Ông kể: "Quả thật hồi đó trong làng còn có cả trẻ nhỏ và thanh thiếu niên cùng tran quá cảm động trước chuyện tình đẹp như mơ và cũng đầy tình tiết bi kịch của đôi lứa ấy mà "th nhiên, n[r]
Trang 1Núi Đôi
Vũ Cao
Bảy năm về trước em mười bảy Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng
Xuân Dục, Đoài Đông hai nhánh lúa
Bữa thì anh tới bữa em sang
Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
Em vẫn đùa anh sao khéo thế
Núi chồng, núi vợ đứng song đôi
Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới
Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau
Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn
Ai ngờ từ đó mất tin nhau
Anh vào bộ đội lên Đông Bắc
Chiến đấu quên mình năm lại năm
Mỗi bận dân công về lại hỏi
Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng
Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi
Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi
Mỗi tin súng nổ vùng đai địch
Sương trắng người đi lại nhớ người
Đồng đội có nhau thường nhắc nhở
Trung du làng nước vẫn chờ trông
Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm
Em vẫn đi về những bến sông
Náo nức bao nhiêu ngày trở lại
Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi
Hành quân qua tắt đường sang huyện
Trang 2Anh nhớ thăm nhà thăm Núi Đôi
Mới đến đầu ao tin sét đánh
Giặc giết em rồi, dưới gốc thông
Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa
Em sống trung thành chết thuỷ chung
Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói Núi vẫn Đôi mà anh mất em
Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo
Em còn trẻ lắm, nhất làng trong
Mấy năm cô ấy làm du kích
Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng
Từ núi qua thôn đường nghẽn lối
Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy
Sân biến thành ao nhà đổ chái
Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay
Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau
Nứa gianh nửa mái lều che tạm
Sương trắng khuấy dần chuyện xót đau
Anh nghe có tiếng người qua chợ
Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều
Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu
Trang 3Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ
Oán thù còn đó anh còn đây
Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
Đã chết vì dân giữa đất này?
Ai viết tên em thành liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng
Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm
Chuyện tình của nữ du kích trong bài thơ “Núi Đôi”
Khi từ mộ người nữ du kích ấy trở về, Vũ Cao đã sáng tác bài “Núi Đôi”, sau này trở thành một trong những bài thơ được yêu mến
nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông Cũng nhờ sự ra đời của bài thơ này mà ngay sau đó nữ du kích Trần Thị Bắc đã được công nhận
là liệt sỹ.
Năm 1975, có một người đàn ông đến xin gặp Đại tá, nhà báo, nhà thơ quân đội Vũ Cao để cảm ơn nhà thơ về bài thơ “Núi Đôi” mà ông đã viết cách đó gần 20 năm trước Người đàn ông ấy nói, ông chính là chồng của cô du kích Trần Thị Bắc – nguyên mẫu ngoài đời thực của cô du kích trong bài thơ “Núi Đôi”
Phải đến lúc đó, nhà thơ Vũ Cao mới biết rằng câu chuyện mà ông biết về người đã tạo cảm hứng cho ông viết bài thơ “Núi Đôi” nổi tiếng hóa ra mới chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ câu chuyện về cuộc đời ngắn ngủi nhưng đẹp đẽ và hiên ngang của nữ du kích trẻ ở vùng quê Sóc Sơn này
Bài thơ “Núi Đôi” và câu chuyện về nữ du kích trẻ tuổi gan dạ
