẩm “Làng”

a Nội dung: Tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người

nông dân phải rời làng đi tản cư đã được thể hiện chân thực, sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai trong truyện Làng.

b Nghệ thuật: Tác giả đã thành công trong việc xây dựng tình huống truyện, trong

nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật.

3 Chủ đê: Lòng yêu nước của người nông dân.

B MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP:

Câu 1 Tóm tắt truyện ngắn Làng.

Gợi ý:

- Ông Hai là người một người nông dân yêu tha thiết yêu làng Chợ Dầu của mình.

- Do yêu cầu của ủy ban kháng chiến, ông Hai phải cùng gia đình tản cư Xa làng, ông nhớ làng da diết.

- Trong những ngày xa quê, ông luôn nhớ đến làng Dầu, luôn tìm hiểu tin tức về làng.

- Một hôm, ông nghe tin làng Chợ Dầu của ông làm Việt gian theo Tây Ông Hai vừa căm uất vừa tủi hổ Tin làng theo giặc trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên trong tâm trạng của ông Ông chỉ biết tâm sự cùng đứa con thơ

- Khi cùng đường, ông Hai nhất định không quay về làng vì theo ông “làng thì yêu

thật nhưng làng theo Tây thì phải thù.”

- Sau đó, ông được nghe tin cải chính về làng, làng chợ Dầu vẫn kiên cường đánh Pháp Ông hồ hởi khoe với mọi người tin này dù nhà ông bị Tây đốt cháy.

Câu 2 Thế nào là tình huống truyện? Cho biết Tình huống truyện trong truyện ngắn

“Làng”.

Gợi ý:

a Khái niệm tình huống truyện:

- Tình huống truyện là một hoàn cảnh có vấn đề xuất hiện trong tác phẩm Trong hoàn cảnh đó, nhân vật sẽ có hành động bộc lộ rõ nhất, điển hình nhất tính cách của mình.

Từ đó, chủ đề tác phẩm sẽ bộc lộ trọn vẹn.

b Tình huống truyện trong truyện ngắn “Làng”:

- Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc ( tình huống mấu chốt).

=> Đây là tình huống đối nghịch với tình cảm tự hào mãnh liệt về làng Chợ Dầu của ông Hai Khác với suy nghĩ về một làng quê “Tinh thần cách mạng lắm” của ông

=> Vai trò của tình huống: Tạo tâm lí, dẫn đến diễn biến cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt trong nhân vật, làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước ở ông Hai.

Xét về mặt hiện thực, chi tiết này rất hợp lí Xét về mặt nghệ thuật nó tạo nên một nút thắt cho câu chuyện; gây ra mâu thuẫn giằng xé tâm lí ông lão đáng thương và đáng trọng ấy; tạo ra điều kiện để thể hiện tâm trạng và phẩm chất, tính cách của nhân vật thêm chân thực và sâu sắc; góp phần giải quyết chủ đề tác phẩm: phản ánh và ca ngợi tình yêu làng, yêu nước chân thành, giản dị của người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp.Sự phát triển của câu chuyện sẽ bám theo cái tình huống oái oăm này.

Trang 15

Câu 3 Cảm nhân của em vê truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân.

Gợi ý

1 Mở bài:

- Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn, ông rất am hiểu và gắn bó sâu sắc

với nông thôn và người nông dân Một trong những tác phẩm tiêu biểu là truyện ngắn Làng,

được sáng tác trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

- Truyện ca ngợi tình yêu làng, yêu nước, tinh thần kháng chiến sôi nổi của người nông dân, thông qua nhân vật ông Hai.

2 Thân bài

a Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc Đó là tình yêu

quê hương đất nước Với người nông dân trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp thì tình yêu làng quê gắn liền với tình yêu nước và tinh thần cách mạng là một tình cảm vừa có tính truyền thống vừa có sự chuyển biến mới trong tình cảm.

b Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lí chung ấy trong sự thể hiện

sinh động và độc đáo qua nhân vật ông Hai Ở ông Hai, tình cảm chung đó mang rõ màu sắc riêng, in rõ cá tính riêng mà chỉ ông mới có.

b.1 Tình yêu làng quê là một phẩm chất có tính truyền thống đối với ông Hai.

- Ông Hai thường tự hào về làng Dầu của mình.

- Cái làng đó với người nông dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần.

b.2 Sau cách mạng Tháng tám, đi theo kháng chiến, ông đã có những chuyển biến

mới trong tình cảm.

- Được cách mạng giải phóng, ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương,

vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông Phải xa làng, ông nhớ quá cái không khí:

“đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá; rồi ông lo “cái chòi gác,… những đường hầm bí mật,…đã xong chưa?

- Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến, thích bình luận, náo nức trước tin

thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế, chỗ này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng cũng vậy, hôm nay dăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu thành đại, làm gì mà thằng Tây không bước sớm”.

b.2.1 Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc khi

nghe tin làng Dầu theo giặc.

- Khi mới nghe tin xấu đó, ông sững sờ, chưa tin Nhưng khi người ta kể rành rọt, không tin không được, ông xấu hổ lảng ra về Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi.

- Về đến nhà, nhìn thấy các con, càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta

rẻ rúng, hắt hủi” Ông giận những người ở lại làng, nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”, lại bắt ông

phải tin là họ đã phản nước hại dân.

- Ba bốn ngày, ông không dám ra ngoài Cái tin nhục nhã ấy choáng hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp Ông luôn hoảng hốt giật mình, không khí nặng nề bao trùm

cả nhà.

- Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá, vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu Nhưng tình yêu nước, lòng trung thành

với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù” Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt.

- Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ Thực chất đó là lời thanh

Trang 16

minh với cụ Hồ, với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này:

+ Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

+ Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”.

=> Qua đó, ta thấy rõ: Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc) Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là cụ Hồ được biểu lộ rất mộc mạc, chân thành Tình cảm đó sâu nặng, bền vững và vô cùng thiêng liêng: có bao giờ dám đơn sai Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai.

* Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ, ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu.

- Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà

hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường.

- Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông.

c Nhân vật ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm

lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân.

- Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng.

- Miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại.

- Ngôn ngữ của Ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động.

c Kết bài:

- Với nghệ thuật dựng truyện đặc sắc, truyện ngắn Làng của Kim Lân giúp người đọc

thấm thía tình yêu làng, yêu nước rất mộc mạc, chân thành mà vô cùng sâu nặng của người nông dân mà ông Hai trong truyện là một điển hình.

- Sự mở rộng và thống nhất giữa tình yêu quê hương và tình yêu nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của người nông dân, của quần chúng cách mạng trong văn học thời kháng chiến chống Pháp, truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những tác phẩm tiêu biểu đó.

Bài 2: LẶNG LẼ SA PA - Nguyễn Thành Long

A TÓM TẮT KIẾN THỨC CƠ BẢN:

2 Tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa”:

Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” là kết quả của chuyến đi lên Lào Cai trong mùa hè

năm 1970 của tác giả Truyện rút từ tập “Giữa trong xanh” in năm 1972.

Trang 17

Đến Sa Pa, bác lái xe dừng lại lấy nước và nhân tiện giới thiệu để ông họa sĩ già và

cô kỹ sư trẻ được gặp gỡ với anh thanh niên Cuộc gặp ấy diễn ra rất vui vẻ, cảm động Anh thanh niên hào hứng giới thiệu với khách về công việc hằng ngày của mình – những công việc âm thầm nhưng vô cùng có ích cho cuộc sống Họa sĩ già phát hiện ra phẩm chất đẹp

đẽ, cao quý của anh thanh niên nên đã phác họa một bức chân dung về anh nhưng anh từ chối Qua lời kể của anh, các vị khách còn được biết thêm về rất nhiều gương sáng trong lao động, sản xuất, đem hết nhiệt tình phục vụ sự nghiệp xây dựng và chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc.

Câu 2 Tình huống và tác dụng của tình huống truyện.