Sinh thời, nhà thơ Vũ Cao vẫn thường kể cho nhiều người yêu thơ và đặc biệt là những người yêu thích bài thơ “Núi Đôi”– một trong những bài thơ thành công nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông về hoàn cảnh khiến ông sáng tác bài thơ
Trang 4Vào năm 1956, nhà thơ Vũ Cao đang đi chữa bệnh tại một trạm xá quân y ở Sóc Sơn (Hà Nội) Trong những ngày nằm điều trị tại đây,
Vũ Cao đã được nghe người dân ở xã Lạc Long (nay là xã Phù Linh – huyện Sóc Sơn) kể về câu chuyện về cuộc đời cô du kích trẻ Trần Thị Bắc
Liệt sĩ Trần Thị Bắc (sinh năm 1932 – mất ngày 21/3/1954) Trần Thị Bắc đã chấp nhận hi sinh trong một trận càn của địch, để đánh động cho cơ sở của cách mạng Nhờ đó, nhiều cán bộ cách mạng trong vùng hôm đó mới không bị rơi vào tay giặc Gia đình và dân làng đã đưa cô về chôn ở giữa xóm Chùa
Lúc còn sống, nữ du kích Trần Thị Bắc có yêu một người lính bộ đội cụ Hồ đi chiến đấu ở xa Đến ngày hòa bình, khi người lính ấy trở
về thì người yêu đã không còn Và người lính ấy đã ngồi lặng lẽ bên mộ người con gái mình yêu, để hoài niệm về những kỉ niệm đẹp đã mãi mãi không thể trở lại
Câu chuyện này đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho Vũ Cao Ông đã đến xóm Chùa thăm mộ nữ du kích Trần Thị Bắc, thắp hương cho người con gái đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ
Khi từ mộ người nữ du kích ấy trở về, Vũ Cao đã sáng tác bài “Núi Đôi”, sau này trở thành một trong những bài thơ được yêu mến nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông Cũng nhờ sự ra đời của bài thơ này mà ngay sau đó nữ du kích Trần Thị Bắc đã được công nhận là liệt sỹ
Trang 5Trong bài thơ “Núi Đôi” có câu thơ: “Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo/ Em còn trẻ lắm, nhất làng trong/ Mấy năm cô ấy làm du kích/ Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng” Khi viết bài thơ “Núi Đôi”, tác giả đã đinh ninh nguyên mẫu của mình là một cô gái chưa chồng Phải đến 20 năm sau, khi có một người đàn ông đến xin gặp nhà thơ để gửi lời cảm ơn nhà thơ và tự nhận mình chính là chồng của cô
du kích Trần Thị Bắc, thì nhà thơ Vũ Cao mới biết được sự thật đầy đủ và chi tiết về mối tình đẹp nhưng có một cái kết buồn của cô du kích Trần Thì Bắc
Liệt sĩ Trần Thị Bắc (sinh năm 1932 – mất ngày 21/3/1954) tại xóm Chùa, thôn Xuân Dục Đoài, xã Phù Linh (xã Lạc Long cũ), huyện Sóc Sơn – Hà Nội Là con gái đầu lòng của một gia đình cách mạng, bố và các bác, các chú đều tham gia cách mạng, có những người là liệt sỹ nên khi mới ngoài 10 tuổi, Trần Thị Bắc đã thấm nhuần tinh thần cách mạng
Ở tuổi 16 - 17, cô thiếu nữ xóm Chùa Trần Thị Bắc đã tham gia vào du kích và được đánh giá cao về tinh thần quyết liệt cũng như sự gan dạ, mưu trí Ngày đó, vùng Sóc Sơn là nơi tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch Đây được coi như nơi tiếp nối giữa vùng tự do và vùng địch hậu
Giặc Pháp tranh chấp vùng đất này rất quyết liệt với hi vọng sẽ tạo ra những “vùng trắng”, bao vây các cán bộ cách mạng đang cài lại trong vùng địch hậu, đồng thời ngăn cản cán bộ từ vùng tự do xâm nhập vào
Phong trào du kích của Sóc Sơn những năm ấy phát triển mạnh và chính những du kích như cô thiếu nữ Trần Thị Bắc là những người có công lớn trong việc đảm bảo thông tin liên lạc cũng như đảm bảo cho sự an toàn của các cán bộ cách mạng ra và vào vùng tạm chiếm
Những người già ở Phù Linh kể rằng khi còn sống, cô du kích Trần Thị Bắc nổi tiếng là một cô gái vừa xinh đẹp, hát hay, lại khéo ăn khéo nói và thông minh, nhanh trí
Thế nên không phải ngẫu nhiên mà khi chưa đầy 20 tuổi, Trần Thị Bắc đã là một nữ du kích được cấp trên tin tưởng giao cho nhiều nhiệm vụ quan trọng cùng một lúc: vừa làm công tác quân báo, liên lạc, đưa đón cán bộ cách mạng vào vùng địch hậu và ra vùng tự do; cũng như làm công tác binh vận với quân địch và những đối tượng thân địch
Người ta luôn thấy cô làm việc luôn chân luôn tay, hết mình với cách mạng Khi thì cô đi chợ bán hàng, trò chuyện với bà con ở chợ để tuyên truyền ý thức cách mạng cho bà con, khi thì cô giúp đỡ cán bộ cách mạng trong vùng địch và đảm bảo sự an toàn cho họ trước sự nhòm ngó của địch
Cô còn liều lĩnh đến mức thường xuyên cắt cỏ quanh đồn bốt địch, làm quen với những tên giặc và dần dà thu phục tình cảm của chúng
Quân giặc đóng ở những đồn bốt quanh vùng quý cô đến nỗi dần dần có những người bị cô cảm hóa, trở thành nguồn tin quan trọng cung cấp tin cho cô để cô báo ra cho cơ sở ở vùng tự do về những âm mưu và kế hoạch hoạt động của địch
Người lính bộ đội cụ Hồ mà nữ du kích Trần Thị Bắc đem lòng yêu ở ngoài đợi thực chính là ông Trịnh Khanh, nay đã 80 tuổi Ông Trịnh Khanh hiện sống ở thôn Hậu Dưỡng, xã Kim Chung, huyện Đông Anh, Hà Nội
Ngày đó ông Trịnh Khanh là bộ đội, đóng quân ở đại đội Trần Quốc Tuấn Khi nữ du kích Trần Thị Bắc được cử đi học lớp y tá trên huyện đội Sóc Sơn, một người bạn cùng đơn vị với ông Trịnh Khanh đã kể về Trần Thị Bắc cho ông Trịnh Khanh nghe
Trang 6Tò mò về một cô du kích cùng quê, vừa xinh đẹp lại vừa có tiếng gan dạ, dũng cảm, ông Trịnh Khanh đã đến gặp gỡ, làm quen Sau nhiều lần trò chuyện, cả hai đã dần cảm mến nhau Nhưng phải 2 năm sau đó, vào năm 1952, người lính cụ Hồ và nữ du kích Trần Thị Bắc mới ngỏ lời yêu nhau
“Núi vẫn đôi mà anh mất em”
Yêu nhau nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh, ông Trịnh Khanh làm nhiệm vụ của một người lính ở đơn vị, nữ du kích Trần Thị Bắc thì tham gia lực lượng du kích kiêm cứu thương ở quê nhà, nên phải đến cuối năm 1953, nhờ đơn vị tạo điều kiện, đám cưới của Trần Thị Bắc và Trịnh Khanh mới diễn ra ở vùng tự do, ngay tại nơi đóng quân của đơn vị
Đám cưới của họ diễn ra trong hoàn cảnh chiến tranh khó khăn nên vô cùng thiếu thốn, đến bánh kẹo, chè thuốc mời bạn bè, anh em cũng không có
Thương cô con gái đầu lòng, mẹ của nữ du kích Trần Thị Bắc đã lặn lội đi từ trong vùng địch hậu ra vùng tự do để mang cho con gái ít chè thuốc, kẹo bánh làm đám cưới
Chiếc giường cưới đêm tân hôn của họ cũng chỉ là một cái ổ rơm trong một căn lán nhỏ được đồng đội dựng lên giữa rừng để tạo điều kiện cho đôi vợ chồng trẻ Trần Thị Bắc và Trịnh Khanh chính thức nên duyên vợ chồng từ năm 1953
Ngay sau đêm tân hôn, vợ chồng nữ du kích Trần Thị Bắc lại phải hai người đôi ngả Đó cũng là lần cuối cùng họ gặp lại nhau
Không chỉ nhà thơ Vũ Cao mà ngay cả nhiều người dân trong vùng khi đó cũng không hề biết về đám cưới của nữ du kích Trần Thị Bắc nên họ luôn đinh ninh đến lúc chết, cô vẫn là một cô gái chưa chồng
Nhiều thế hệ độc giả sau này cũng đinh ninh như thế Chỉ đến khi ông Trịnh Khanh xuất hiện trước mặt nhà thơ Vũ Cao và kể về mối tình của ông với liệt sỹ Trần Thị Bắc, câu chuyện mới được sáng tỏ
Sở dĩ đám cưới của liệt sỹ - nữ du kích Trần Thị Bắc ít người biết đến ngoài gia đình, người thân là vì khi đó quê của cả liệt sỹ Trần Thị Bắc và ông Trịnh Khanh đều nằm trong vùng tạm chiếm.