- Cốt truyện đơn giản với một tình huống độc đáo: đó là cuộc gặp gỡ tình cờ trong ba mươi phút giữa anh thanh niên với ông họa sĩ già và cô kỹ sư trẻ qua lời giới thiệu của bác lái xe.

- Cuộc gặp gỡ tình cờ, thuận lợi cho việc giới thiệu nhân vật chính là anh thanh niên, anh thanh niên được hiện ra qua cái nhìn và ấn tượng của các nhân vật khác.

Câu 3 Cảm nghĩ của em vê nhân vật anh thanh niên trong truyện “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long.

b Thân bài:

- Hoàn cảnh : sống và làm việc một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét, với công việc “đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày” Công việc đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác và có tinh thần trách nhiệm cao.

- Gian khổ nhất đối với anh là phải sống trong hoàn cảnh cô độc, một mình trên đỉnh

núi cao Điều ấy khiến anh trở thành một trong những người “cô độc nhất thế gian” và thèm người đến nỗi thỉnh thoảng phải ngăn cây chặn đường dừng xe khách qua núi để gặp người trò chuyện.

- Anh rất ý thức trách nhiệm với công việc và lòng yêu nghề Thấy được công việc lặng thầm của mình là có ích cho cuộc sống và cho mọi người.

- Yêu sách và rất ham đọc sách – những người thầy, người bạn tốt lúc nào cũng sẵn sàng bên anh.

Trang 18

- Anh không cảm thấy cô đơn vì biết tổ chức, sắp xếp cuộc sống khoa học, ngăn nắp, chủ động, ngoài công việc anh còn trồng hoa, nuôi gà, nhà cửa và nơi làm việc nhỏ nhắn, xinh xắn, gọn gàng và khá đẹp.

- Ở người thanh niên ấy còn có những nét tính cách và phẩm chất rất đáng quí: sự cởi

mở, chân thành, rất quí trọng tình cảm con người, khao khát gặp gỡ mọi người.

- Anh còn là người rất ân cần chu đáo, hiếu khách: Trao gói tam thất cho bác lái xe, tiếp đón nồng nhiệt, chân thành tự nhiên với ông học sĩ và cô kĩ sư, tặng hoa, tặng làn trứng cho hai vị khách quí…

- Anh còn là người rất khiêm tốn, thành thực Cảm thấy công việc và những lời giới thiệu nhiệt tình của bác lái xe về mình là chưa xứng đáng, đóng góp của mình chỉ là bình thường nhỏ bé so với bao nhiêu người khác Khi ông họa sĩ muốn kí họa chân dung, anh từ chối, e ngại và giới thiệu những người khác đáng vẽ hơn.

c Kết bài:

- Chỉ qua một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, qua cảm nhận của các nhân vật khác, chân dung tinh thần của người thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu đã hiện lên

rõ nét và đầy sức thuyết phục, với những phẩm chất đáng quý

Đó là một trong những con người lao động trẻ tuổi, làm công việc lặng lẽ mà vô cùng cần thiết, sống có ích cho nhân dân, đất nước – hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam thời kì miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ.

Câu 4 Cảm nhận của em vê truyện ngắn “Lặng lẽ SaPa” của Nguyễn Thành Long.

Gợi ý

a Mở bài:

- Giới thiệu chung về tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm

- Cảm nhận chung về truyện ngắn : Lặng lẽ Sa Pa.

b Thân bài:

- Truyện ngắn “Lặng lẽ SaPa” viết về những con người sống đẹp, có ích cho đời, có

lí tưởng ước mơ, niềm tin yêu vững bền vào nghề nghiệp, kiến thức, trình độ khoa học mà nhân vật anh thanh niên là hiện thân vẻ đẹp đó.

- Nhân vật anh thanh niên, ở tuổi đời hai mươi bảy tự nguyện rời nơi phồn hoa đô hội lên công tác ở đỉnh núi Yên Sơn cao 2600m Điều kiện làm việc vô cùng khắc nghiệt, vất vả nhưng bằng tình yêu nghề, yêu cuộc sống đã khiến anh quyết định gắn bó với công việc khí tượng kiêm vật lí địa cầu.

- Khó khăn nhất mà anh phải vượt qua chính là sự cô đơn lạnh lẽo đến mức “thèm người” và được bác lái xe gọi là “người cô độc nhất thế gian”.

- Không chỉ là người có học thức, có trình độ, anh còn có một tâm hồn trong sáng, yêu đời, yêu cuộc sống

- Có niềm vui đọc sách, trồng rau, trồng hoa, nuôi gà cải thiện cuộc sống, biết sắp xếp công việc, cuộc sống một cách ngăn nắp, chủ động.

- Ở anh thanh niên còn toát lên bản tính chân thành, khiêm tốn, cởi mở, hiếu khách, luôn biết sống vì mọi người.

- Qua lời kể của anh thanh niên, anh kĩ sư ở vườn rau Sa Pa hay anh cán bộ khoa học nghiên cứu, lập bản đồ sét… đều là những người sống thầm lặng, lao động cần mẫn, say mê quên mình vì công việc.

- Bác lái xe trong vai người dẫn truyện là điểm dừng cho mọi cuộc gặp gỡ Tạo nên

sự hấp dẫn, tò mò tìm hiểu của người đọc

- Ông họa sĩ là nhân vật hóa thân của nhà văn - người xem đây là một chuyến đi may mắn trong cuộc đời nghệ thuật của mình

- Cô kĩ sư đã phát hiện ra nhiều điều mới mẻ trong chuyến đi đầu đời giúp cô vững tin hơn trên bước đường mà cô đã chọn…

Trang 19

c Kết bài:

- Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống bất ngờ mà hợp lí, cách kể chuyện tự nhiên,

có sự kết hợp giữa các phương thức biểu đạt tự sự, trữ tình và bình luận…

- Nguyễn Thành Long đã góp một tiếng nói ca ngợi cuộc sống và tái hiện một cách đầy đủ những vẻ đẹp của con người mới Khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng cũng như niềm hạnh phúc của con người trong lao động có ích.

Bài 3: CHIẾC LƯỢC NGÀ - Nguyễn Quang Sáng

A TÓM TẮT KIẾN THỨC CƠ BẢN:

1 Tác giả:

- Nguyễn Quang Sáng (1932 – 2014), quê ở An Giang, là nhà văn quân đội trưởng thành qua hai cuốc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Ông chuyên viết về cuộc sống và con người Nam Bộ.

2 Tác phẩm:

a Nội dung:

Truyện đã diễn tả một cách cảm động về tình cha con thắm thiết, sâu nặng giữa ông Sáu và bé Thu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh Qua đó tác giả khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc, nó càng cao đẹp trong những cảnh ngộ éo le.

- Càng muốn gần con thì đứa bé càng lạnh lùng xa cách, không chịu nhận anh là ba.

Vì thấy anh khác xa, không giống với tấm ảnh chụp chung với má trước đây.

- Nhờ bà ngoại giải thích nguyên nhân ba nó có vết thẹo trên mặt như vậy là do bị giặc bắn, Thu mới hiểu và chịu nhận anh Sáu là ba ngay vào thời điểm anh Sáu phải lên đường.

- Ở nơi căn cứ, người cha dành hết tình cảm thương nhớ, yêu quý con vào việc làm chiếc lược ngà để tặng cho cô con gái bé bỏng.

- Nhưng sau đó, anh Sáu đã hi sinh trong một trận càn của giặc Trước lúc anh nhắm mắt, anh còn kịp gửi chiếc lượt cho người bạn là bác Ba và nhờ bác ba trao cho con gái của mình Sau này, lúc nhận được món quà của ba mình thì bé Thu đã trở thành một cô giao liên dũng cảm

Câu 2 Tình huống và ý nghĩa của tình huống truyện

Gợi ý:

Truyện có 2 tình huống thể hiện sâu sắc tình cảm cha con ông Sáu:

- Tình huống 1: Cuộc gặp gỡ của hai cha con sau 8 năm xa cách, Bé Thu không

nhận anh sáu là cha, đến khi nhận ra thì cha phải trở về đơn vị.