Đám cưới của họ diễn ra ở vùng tự do, lại phần vì cả hai vợ chồng liệt sỹ Trần Thị Bắc đều hoạt động cách mạng nên chuyện đám cưới không được phổ biến rộng rãi, vì lo ngại sự chú ý bất lợi của địch
Tháng 3/1954, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đi vào giai đoạn cuối, giặc điên cuồng càn quét vùng tạm chiếm với mục đích bắt bớ, chém giết những cán bộ cách mạng
Đêm ngày 21/3, khi đang làm nhiệm vụ đi tiền trạm cho một đoàn cán bộ đi công tác, nữ du kích Trần Thị Bắc đã rơi vào ổ phục kích của địch Để đánh động cho các đồng chí của mình, nữ du kích Trần Thị Bắc đã kháng cự quyết liệt với bọn địch, khiến chúng điên cuồng bắn chết cô Cô hi sinh khi mới 22 tuổi
3 tháng sau ngày cưới, vào một buổi chiều ở đơn vị, ông Trịnh Khanh nhận được cùng một lúc 2 bức thư, một bức thư của người vợ mới cưới kèm theo một chiếc áo len làm quà tặng cho chồng và một bức thư của gia đình gửi báo tin vợ đã hi sinh
Trang 7Bàng hoàng khi nhận được món quà cuối cùng của vợ cũng là lúc biết người vợ yêu thương của mình đã ra đi mãi mãi, nhưng phải đến cuối năm 1954, người lính Trịnh Khanh mới được về quê thăm mộ vợ
Ngày trở về với chiếc ba lô trên vai, ông Trịnh Khanh đã ngồi lặng lẽ suốt một buổi chiều trước mộ người vợ mới cưới Khi đó tâm trạng của ông đúng như những gì nhà thơ Vũ Cao đã kể viết trong bài “Núi Đôi”:
“Anh ngước nhìn lên 2 dốc núi/ Hàng cây bờ cỏ con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em” Mối tình đẹp của người lính cụ Hồ với cô du kích Sóc Sơn đã có một cái kết không thể buồn hơn
Sau nhiều năm tháng trôi qua, nỗi đau mất đi người vợ hiền mới cưới chưa lâu dần lắng xuống, ông Trịnh Khanh mới nên duyên cùng
bà Lê Thị Khuyến (người thôn Hậu Dưỡng, xã Kim Chung, huyện Đông Anh)
Tuy duyên phận của ông với liệt sỹ Trần Thị Bắc rất ngắn ngủi, nhưng với cha mẹ cũng như những người em của liệt sỹ Trần Thị Bắc, ông Khanh đã trở thành người ruột thịt trong nhà
Mẹ vợ ông Khanh, cũng là mẹ ruột của liệt sỹ Trần Thị Bắc chính là người đã cùng với mẹ đẻ của ông giúp ông đi hỏi cưới người vợ sau này
Tuy đã có gia đình mới, có vợ con và cuộc sống yên ấm nhưng sau này vợ chồng ông Trịnh Khanh và những người em của liệt sỹ Trần Thị Bắc vẫn luôn yêu quý, trân trọng nhau
Họ vẫn thường gặp gỡ nhau vào những ngày lễ tết, ngày giỗ của liệt sỹ Trần Thị Bắc và cùng nhau kể lại câu chuyện về người vợ, người chị của họ - nữ du kích trong bài “Núi Đôi” năm nào
Tiếng vọng thời gian (Qua ba bài thơ "Màu tím hoa sim", "Núi Đôi" và "Quê hương")
Đất nước Việt Nam ba mươi năm chiến tranh (1945-1975) – ba mươi năm khói bom, lửa đạn… lắm vinh quang, hào hùng; song cũng đầy mất mát, thương đau Và dẫu biết rằng văn học luôn là tấm gương phản chiếu hiện thực, nhưng do đặc điểm của hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ mà nội dung phản ánh đã không được trọn vẹn, đủ đầy Tính chất ngợi ca, tuyên truyền, cổ động trở thành chi phối toàn bộ quá trình sáng tác của các cây bút suốt cả một thời gian dài khi ấy
Tuy nhiên, nằm trong dòng chảy chung của bầu không khí thời kỳ kháng chiến đó, có một số nhà thơ đã tự mình vượt ra
khỏi “quỹ đạo” như đã qui định để tìm ra một lối đi riêng Và lạ kỳ thay, trong bước đường tìm tòi đầy gian nan, dũng cảm ấy,
họ đã gặp được nhau, cùng nhau để lại cho hậu thế những bài thơ bất hủ Đó là trường hợp của nhà thơ Hữu Loan với bài
thơ “Màu tím hoa sim”, Vũ Cao với “Núi đôi” và Giang Nam với bài thơ “Quê hương”.
Điểm gặp gỡ của ba nhà thơ trước hết là ở cấu tứ của mỗi bài thơ Ba thi phẩm đều giống như một câu chuyện tự sự
kể về sự “ra đi” đầy bất ngờ và chua xót của người thân yêu Điều đáng nói ở đây là xưa nay, trong văn học viết về đề tài
chiến tranh – sự hi sinh, mất mát (nếu có nhắc đến) thường là rơi vào những người lính – những người trực tiếp cầm súng
ra chiến trường (Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi – Xưa nay chinh chiến mấy ai về ) Song nghịch lý thay, ở cả “
sim”, “Núi đôi” và “Quê hương” đều nhắc đến sự hy sinh của những người con gái, của người ở hậu phương Nếu như ở bài
Trang 8thơ “Màu tím hoa sim”, Hữu Loan không nói nguyên do của sự “ra đi” ấy hoặc người đọc có thể “
Vũ Cao, Giang Nam, hai ông đều nói rất rõ Với Vũ Cao là nỗi niềm chan chứa: “Giặc giết em rồi dưới gốc thông
Nam cũng bàng hoàng, thảng thốt: “Giặc bắn em rồi, quăng mất xác” Và ta nghe trong câu thơ, không đơn thuần chỉ là nhắc
lại một hiện thực phũ phàng của thời chiến nữa; mà đọng lại là cả một tấm tình, một tiếng lòng chua xót, một tiếng khóc nghẹn ngào… của mỗi nhà thơ trước sự ra đi của người mình yêu – và đau đơn hơn nữa lại ra đi dưới mũi tên, hòn đạn của
giặc mà tưởng như ở quê nhà có thể bình yên Một cách ngẫu nhiên, câu thơ không chỉ làm tê tái thương yêu
về một thời kỳ đau thương của dân tộc; hơn thế, còn làm tím cả cõi lòng của những người đang sống hôm nay Và chính bởi
đi sâu vào “mặt trái” của cuộc chiến mà đã có một thời, có thi phẩm đã bị “cấm” không được tuyên truyền rộng rãi đối với bạn đọc và người yêu thơ, hay người ta ngại ngần nhắc đến(cùng với dáng kiều thơm của Quang Dũng) Lớp người say mê
và yêu thích những bài thơ kiểu “Màu tím hoa sim” chỉ được lưu giữ và ghi chép chúng trong cuốn sổ tay cá nhân của mình
rồi chuyền tay nhau mà ngậm ngùi chua xót Trường hợp GS.Hoàng Như Mai giảng thi phẩm của Hữu Loan cho sinh viên Đại Học Tổng hợp những năm 1970 thật lắng đọng, âm vang … là rất hiếm Có hiện tượng đó, âu cũng là một điều dễ hiểu Bởi lẽ trong khi cả nước đang gồng mình lên để chiến đấu với kẻ thù mạnh hơn… thì tất yếu những bài thơ buồn, uỷ mị như thế sẽ không có lợi cho cuộc chiến tranh cách mạng Song do cả 3 bài thơ đều nói được những điều đúng đắn, chân thành