=> Bộc lộ tình cảm mãnh liệt của Thu dành cho cha.

Trang 20

- Tình huống 2: Ở khu căn cứ, người cha dồn hết tình thương vào việc làm chiếc

lược để tặng con Nhưng chưa kịp trao cho con thì cha đã hy sinh Trước khi mất, ông chỉ kịp gửi cho đồng đội chiếc lược nhờ chuyển cho con gái.

=> Bộc lộ tình cảm sâu sắc của cha dành cho con.

Tình huống đầy kịch tính, chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ Đó là những tình huống ngẫu nhiên nhưng lại rất phổ biến và đầy éo le mà chúng ta thường gặp trong chiến tranh Đặt các nhân vật của mình vào các tình huống ấy, nhà văn muốn khẳng định và ngợi ca: tình cha con thiêng liêng, sâu nặng như một giá trị nhân bản sâu sắc.

Câu 3 Phát biểu cảm nghĩ của em vê nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà’’ của Nguyễn Quang Sáng.

Gợi ý:

a Mở bài:

Bằng tài năng miêu tả tâm lý nhân vật rất tinh tế trong đoạn trích: Chiếc lược ngà,

Nguyễn Quang Sáng rất thành công trong việc xây dựng nhân vật bé Thu, nhân vật chính của truyện, một cô bé hồn nhiên ngây thơ, có cá tính bướng bỉnh nhưng yêu thương ba sâu sắc.

b Thân bài:

* Khái quát được cảnh ngộ của gia đình bé Thu: đất nước có chiến tranh, cha đi

công tác khi Thu chưa đầy một tuổi, lớn lên em chưa một lần được gặp ba, tình yêu Thu dành cho ba chỉ gửi trong tấm ảnh ba chụp chung cùng với má.

* Diễn biến tâm lý của bé Thu trước khi nhận ra anh Sáu là ba:

- Ngày đầu tiên trong chuyến về phép, trước những hành động vội vã, thái độ xúc động, nôn nóng của anh Sáu, Thu ngạc nhiên, lạ lùng, sợ hãi và bỏ chạy… Bởi trong suy nghĩ của Thu anh Sáu là người đàn ông lạ, lại có vết thẹo trên mặt không giống với ba – người trong ảnh.

- Trong hai ngày sau đó, Thu hoàn toàn lạnh lùng trước những cử chỉ đầy yêu thương

của ba Nó nhất định không chịu gọi anh Sáu là ba ( mẹ buộc phải mời ba vào ăn cơm; xử lí nồi cơm sôi, hay thái độ hất tung cái trứng cá trong bữa cơm… và khi bị đánh lại đã bỏ đi một cách bất cần )

=> Đó là phản ứng tâm lí hoàn toàn tự nhiên của một đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ… Hành động tưởng như vô lễ đáng trách của Thu lại hoàn toàn không đáng trách mà còn đáng thương, bởi em còn quá nhỏ chưa hiểu được những tình thế khắc nghiệt éo le của đời sống Đằng sau những hành động ấy ẩn chứa cả tình yêu thương ba,sự kiêu hãnh của trẻ thơ về một tình yêu nguyên vẹn trong sáng mà Thu dành cho người ba trong tấm ảnh

* Diễn biến tâm lý của Thu khi nhận ba:

- Sự thay đổi thái độ đến khó hiểu của Thu, không ương bướng mà buồn rầu nghĩ ngợi sâu xa, ánh mắt cử chỉ hành động của bé Thu như thể hiện sự ân hận, sự nuối tiếc, muốn nhận ba nhưng e ngại vì đã làm ba giận.

- Tình yêu thương ba được bộc lộ hối hả mãnh liệt khi anh Sáu nói “Thôi ba đi nghe

con” Tình yêu ấy kết đọng trong âm vang tiếng Ba , trong những hành động vội vã: Chạy

nhanh như con sóc, nhảy thót lên, hôn ba nó cùng khắp,…Đó là cuộc hội ngộ chia tay đầy

xúc động, thiêng liêng đã tác động sâu sắc đến bác Ba, mọi người …

- Sự lý giải nguyên nhân việc hiểu lầm của bé Thu đựợc tác giả thể hiện thật khéo léo

đó là do vết thẹo trên mặt người ba; khi hiểu ra sự thực Thu “nằm im lăn lộn thở dài như người lớn” Vết thẹo không chỉ gây ra nỗi đau về thể xác mà còn hằn nên nỗi đau về tinh

thần, gây ra sự xa cách hiểu lầm của bé Thu Nhưng dù chiến tranh có tàn khốc bao nhiêu thì tình cảm cha con anh Sáu càng trở lên thiêng liêng sâu nặng

* Khẳng định lại vấn đê:

Trang 21

- Ngòi bút miêu tả tâm lý, khắc hoạ tính cách nhân vật tinh tế thể hiện được ở bé Thu một cô bé hồn nhiên ngây thơ, mạnh mẽ cứng cỏi yêu ghét rạch ròi Trong sự đối lập của hành động thái độ trước và sau khi nhân ba lại là sự nhất quán về tính cách về tình yêu thương ba sâu sắc.

- Những năm tháng sống gắn bó với mảnh đất Nam Bộ, trái tim nhạy cảm, nhân hậu,

am hiểu tâm lý của trẻ thơ đã giúp tác giả xây dựng thành công nhân vật bé Thu.

* Phát biểu suy nghĩ của cá nhân: về đời sống tình cảm gia đình trong chiến

tranh , trân trọng tình cảm gia đình trong cuộc sống hôm nay

c Kết bài: ( Khẳng định lại nghệ thuật xây dựng nhân vật và đánh giá chung về nhân vật) Câu 4 Cảm nhận của em vê truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.

Gợi ý:

a Mở bài:

- Nguyễn Quang Sáng là nhà văn trưởng thành trong quân ngũ từ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Ông chuyên viết về cuộc sống chiến đấu và con người Nam Bộ.

- Truyện “Chiếc lược ngà” sáng tác năm 1966 tại chiến trường miền Tây Nam bộ, kể

về tình cha con của anh Sáu và bé Thu vô cùng cảm động.

b Thân bài:

b.1 Tình cảm của bé Thu đối với cha ( xem lại nội dung phần thân bài ở câu 3) b.2 Tình cảm của anh Sáu dành cho con - người cha thương yêu con vô cùng:

* Tình cảm anh Sáu dành cho con trong chuyến vê phép:

- Anh háo hức, chờ đợi giây phút được gặp con và khao khát được nghe tiếng gọi

“ba” của đứa con

- Cái tình cha con cứ nôn nao trong con người anh Xuồng chưa cập bến, anh nhún chân nhảy thót lên và bước vội vàng những bước dài, vừa bước vừa khom lưng đưa tay đón chờ con.

- Anh mong được nghe một tiếng gọi “ba” của con bé, con bé chẳng bao giờ chịu gọi.

- Tìm đủ mọi cách để gần gũi con: Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ

về con Anh ngồi im giả vờ không nghe, chờ nó gọi “ Ba vô ăn cơm” Trong bữa cơm, anh

gắp trứng cá cho con

- Hụt hẫng, đau khổ khi con không nhận mình là cha: Anh không ghìm nổi xúc động, vết thẹo dài bên má đỏ ửng, giần giật, giọng lặp bặp, run run; Ba đây con Anh đứng sững, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại, hai tay buông xuống như bị gãy Anh quay lại nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu cười Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được nên phải cười vậy thôi.

- Vì quá thương con nên anh bực mình trước sự phản ứng thái quá của bé Thu: Giận

qua không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh vào mông con bé và hét lên: Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?

- Hạnh phúc tột cùng khi con nhận ra anh là “ba”, gọi ba trong tiếng thét; anh ôm con

“rút khăn lau nước mắt rồi hồn lên mái tóc con”

* Tình cảm anh Sáu với con được thể hiện khi trở vê đơn vị (sau chuyến vê phép)

- Ân hận, day dứt vì hành động đánh con lúc nóng giận; nhớ lời con dặn, anh tìm ngà

và làm chiếc lược cho con Anh còn khắc lên chiếc lược dòng chữ” Yêu nhớ tặng Thu, con của ba” dòng chữ chứa bao nhiêu tình cảm sâu nặng của người cha.

- Trong một trận càng của giặc, anh bị thương Trước lúc hy sinh, ông nhờ bạn mình chuyển cây lược đến cho bé Thu

=> Chiếc lược là biểu tượng của tình phụ tử, là chiếc lược yêu thương.

b.3 Ông sáu là người sống có lý tưởng:

Trang 22

Là người chiến sĩ cách mạng giàu lòng yêu nước, dũng cảm kiên cường, cống hiến,

hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng

c Kết bài:

* Vê nghệ thuật:

- Cốt truyện chặt chẽ, có những tình huống bất ngờ nhưng hợp lý

- Khắc hoạ tâm lý, tính cách nhân vật rất thành công.

- Lựa chọn nhân vật kể chuyện thích hợp; chủ động xen vào những ý kiến bình luận

suy nghĩ để dẫn dắt sự tiếp nhận của người đọc, người nghe ( Ông Ba vừa là người chứng kiến câu chuyện, vừa là người trực tiếp tham gia vào câu chuyện Lời kể vừa khách quan, vừa bộc lộ sâu sắc cảm xúc ý nghĩ của nhân vật, làm cho câu chuyện trở nên đáng tin cậy Người kể lại chủ động điều khiển nhịp kể theo trạng thái cảm xúc của mình).

- Sử dụng hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng: “Chiếc lược ngà” có ý nghĩa nối kết các

nhân vật trong tác phẩm, vừa là biểu hiện cụ thể của tình cảm người cha dành cho con – vừa

là biểu tượng tình cha con sâu nặng.

* Vê nội dung:

- Truyện diễn tả một cách cảm động tình cảm của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh

éo le của chiến tranh, qua đó tác giả khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con thiêng liêng như một giá trị nhân văn sâu sắc

- Đằng sau câu chuyện được kể một cách khách quan là tiếng nói lên án chiến tranh xâm lược gây bao đau khổ cho con người.

Bài 4: NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI - Lê Minh Khuê

A TÓM TẮT KIẾN THỨC CƠ BẢN:

- Sau năm 1975, tác phẩm của nhà văn bám sát những chuyển biến của đời sống xã hội và con người với tinh thần đổi mới mạnh mẽ, tâm lí tinh tế, sắc sảo, đặc biệt là tâm lí nhân vật phụ nữ.

2 Tác phẩm:

- Truyện " Những ngôi sao xa xôi" là tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, viết năm

1971, lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt

- Truyện được trần thuật qua lời nhân vật nữ Phương Định, một cô gái thanh niên xung phong trẻ, nhiều mơ mộng, có tâm hồn nhạy cảm và trong sáng.

a Nội dung:

Truyện “Những ngôi sao xa xôi” đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, mộng mơ, tinh

thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn Đó là hình ảnh đẹp, tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ

Trang 23

Câu 1 Tóm tắt truyện "Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê bằng đoạn văn.

Gợi ý:

- Truyện kể về ba cô gái TNXP là Thao, Phương Định và Nho; cả ba người làm thành một tổ trinh sát mặt đường Họ sống trong một cái hang, dưới chân cao điểm, tại một vùng trọng điểm nơi tuyến Trường Sơn trong những năm chống Mỹ

- Nhiệm vụ của họ là quan sát địch ném bom, đo khối lượng đất đá phải san lấp hố bom, đánh dấu vị trí các trái bom chưa nổ và phá bom.

- Cuộc sống chiến đấu của họ đầy gian khổ, hiểm nguy nhưng họ vẫn giữ được những nét tính cách và phẩm chất đáng yêu của tuổi trẻ: mơ mộng, hồn nhiên, yêu đời, gan

dạ, dũng cảm, rất yêu thương nhau trong tình đồng đội mặc dù ở mỗi người cũng có tính cách riêng.

Câu 2 Giải thích ý nghĩa nhan đê của tác phẩm " Những ngôi sao xa xôi".

Gợi ý:

- Những ngôi sao xa xôi là một nhan đề rất lãng mạn, rất đặc trưng của văn học thời

kháng chiến chống Mĩ

- Nhan đề những ngôi sao xa xôi xuất phát từ ánh mắt, từ cái nhìn xa xăm của

Phương Định mà các anh lính láy lái xe Trường Sơn đã nhận xét

- Ba cô gái trẻ trong truyện: Phương Định, Nho hay Thao đều là những "ngôi sao xa xôi” với những phẩm chất sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

- Bằng khả năng sáng tạo và nhờ có những ngày tháng từng lăn lộn với chiến trường

mà " Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê đã có một chỗ đứng vững vàng, luôn hấp

- Lê Minh Khuê là cây bút nữ chuyên về truyện ngắn với ngòi bút miêu tả tâm lí tinh

tế, sâu sắc đặc biệt là khi viết về phụ nữ Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, truyện của Lê Minh Khuê thường viết về cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ ở tuyến đường Trường Sơn.

- " Những ngôi sao xa xôi" là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện vẻ đẹp tính cách và tâm hồn của các nhân vật nữ thanh niên xung phong thời chống Mỹ.

- Họ sống trong một cái hang dưới chân cao điểm, tại một vùng trọng điểm nơi tuyến

đường Trường Sơn – nơi tập trung nhiều bom đạn, nguy hiểm, ác liệt ( đường bị đánh lở loét màu đất đỏ trắng lẫn lộn; hai bên đường không có lá xanh; những thân cây bị tước khô cháy; một vài thùng xăng ô tô méo mó han gỉ).

- Công việc: mạo hiểm thường xuyên đối diện với thần chết Đòi hỏi sự dũng cảm, gan

dạ và hết sức bình tĩnh ( chạy trên cao điểm cả ban ngày; quan sát địch ném bom; đánh dấu những quả bom chưa nổ, phá bom;…)

- Tính cách, tâm hồn: Có trách nhiệm cao với nhiệm vụ; dũng cảm; tinh thần đồng đội gắn bó Họ là những cô gái trẻ, dễ xúc cảm, hay mơ mộng; dễ vui và cũng dễ trầm tư; thích làm đẹp cho cuộc sống của mình ngay trong hoàn cảnh của chiến trường

Trang 24

( Nho thích thêu thùa; Chị Thao chăm chép bài hát; Phương Định thích ngắm mình trong gương, ngồi bó gối mơ mộng rồi hát )

b.2 Họ cũng có những nét cá tính riêng.

* Nhân vật Phương Định:

- Đây là cô gái Hà Nội trẻ trung yêu đời Phương Định thích ngắm mình trong

gương, là người có ý thức về nhan sắc của mình: Cô có hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn Đôi mắt màu nâu, dài dài, hay nheo nheo như chói nắng

- Phương Định là nhân vật kể chuyện xưng tôi đầy nữ tính.Cô đẹp nhưng không kiêu căng mà có sự thông cảm, hoà nhập Cô thích hát dân ca quan họ Bắc Ninh, dân ca ý, đặc biệt hát bài Ca Chiu Sa Cô có tài bịa lời cho những bài hát Những bài hát về cuộc đời, về tình yêu và sự sống cất lên giữa cuộc chiến tranh ác liệt, tôn thêm vẻ đẹp của những cô thanh niên xung phong giúp họ có niềm tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc.

- Phương Định là cô gái dũng cảm Hành động phá bom của cô cùng đồng đội đã góp phần thông mạch giao thông Cảnh phá bom vừa hồi hộp, vừa căng thẳng, cho người đọc hình dung cuộc chiến tranh tàn khốc như thế nào nhưng cô vẫn bình tĩnh Vì một ngày ít nhất các cô phải phá bom ba lần, đó là chuyện thường tình Có lúc Phương Định nghĩ đến cái "chết" nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể Còn cái chính liệu mìn có nổ, bom có

nổ không?