và sâu lắng nhất trong tận đời sống tâm linh con người…, nên sau khi cuộc chiến qua đi, chúng đã được trả lại giá trị đích thực Cả 3 thi phẩm được đánh giá là những bài thơ khá hay vì chúng là tiếng nói thành thực của người nghệ sĩ trước vòng quay của lịch sử, của một thời đã đi qua không bao giờ trở lại Và người đọc hôm nay chợt hiểu ra rằng: thơ ca kháng chiến
đâu chỉ có niềm vui Bởi bên cạnh cái “hùng” trong phạm trù thẩm mỹ luôn có cái “bi” song song tồn tại Cái “
những đau thương, mất mát; ở hiện thực tàn khốc của cuộc chiến tranh không gì bù đắp nổi Nhưng cái “
cái buồn mơ hồ, luẩn quẩn, bế tắc của các thi nhân trong phong trào thơ mới – mà đó là cái buồn tích cực trong thời kỳ cách mạng Họ hiểu rõ nguyên nhân, nguồn gốc sâu xa, chứ không còn “vô cớ” như chàng Xuân Diệu ngày nào (
nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn) Bởi vậy “nỗi buồn chiến tranh” ở cả 3 nhà thơ của chúng ta đều không hề
né tránh Nhưng trong cái buồn chất chứa niềm đau, sự xa xót ấy, vẫn thấy ánh lên niềm tin yêu, hy vọng, sự sống và lòng
quyết tâm tiêu diệt kẻ thù Chẳng thế mà trong đoạn kết bài “Núi đôi”, Vũ Cao viết: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/Em sẽ là hoa trên đỉnh núi Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm” Hay Giang Nam cũng hạ bút:
hương vì có chim có bướm/Có những ngày trốn học bị đòn, roi/ Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi”.
Đọc những câu thơ như thế liệu chúng ta còn thấy nó đơn thuần chỉ là đau thương uỷ mị? Hay chính đau thương, uỷ
mị lại nâng cao “tầm vóc” con người? Dẫu biết rằng khi đặt bút kết thúc khép lại mỗi bài thơ, mỗi người đọc, người yêu thơ,
Trang 9chưa hẳn đã dứt ra khỏi nỗi buồn, niềm đau; nhưng dường như đằng sau mỗi câu chữ ấy, ta thấy nỗi buồn, niềm đau kia đã chuyển thành tinh thần quyết tâm chiến đấu với kẻ thù, nói theo ngôn từ ngày ấy, là biến đau thương thành hành động cách mạng Và như vậy, cả 3 bài thơ nói đến tình yêu chồng vợ, tình yêu đôi lứa – có vẻ rất riêng tư nhưng đã hoà chung trong tình yêu lớn – yêu quê hương đất nước, của cả một cộng đồng dân tộc Cá nhân và dân tộc gặp nhau trên chiến trường
Trước đây có một thời kỳ do cực đoan, phiến diện, chúng ta cho rằng những bài thơ viết về nỗi đau, sự hi sinh, mất mát là bi lụy, làm hạn chế lại dòng vận động của lịch sử hào hùng Nhưng vượt qua lớp bụi thử thách của thời gian, thực tế
đã chỉ ra một điều hết sức ý nghĩa là: chiến tranh nếu không có hi sinh mất mát… thì làm sao người ta thấy hết được giá trị của những tháng ngày sống trong yên ấm, hoà bình ? Thế cho nên, ở một góc độ nào đó, 3 bài thơ “
đôi”, “Quê hương” chính là góc nhìn chân thực, không hề né tránh của tấm gương văn học trong việc phản ánh đời sống xã