- Phương Định là cô gái dễ thương, hay xúc động Khi chứng kiến cảnh trận mưa đá

cô nhớ về Hà Nội, nhớ mẹ, nhớ cái cửa sổ, nhớ những ngôi sao, nhớ quảng trường lung linh Những hoài niệm; kí ức dội lên sâu thẳm càng chứng tỏ sự nhạy cảm trong tâm hồn

cô gái Hà Nội mơ mộng, lãng mạn, thật đáng yêu.

* Nhân vật Thao:

Đây là cô gái lớn tuổi nhất trong nhóm, là đội trưởng tổ trinh sát mặt đường ở chị có những nét dễ ấn tượng Chị cũng tỉa tót lông mày nhỏ như cái tăm, cương quyết, mạnh mẽ, táo bạo Chị không sợ bom đạn, chỉ đạo công việc dứt khoát nhưng lại rất sợ máu và con vắt.

- Chị yêu thương đồng đội, đúng vai trò của người chị cả Khi Nho bị thương, chị rất

lo lắng, săn sóc tận tình từng hớp nước, cốc sữa Tình đồng đội sưởi ấm tâm hồn những cô gái lúc khó khăn nhất.

- Sở thích của chị Thao là chép bài hát và cũng thích hát, dù hát sai lời, sai nhạc Nhưng tiếng hát yêu đời, cất lên từ cuộc chiến tranh là thể hiện bản lĩnh, sức mạnh, niềm tin vào lí tưởng của thanh niên thời đại những năm chống Mĩ.

* Nhân vật Nho:

Nho xuất hiện trong thời điểm quan trọng của câu chuyện Đó là lúc phá bom, khi

ranh giới của sự sống và cái chết gần kề gang tấc Nho nhỏ nhẹ, dịu dàng, duyên dáng " Trông nó nhẹ mát mẻ như một que kem trắng" nhưng hết sức gan dạ, dũng cảm

* Đánh giá:

- Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê đã làm sống lại trong lòng người đọc

hình ảnh tuyệt đẹp về những chiến công phi thường của tổ trinh sát mặt đường, của Nho, Định, Thao, cũng là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trong thời đánh Mĩ Chiến công thầm lặng của Phương Định và đồng đội là bài ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

- Đọc "Những ngôi sao xa xôi" ta như được sống lại những năm tháng hào hùng của

đất nước Những Phương Định, Thao, Nho gần xa vẫn toả sáng tâm hồn ta với bao ngưỡng

mộ, mến yêu.

c Kết luận

- Sử dụng vai kể là nhân vật chính; cách kể chuyện tự nhiên, ngôn ngữ sinh động trẻ trung; nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc tinh tế, sắc sảo

Trang 25

- Vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, sự hồn nhiên và tính cách dũng cảm, lạc quan của các nhân vật nữ thanh niên xung phong chính là vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nam ở mọi thời đại.

Chủ đê: CÁC TÁC PHẨM THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

Bài 1: ĐỒNG CHÍ – Chính Hữu

I Tìm hiểu chung:

1 Tác giả

- Chính Hữu - nhà thơ quân đội, là chiến sĩ trung đoàn thủ đô.

- Đề tài viết chủ yếu về người chiến sĩ.

2 Tác phẩm

- Tác giả viết bài thơ Đồng chí vào đầu năm 1948, sau chiến dịch Việt Bắc thu - đông

1947 Bài thơ được nhạc sĩ Minh Quốc phổ nhạc

II Tìm hiểu bài thơ:

1 Khổ thơ 1: Cơ sở hình thành tình đồng chí.

Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày trên sỏi đá

- Giới thiệu như một lời trò chuyện tâm tình.

- Thành ngữ “nước mặn đồng chua” gợi tả địa phương, vùng miền.

- “Đất cày trên sỏi đá” gợi tả cái đói, cái nghèo như có từ trong lòng đất, làn nước.

- Anh bộ đội Cụ Hồ là những người xuất thân từ nông dân (cơ sở của tình đồng chí đồng đội) Các anh từ khắp mọi miền quê nghèo của đất nước, từ miền núi, trung du, đồng bằng, miền biển, họ là những người nông dân mặc áo lính.

- Họ chung mục đích, chung lý tưởng cao đẹp.

- Tình đồng chí đồng đội nảy nở và trở nên bền chặt trong sự chan hoà chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, đó là tình cảm tri kỷ của những người bạn, những người đồng chí.

- Đồng chí! Câu đặc biệt chỉ có 2 tiếng như khép lại tình yêu đặc biệt cả khổ thơ 1…

nó như dồn nén, chất chứa, bật ra thật thân thiết và thiêng liêng như tiếng gọi tha thiết của đồng đội, ấm áp và xúc động là cao trào của mọi cảm xúc, mở ra những gì chứa đựng ở những câu sau.

2 Muời câu thơ tiếp: Biểu hiện của tình đồng chí đồng đội:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

- Những hình ảnh gần gũi thân quen gắn bó thân thiết với người dân, đối với người nông dân thì ruộng nương, mái nhà là những gì quý giá nhất gắn bó máu thịt nhất với họ, họ không dễ gì từ bỏ được.

-“Mặc kệ” vốn là từ chỉ thái độ vô trách nhiệm, trong bài thơ từ “mặc kệ” lại mang

một ý nghĩa hoàn toàn khác - chỉ thái độ ra đi một cách dứt khoát, không vướng bận khi mang dáng dấp của một kẻ trượng phu, cũng là sự thể hiện một sự hy sinh lớn, một trách nhiệm lớn với non sông đất nước.

- “Giếng nước, gốc đa” là hình ảnh nhân hoá, hoán dụ, chỉ quê hương, người thân

nhớ về các anh, nỗi nhớ của người hậu phương.

Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người……chân không giày.

- Bút pháp miêu tả hết sức chân thực, mộc mạc, giản dị, câu thơ như dựng lại một thời kỳ lịch sử gian khổ khốc liệt nhất của chiến tranh những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

- Chia sẻ cuộc sống khó khăn gian khổ nơi chiến trường bằng tình cảm yêu thương

gắn bó : “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Trang 26

- Hình ảnh rất thực, rất đời thường, mộc mạc, giản dị chứa đựng bao điều: Sự chân thành cảm thông ; hơi ấm đồng đội ; lời thề quyết tâm chiến đấu, chiến thắng ; sự chia sẻ, lặng lẽ, lắng sâu…

3 Ba câu cuối: Biểu tượng của tình đồng chí đồng đội :

– Câu thơ cuối là một hình ảnh đẹp được nhận ra từ những đêm hành quân phục kích giặc của chính người lính

- Đêm khuya, vầng trăng như treo trên đầu mũi súng của người chiến sĩ đang phục kích chờ giặc Rõ ràng, tình cảm đồng chí ấm áp, thiêng liêng đã mang đến cho người lính

nét lãng mạn, cảm hứng thi sĩ trong hiện thực đầy khắc nghiệt qua hình ảnh “Đầu súng trăng treo”.

- Bốn chữ “Đầu súng trăng treo”chia làm hai vế làm nhịp thơ đột ngột thay đổi, dồn

nén, như nhịp lắc của một cái gì đó chông chênh, trong bát ngát…gây sự chú ý cho người đọc Từ “treo” đã tạo nên một mối quan hệ bất ngờ độc đáo, nối hai sự vật ở cách xa nhau – mặt đất và bầu trời, gợi những liên tưởng thú vị, bất ngờ

- “Súng” là biểu tượng của chiến đấu, “trăng” là biểu tượng của cái đẹp, cho niềm vui lạc quan, cho sự bình yên của cuộc sống Súng và trăng là hư và thực, là chiến sĩ và thi sĩ, là

“một cặp đồng chí” tô đậm vẻ đẹp của những cặp đồng chí đang đứng cạnh bên nhau Chính tình đồng chí đã làm cho người chiến sĩ cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp, vẫn thơ mộng, tạo cho

họ sức mạnh chiến đấu và chiến thắng.