hội Hiện thực chiến tranh khốc liệt như vậy đó Và chúng ta phải vô cùng cảm ơn những con người đã hi sinh cả tuổi thanh xuân và tràn đầy ước vọng của mình để có được một đất nước trọn vẹn, thống nhất như ngày hôm nay Với ý nghĩa như vậy, dù các nhà thơ không nói, nhưng chúng ta thấy như còn vang vọng đâu đây một lời nhắc nhở thầm về sự trân trọng và yêu mến các giá trị của cuộc sống thực tại – của những gì mà ta đã phải đánh đổi trong ngày hôm qua Một hành trình qua thống khổ mới tới đầu mút bên kia của hạnh phúc…
Quan niệm như thế nào là một bài thơ hay xem chừng đó vẫn còn là một câu hỏi lớn Song nói gì thì nói thơ hay phải bắt nguồn từ những xúc cảm chân thành về cuộc đời và về số phận con người Và đến với thơ ca, cũng nên tiếp nhận nó
“bằng tình yêu thương con người chứ không phải vì chính trị hay vụ lợi riêng” (Hữu Loan – tâm sự ngày 05/03/1995 tại Nga
Sơn, Thanh Hóa)
Phải chăng vì thế mà khi cuộc chiến tranh đã lùi xa cách đây hơn ba mươi năm, nhưng cho đến tận bây giờ cả 3 bài
thơ “Màu tím hoa sim”, “Núi đôi”, “Quê hương”… vẫn là những bài thơ hay hấp dẫn và có sức lay động sâu xa trong lòng
người đọc?
Chuyện ít biết về bài thơ "Núi Đôi" và tác giả Vũ Cao
Được sáng tác từ năm 1956, đã hơn nửa thế kỷ từ khi bài thơ Núi Đôi ra đời, nhưng bài thơ đã và vẫn đang làm rung
động tâm hồn không biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam Ít ai biết rằng, bài thơ đã được nhà thơ Vũ Cao sáng tác từ một câu chuyện tình có thật, bối cảnh có thật Theo lời tác giả kể lại, trong bài thơ duy nhất chỉ có câu "Bảy năm về trước em mười bảy/Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng" là chi tiết hư cấu Nhà thơ Vũ Cao từng tìm đến tận núi Đôi để viếng mộ cô gái,
và 20 năm sau ngày viết bài thơ đã gặp nhân vật anh bộ đội trong bài thơ ấy…
Trang 10Vì sao người 17 tuổi đã là người trẻ nhất làng?
"Bảy năm về trước em mười bảy/ Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng/ Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa/ Bữa thì em tới bữa anh sang Lối ta đi giữa hai sườn núi/ Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi/ Em vẫn đùa anh sao khéo thế/ Núi chồng, núi vợ đứng song đôi" Nhiều người nhận xét, những vần thơ chân thật mà đẹp như mơ của nhà thơ quê đất thành Nam ấy đã từng làm nao lòng bao thế hệ thanh niên Việt Nam
Một thời, những người yêu bài thơ Núi Đôi thường băn khoăn tự hỏi: hai câu đầu tiên trong bài thơ khiến người ta nghĩ mãi
mà không biết đó là vùng quê nào mà không có một bóng trẻ con, chỉ mới 17 tuổi mà đã là người trẻ nhất làng? Nếu sự thực như vậy thì vì sao làng này lại không có trẻ em? Không tìm được câu trả lời, có người nói, thơ ca chỉ là chuyện hư cấu, không có thực nên chẳng có ngôi làng nào như thế
Nhưng chính nhà thơ Vũ Cao từng nói, nếu không có chất liệu cuộc sống hàng ngày thì ông không viết được Ông từng kể với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo rằng bài thơ Núi Đôi được ông viết vào một ngày cuối năm 1956 Hồi đó ông về công tác ở
sư đoàn 312, đóng quân ở huyện Sóc Sơn (Hà Nội), cạnh đó có ngọn núi Đôi Một hôm, theo mấy người dân đi chợ, ông nghe họ kể chuyện tình của một cô gái du kích trong làng yêu một anh trai làng, rồi anh đi bộ đội Khi anh bộ đội trở về thì cô gái đã hy sinh
Nghe vậy, Vũ Cao liền tìm đến thăm mộ người nữ liệt sỹ đó ở xóm Chùa, thôn Xuân Đoài (còn gọi là Xuân Dục - Đoài
Đông), thuộc xã Phù Linh (còn gọi là Lạc Long), huyện Sóc Sơn, Hà Nội Đến tận nơi và nghe người dân kể lại câu chuyện tình giữa anh bộ đội và cô du kích, cảm hứng xuất hiện khiến ông đã chấp bút viết ra bài thơ Núi Đôi ra đời đúng như câu chuyện có thật Cả tên làng, tên chợ, tên người và quang cảnh đều hoàn toàn có thật Mộ cô gái hiện nay vẫn còn Chỉ có anh bộ đội là người yêu của cô du kích thì lúc ấy Vũ Cao không gặp được, không rõ còn sống hay đã mất
Về lý do tại sao ngay trong hai câu thơ đầu, ông lại cho rằng đôi nam nữ, trong đó cô gái 17 tuổi và chàng trai đôi mươi là
"trẻ nhất làng"? Vũ Cao sau này nói với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo rằng, ngay chính ông cũng không hiểu vì sao ông lại viết như vậy Ông kể: "Quả thật hồi đó trong làng còn có cả trẻ nhỏ và thanh thiếu niên cùng trang lứa với họ Có lẽ tôi đã quá cảm động trước chuyện tình đẹp như mơ và cũng đầy tình tiết bi kịch của đôi lứa ấy mà "thậm xưng" lên như vậy Tuy nhiên, nói trẻ nhất làng thì cũng có khía cạnh không ngoa, vì ở lứa tuổi 17 - đôi mươi ấy, đó là lứa tuổi nhiều sức sống nhất, yêu tha thiết nhất và vì thế, người ta tiếc cho cuộc tình không thành vì giặc Pháp xâm chiếm quê hương, giết cô du kích"
Sự đồng cảm lạ kỳ giữa nhà thơ - hình mẫu
Liệt sỹ Trần Thị Bắc
Hai ngọn núi Đôi bây giờ vẫn còn, người dân ở khu vực xã Phù Linh đều biết câu chuyện trong bài thơ cùng tên ngọn núi, hỏi ai cũng đều có thể nhận được câu trả lời: "Cô ấy chính là người làng này"
Nhân vật nữ trong bài thơ chính là liệt sỹ Trần Thị Bắc, con gái đầu trong một gia đình có truyền thống yêu nước Lớn lên trong thời kỳ giặc Pháp xâm lược, năm 15 tuổi Bắc đã tham gia các hoạt động đoàn thể 17 tuổi cô vào đội du kích với nhiệm
vụ làm giao thông liên lạc, tiếp tế cho đội du kích rồi được giao cả ba nhiệm vụ: quân báo, cứu thương và binh vận
Ngày 21.3.1954, dẫn một đoàn cán bộ đi công tác, khi trở về núi Đôi thì Bắc gặp ổ phục kích của địch Cô giao liên dù bị địch bịt miệng nhưng vẫn kịp thời la lớn để cảnh báo những người trong đoàn cùng đi phía sau, giúp các cán bộ chạy thoát Tức tối, địch tra hỏi nhưng không khai thác được thông tin gì từ cô du kích gan dạ này Giặc Pháp xử bắn Bắc ngay tại chỗ Khi đồng đội tìm đến nơi thì Bắc đã tắt thở Đồng đội đắp mộ cho cô ở khu vực cầu Cốn, Vệ Sơn, xã Tân Minh