III Tổng kết

1 Vê nghệ thuật: Từ ngữ, hình ảnh chân thực, gợi tả, cô đọng, hàm xúc, giàu sức khái quát,

có ý nghĩa sâu sắc.

2 Vê nội dung: Bài thơ ca ngợi tình đồng chí đồng đội keo sơn gắn bó, ấm áp của các anh

bộ đội Cụ Hồ trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Bài 2 : BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

- Bài thơ được viết năm 1969, in trong tập thơ “Vầng trăng quầng lửa”.

- Nhan đề: nói về những chiếc xe không kính để ca ngợi những người chiến sĩ lái xe vận tải Trường Sơn, kiên cường, dũng cảm, sôi nổi trẻ trung trong những năm chiến tranh chống Mỹ.

- Thu hút người đọc ở vẻ khác lạ độc đáo Đó là chất thơ của hiện thực chiến tranh.

II Tìm hiểu bài thơ

1 Hình ảnh những chiếc xe không kính:

Xe không kính bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi.

- Động từ mạnh, cách tả thực rất gần gũi với văn xuôi, có giọng thản nhiên pha một chút ngang tàn, khơi dậy không khí dữ dội của chiến tranh.

Không có kính không đèn.

Không có mui thùng xe có xước.

- Liên tiếp một loạt các từ phủ định diễn tả độc đáo chân thực những chiếc xe trên đường

ra trận; khơi gợi sự khốc liệt của chiến tranh trong những năm chống Mỹ cam go khốc liệt.

Dù trải qua muôn vàn gian khổ, những chiếc xe ấy vẫn băng băng ra chiến trường.

2 Hình ảnh người chiến sĩ lái xe:

Trang 27

- Tác giả để cho những người chiến sĩ lái xe xuất hiện trong hoàn cảnh đặc biệt Họ vẫn

ở tư thế ung dung, hiên ngang, oai hùng mặc dù trải qua muôn vàn thiếu thốn, gian khổ:

+ Ung dung, nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

+ Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng; con đường chạy vào tim; sao trời đột ngột cánh chim

- Đó là cái nhìn đâm chất lãng mạn, chỉ có ở những con người can đảm, vượt lên trên những thử thách khốc liệt của cuộc sống chiến trường.

- Điệp từ, nhịp thơ dồn dập, giọng khoẻ khoắn, tràn đầy niềm vui.

- Nhà thơ cảm nhận được tốc độ đang lao nhanh của chiếc xe: “Gió vào xoa mắt đắng”,

“Con đường chạy thẳng vào tim”: cả thiên nhiên vũ trụ như ùa vào buồng lái.

- Thể hiện tinh thần dũng cảm, lạc quan, sôi nổi, vui tươi; sẵn sàng vượt qua mọi khó

khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ: Bụi phun, mưa tuôn, mưa xối,gió xoa mắt đắng, người lính vẫn cười ngạo nghễ (cười ha ha):

=> Đó là những con người có tính cách tươi trẻ, vui nhôn, luôn yêu đời Tinh thần lạc quan và tình yêu cuộc sống giúp họ vượt qua những gian lao thử thách:

“Những chiếc xe từ trong bom rơi… bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”

- Người đọc lần đẩu tiên bắt gặp trong thơ những hình ảnh thật lãng mạn, hào hùng: những người lính bắt tay qua cửa kính vỡ Cái bắt tay thay cho mọi lời chào hỏi, lời hứa quyết tâm, ra trận, lời thề quyết chiến thắng, truyền sức mạnh cho nhau vượt qua gian khổ.

- Tình đồng chí, đồng đội keo sơn, gắn bó: Bếp Hoàng Cầm dựng giữa trời; chung bát đũa võng mắc chông chênh

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước.

Chỉ cần trong xe có một trái tim

- Cách kết thúc bài thơ rất bất ngờ nhưng cũng rất giàu sức thể hiện: mặc cho bom rơi, đạn nổ, mặc cho gió, mưa quất thẳng vào buồng lái, mặc cho muôn vàn thiếu thốn, hiểm

nguy, những chiếc xe vẫn chạy, “chỉ cần trong xe có một trái tim” Đó là trái tim yêu nước,

mang lý tưởng khát vọng cao đẹp, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

III Tổng kết

1 Vê nghệ thuật: Nhiều chất hiện thực, nhiều câu văn xuôi tạo sự phóng khoáng, ngang

tàng, nhịp thơ sôi nổi trẻ trung tràn đầy sức sống.

2 Vê nội dung: Hình ảnh người chiến sĩ lái xe hiên ngang dũng cảm, lạc quan, bất chấp

mọi khó khăn gian khổ, chiến đấu vì miền Nam, vì sự nghiệp thống nhất đất nước.

Bài 3: ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ

( Huy Cận)

I Tìm hiểu chung:

1 Tác giả: Cù Huy Cận là nhà thơ lớn của phong trào thơ mới

2 Tác phẩm:

- Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá (1958), in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng”.

- Bài thơ ca ngợi thiên nhiên, vũ trụ và con người lao động.

II Tìm hiểu bài thơ:

1 Cảnh ra khơi:

- Khung cảnh hoàng hôn trên biển vừa diễm lệ vừa hùng vĩ đầy sức sống.

Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa

- Nghệ thuật so sánh nhân hoá: vũ trụ như một căn nhà khổng lồ bước vào trạng thái nghỉ ngơi.

- Có sự đối lập giữa vũ trụ và con người: Vũ trụ nghỉ ngơi >< con người lao động.

Sóng cài then đêm sập cửa… lại ra khơi (vần trắc thanh trắc>< vần bằng thanh bằng)

Trang 28

- Khí thế của những con người ra khơi đánh cá mạnh mẽ tươi vui, lạc quan, yêu lao động Diễn tả niềm vui yêu đời, yêu lao động, yêu cuộc sống tự do, tiếng hát của những con người làm chủ quê hương giàu đẹp

- Thuyền lái gió… dò bụng biển…dàn đan thế trận.

- Gõ thuyền có nhịp trăng cao, kéo xoăn tay… chùm cá nặng.

- Cảnh lao động với khí thế sôi nổi, hào hứng, khẩn trương, hăng say Tinh thần sảng khoái ung dung, lạc qua, yêu biển, yêu lao động Âm hưởng của tiếng hát là âm hưởng chủ đạo, niều yêu say mê cuộc sống, yêu biển, yêu quê hương, yêu lao động.

- Nhịp điệu khoẻ, đa dạng, cách gieo vần biến hoá, sự tưởng tượng phóng phú, bút pháp lãng mạn.

3 Cảnh trở vê (khổ cuối)

- Cảnh kỳ vĩ, hào hùng, khắc hoạ đậm nét vẻ đẹp khoẻ mạnh và thành quả lao động của người dân miền biển:

+ Câu hát căng buồm

+ Đoàn thuyền chạy đua

+ Mặt trời đội biển

+ Mắt cá huy hoàng…

- Ra đi hoàng hôn, vũ trụ vào trạng thái nghỉ ngơi.

- Sau một đêm lao động miệt mài, họ trở về trong cảnh bình minh, mặt trời bừng sáng nhô màu mới, hình ảnh mặt trời cuối bài thơ là hình ảnh mặt trời rực rỡ với muôn triệu mặt trời nhỏ lấp lánh trên thuyền: Một cảnh tượng huy hoàng của thiên nhiên và lao động.

III Tổng kết.

1 Vê nghệ thuật:

Nghệ thuật: bài thơ được viết trong không khí phơi phới, phấn khởi của những con người lao động với bút pháp lãng mạn, khí thế tưng bừng của cuộc sống mới tạo cho bài thơ một vẻ đẹp hoành tráng mơ mộng.

2 Vê nội dung:

Ca ngợi sự giàu đẹp của biển, sự giàu đẹp trong tâm hồn của những người lao động mới, phơi phới tin yêu cuộc sống mới, ngày đêm chạy đua với thời gian để cống hiến, để xây dựng, họ là những con người mới đáng yêu.

Bài 4: BẾP LỬA

( Bằng Việt)

I Tìm hiểu chung:

1 Tác giả:

- Bằng Việt: tên thật là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê ở Thạch Thất - Hà Tây.

- Thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ

2 Tác phẩm:

- Bài thở Bếp lửa được viết năm 1963, khi tác giả là sinh viên đang học ở Liên Xô.

- Qua dòng hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu về người bà kính yêu, đồng thời cũng thể hiện lòng biết ơn vô hạn tới bà, cũng như với quê hương, đất nước

II Tìm hiểu bài thơ:

Trang 29

1 Hình ảnh bếp lửa gắn với kỉ niệm vui buồn của tuổi thơ:

- Bài thơ bắt đầu từ hình ảnh "bếp lửa" gắn bó mật thiết với người bà tần tảo sớm

khuya

- "Bếp lửa" khơi dòng kỉ niệm, là chứng nhân tuổi thơ, là bước đệm giúp cháu vượt

qua cả chặng đường dài

- Đặc biệt ở từ "ấp iu" giúp ta liên tưởng đến bàn tay khéo léo và tấm lòng kiên trì

của người nhóm lửa

2 Những hồi tưởng vê thời gian được sống trong tình yêu thương, chăm chút của bà:

- Cuộc sống trong thời kì này cũng vô cùng cực khổ, bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945 với hơn hai triệu dân Việt Nam đã chết đói vì chính sách cai trị của bọn thực dân Pháp Tất cả những hình ảnh như: đói mòn đói mỏi, bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy, khói hun, đã làm cháu xúc động

- Tám năm trường kì, gian khổ cháu được ở cùng bà: bà đã ươm mầm tuổi thơ, bà không chỉ nhóm lửa cuộc sống , bà thay cha mẹ cháu để dạy cháu thành người Sao cháu có thể quên những năm tháng ấy Bà luôn quan tâm , chăm sóc từng bữa cơm giấc ngủ Ở bà còn hiện lên một tình yêu thương vô hạn đến đứa cháu bé bỏng của bà

- Không chỉ vậy mà bà có một sự dũng cảm, một nghị lực sống Khi kháng chiến đang ở những giai đoạn ác liệt nhất bà đã vượt qua, luôn là hậu phương vững chắc của các con đang ở chiến trường Có thể nói bà chính là hình ảnh tiểu biểu cho các bà mẹ Việt Nam tiêu biểu

- Dòng cảm xúc của tác giả ở trong khổ thơ này như lên đến tột đỉnh, bà như một bà tiên trong truyện cổ tích Bếp lửa tay bà nhóm lên mỗi sớm mai cũng chính là nhóm lên niềm yêu thương, bà luôn đặt niềm tin vào cháu, mong cháu có thể tự tin bước trên đường một cách vững vàng nhất

3 Những suy ngẫm của người cháu vê bà:

Từ những hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà, người cháu đã suy ngẫm về bà,

- Nếu từ đầu bài thơ, hình ảnh bà và bếp lửa song hành thì đến đây hoà vào làm một, tỏa sáng bên nhau.

- Cụm từ chỉ thời gian “đời bà”, “Mấy chục năm”, từ láy tượng hình “lận đận”, hình ảnh ẩn dụ “nắng mưa” -> diễn tả cảm nhận của nhà thơ về cuộc đời gian nan, vất vả và sự

tần tảo, đức hi sinh, chịu thương,chịu khó của bà Tình thương yêu tác giả dành cho bà được thể hiện trong từng câu chữ Tình cảm ấy giản dị, chân thành mà thật sâu nặng thiết tha.

- Suốt cuộc đời, bà luôn chăm chút cho cháu cả về vật chất và tinh thần để cháu lớn lên Bà là người nhóm lửa, cũng là người luôn giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng, tỏa sáng trong gia đình.

- Điệp ngữ “nhóm” được nhắc lại bốn lần với những ý nghĩa phong phú, gợi nhiều

liên tưởng Từ hành động, bà đã nhóm dậy những gì thiêng liêng, cao quý nhất của con người Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhóm lên:

+ Tình yêu thương

+ Niềm vui sưởi ấm

+ Sự san sẻ tình làng nghĩa xóm.

Trang 30

+ Những tâm tình, ước vọng của tuổi thơ

=> Nhờ ngọn lửa mà bà “ủ”, bà “nhen”, bà “giữ”, cháu biết cách sống ân nghĩa, thủy

chung, biết mở lòng ra với mọi người xung quanh, biết sẻ chia, gắn bó với xóm làng .Người cháu yêu bà, nhờ hiểu bà mà thêm hiểu, thêm yêu dân tộc mình, nhân dân mình.

- Trong tâm trí nhà thơ, bếp lửa và bà là những gì tuy thật bình dị, song ẩn giấu điều

cao quý thiêng liêng Cảm xúc dâng trào:“Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!” Hình ảnh bà

và hình ảnh bếp lửa sáng đẹp lung linh trong tâm hồn nhà thơ.

4 Thực tại nỗi nhớ bà, nhớ quê hương khôn nguôi, da diết.

Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu,

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng bao giờ quên nhắc nhở:

- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

- Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với bao điều mới mẻ Tuổi thơ đã lùi

xa, đứa cháu nhỏ năm xưa giờ đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay cao, bay xa đến những

chân trời cao rộng có “ khói trăm tàu”,”lửa trăm nhà”,”niềm vui trăm ngả”

- Tuy thế, cháu vẫn khôn nguôi nhớ về bà và bếp lửa quê hương, nhớ về góc bếp, nơi nắng mưa hai bà cháu có nhau Cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì

đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ của cháu được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó Bà và quê hương yêu dấu là điểm tựa, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cháu trên mỗi bước đường đời.

=> Từ những suy ngẫm của người cháu, bài thơ biểu hiện một triết lí sâu sắc: Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời Tình yêu đất nước bắt nguồn từ lòng yêu quý ông bà, cha mẹ, từ những gì gần gũi và bình dị nhất.

III Tổng kết

1 Vê nghệ thuật:

- Mạch thơ đi từ hồi tưởng đến hiện tại, tù kỷ niệm đến suy ngẫm.

- Sáng tạo hình ảnh thơ vừa thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng.

- Nhiều phương thức biểu đạt: biểu cảm, miêu tả, tự sự, bình luận

- Giọng điệu phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm.

2 Vê nội dung:

Bài thơ mở ra với hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỷ niệm tuổi thơ được sống bên

bà được bà chăm sóc Nay cháu đã trưởng thành, suy nghĩ và thấu hiểu về cuộc đời bà với lẽ sống giản dị và cao quý của bà Cuối cùng người cháu muốn gửi niềm thương, nhớ mong với bà.

Bài 5: ÁNH TRĂNG

Với Nguyễn Duy, ánh trăng là biểu tượng cho quá khứ trong mỗi đời người và bài

thơ “Ánh trăng” giản dị như một niềm ân hận trong tâm sự sâu kín của nhà thơ.

II Tìm hiểu bài thơ:

1 Cảm nghĩ vê vầng trăng quá khứ:

Trang 31

- Ánh trăng gắn với những kỉ niệm trong sáng thời thơ ấu tại làng quê:

“Hồi nhỏ sống với đồng Với sông rồi với biển”

- Ánh trăng gắn bó với những kỉ niệm không thể nào quên của cuộc chiến tranh ác liệt của người lính trong rừng sâu:

“Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ

- Con người khi đó sống giản dị, thanh cao, chân thật trong sự hoà hợp với thiên nhiên:

“Trần trụi với thiên nhiên Hồn nhiên như cây cỏ”

Ngỡ không bao giờ quên Cái vầng trăng tình nghĩa”

=>Trăng khi đó là ánh sáng trong đêm tối chiến tranh, là niềm vui bầu bạn của người lính trong gian lao của cuộc kháng chiến - vầng trăng tri kỉ Nhân vật trữ tình gắn bó với trăng trong những năm dài kháng chiến Trăng vẫn thuỷ chung, tình nghĩa.

2 Cảm nghĩ vê vầng trăng hiện tại:

Từ hồi về thành phố

………

Như người dưng qua đường

- Vầng trăng tri kỉ ngày nào nay đã trở thành “người dưng” - người khách qua đường

xa lạ:

+ Sự thay đổi của hoàn cảnh sống - không gian khác biệt, thời gian cách biệt, điều kiện sống cách biệt.

+ Hành động “vội bật tung cửa sổ” khi “thình lình đèn điện tắt” và cảm giác đột ngột

“nhận ra vầng trăng tròn”, cho thấy quan hệ giữa người và trăng không còn là tri kỉ, tình nghĩa như xưa vì con người lúc này thấy trăng như một vật chiếu sáng thay thế cho điện sáng mà thôi.

=> Câu thơ dững dưng - lạnh lùng - nhức nhối, xót xa miêu tả một điều gì bội bạc, nhẫn tâm vẫn thường xảy ra trong cuộc sống Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơ muốn nhắc nhở : đừng để những giá trị vật chất điều khiển chúng ta

3 Niêm suy tư của tác giả và tấm lòng của vầng trăng:

- Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ Vầng trăng xuất hiện vẫn một tình cảm tràn đầy:

+ “Trăng tròn”, hình ảnh thơ khá hay, tình cảm trọn vẹn, chung thuỷ như năm xưa

+ Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng

tròn (nhân hoá) Con người thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỉ ngày nào Cách viết thật lạ và sâu sắc!

- Ánh trăng đã đánh thức những kỉ niệm quá khứ tốt đẹp, đánh thức lại tình cảm bạn

bè năm xưa, đánh thức lại những gì con người đã lãng quên

+ Cảm xúc “rưng rưng” là biểu thị của một tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gợi

nhớ gợi thương khi gặp lại bạn tri kỉ

+ Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao

- Ánh Trăng hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng nào:

“Trăng cứ tròn vành vạnh…

Đủ cho ta giật mình”

+ Trăng tròn vành vạnh là hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ không thể phai mờ Ánh trăng im phăng phắc chính là người bạn nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả

Trang 32

mỗi chúng ta: con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt

+ “Giật mình” là cảm giác và phản xạ tâm lí có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình Cái “giật mình” của

sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản

thân không bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại mà coi rẻ thiên nhiên

=> Câu thơ thầm nhắc nhở chính mình và cũng đồng thời nhắc nhở chúng ta, những người đang sống trong hoà bình, hưởng những tiện nghi hiện đại, đừng bao giờ quên công sức đấu tranh cách mạng của biết bao người đi trước.

- Ánh trăng thật sự đã như một tấm gương soi để thấy được gương mặt thực của mình, để tìm lại cái đẹp tinh khôi mà chúng ta tưởng đã ngủ ngon trong quên lãng.

Bài 6: MÙA XUÂN NHO NHỎ

( Thanh Hải)

I Tìm hiểu chung:

1 Tác giả:

- Thanh Hải (1930-1980), Phong Điền - Thừa Thiên Huế Là một trong những cây bút

có công xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Nam từ những ngày đầu.

2 Tác phẩm:

Bài thơ được viết tháng 11.1980, khoảng 1 tháng sau thì nhà thơ qua đời Bài thơ là khúc ca xuân, là tấm lòng tha thiết, ước nguyện cống hiến của Thanh Hải đối với quê hương, đất nước, với cách mạng.

II Tìm hiểu bài thơ:

1 Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời

Mọc giữa dòng sông xanh

……….

Hót chi mà vang trời.

- Hình ảnh chọn lọc tiêu biểu điển hình của mùa xuân:

+ Từ “mọc” được đặt ở đầu câu: nghệ thuật đảo ngữ nhằm : nhấn mạnh, khắc hoạ sự khoẻ khoắn “Mọc” tiềm ẩn một sức sống, sự vươn lên, trỗi dậy Giữa dòng sông rộng lớn, không gian mênh mông chỉ một bông hoa thôi mà không hề gợi lên sự lẻ loi đơn chiếc Trái lại, bông hoa ấy hiện lên lung linh, sống động, tràn đầy sức (sống) xuân.

+ Màu sắc: gam màu hài hoà dịu nhẹ tươi tắn Màu xanh lam của nước sông (dòng sông Hương) hòa cùng màu tím biếc của hoa, một màu tím giản dị, thuỷ chung, mộng mơ và quyến rũ Đó là màu sắc đặc trưng của xứ Huế.

+ Âm thanh: Tiếng chim chiền chiện, loài chim của mùa xuân.

+ Cách dùng các từ cảm thán: “ơi”, “chi”: mang chất giọng ngọt ngào đáng yêu của

người xứ Huế (thân thương, gần gũi).

Trang 33

=> Khung cảnh mùa xuân có không gian cao rộng, màu sắc tươi thắm, âm thanh vang vọng - một sắc xuân của xứ Huế Một không gian bay bổng lại đằm thắm dịu dàng, tươi tắn.

- Cảm xúc say sưa ngây ngất xốn xang rạo rực trước cảnh đất trời vào xuân:

+ Tiếng chim chiền chiện hót vang trời nhưng không tan biến vào không trung Nó như

ngưng đọng lại thành từng giọt âm thanh Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác: từ thính giác đến thị giác, xúc giác Những yếu tố huyền ảo trong bài thơ được thể hiện một cách sáng

tạo, gợi cảm.

+ “Tôi đưa tay tôi hứng”: Sự trân trọng vẻ đẹp của thi nhân đối với vẻ đẹp chất nhạc

của trời với sông, của chim với hoa thể hiện sự đồng cảm của thi nhân trước thiên nhiên và cuộc đời.

2 Cảm xúc của nhà thơ vê mùa xuân đất nước:

Mùa xuân người cầm súng

………

Lộc trải dài nương mạ.

- Lộc non chồi biếc: Sức sống của con người Đây là những hình ảnh tượng trưng, kết cấu đối xứng.

- Tả thực: Mùa xuân là mùa ra quân, mùa chiến thắng, mùa xuân cũng là mùa người nông dân ra đồng gieo trồng lúa xuân.

- Ý nghĩa tượng trưng: 2 nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, xây dựng đất nước.

Đất nước như vì sao

Cứ đi lên phía trước.

- Một đất nước với 4000 năm dựng nước và giữ nước đã trải qua muôn vàn khó khăn thử thách, gian khổc liệt, tưởng chừng như không thể vượt qua, thế mà vẫn kiên cường.

- Nghệ thuật so sánh: “Đất nước như vì sao” Sự trường tồn vĩnh cửu của thiên nhiên

được so sánh với tầm vóc của dân tộc Việt Nam

=> Tác giả thể hiện niềm tin vào cách mạng, vào tương lai của đất nước, định hướng, mục đích sống của mỗi con người Đó là sức sống, sức vươn lên không ngừng của đất nước vào xuân.

3 Suy nghĩ và ước nguyện của nhà thơ:

- Trong cái không khí réo rắt đầy đủ các cung bậc âm thanh, nhà thơ chỉ khiêm tốn xin làm một nốt trầm nhập vào bản hoà ca chung

- Lời ước nguyện chân thành tha thiết: Làm một mùa xuân nho nhỏ, cống hiến phần tốt

đẹp, dù nhỏ bé của mình cho mùa xuân lớn của đất nước, của cuộc đời chung

- Sự chuyển đổi cách xưng hô từ tôi (riêng) sang ta (chung) chính là sự thể hiện của khát vọng hoà nhập ấy.

Một mùa xuân nho nhỏ

………

Dù là khi tóc bạc

- Hình ảnh có tính chất biểu tượng: “mùa xuân - tuổi hai mươi”: trẻ trung sung sức;

“Tóc bạc”: trở về già Mạch cảm xúc chuyển từ sôi nổi sang trầm lắng.

4 Khổ cuối là lời ca ngợi quê hương, đất nước qua giai điệu dân ca xứ Huế:

Ngày đăng: 08/07/2021, 20:05

w