Do vậy, đình làng với tín ngưỡng của nó có thể có nguồn gốc từ việc thờ thần đất, nước, hai vị thần quan trọng nhất của cư dân nông nghiệp Việt Nam.. Chức năng tín ngưỡng: Trong các đìn
Trang 1Trường: Đại học Hồng Đức
Lớp: Tiểu Học K24B3
Sinh viên: Nguyễn Thị Nhật
Mã SV: 217900C576
Sinh ngày: 06-04-1997
BÀI KIỂM TRA CÁ NHÂN
MÔN:
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Câu hỏi: Anh (chị) hãy trình bày các chức năng của ngôi Đình của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ
Bài làm
Dưới thời nhà Lê, đình làng đã phát triển Một sự kiện quan trọng dưới thời Lê Thánh Tông đã được Hồng Đức thiên chính ghi chép lại về việc lập đình như sau: “Người giàu đã bỏ tiền làm đình hay công đức làm chùa Thế mà (người sau giữ việc hậu) không biết đền đáp ơn đức, chỉ lừa người lấy của, chẳng bao lâu, tình nhạt lễ bạc, quên cả lời đoan, sinh thói bạc ác hoặc bỏ cả giỗ chạp, không như đời trước, hoặc là làm cỗ bàn không như khoán ước, hoặc năm thì trước năm thì sau, không đúng tháng hoặc trẻ thì lạy lớn thì không, chẳng đồng lòng Vậy con cháu đặt hậu ở đình hay ở chùa mà thấy kẻ giữ ở hậu
có trái lễ thì trình báo với nha môn để thu lại tiền công đức” (Theo Hà Văn Tấn - Đình Việt Nam)
Đình có bia xưa nhất là đình Thanh Hà (Hà Nội), vốn xưa thuộc làng Thanh Hà cổ, nay thuộc phố ngõ Gạch, quận Hoàn Kiếm Bia đề năm Thuận Thiên thứ 3 (1433) Các cứ liệu trên cho phép ta khẳng định đình làng đã có từ thời Lê Sơ, đầu thế kỉ XV Những ngôi đình xưa nhất còn bảo tồn đến ngày nay đều có niên đại vào thời nhà Mạc, thế kỉ XVI, đó là:
- Đình Thụy Phiêu (Ba Vì, Hà Nội) dựng năm Đại Chính thứ 2 (1531)
- Đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa, Bắc Giang) được ghi vào niên hiệu Sùng Khang (1566 - 1577), nhiều người
dự đoán vào năm 1576
- Đình Phù Lưu (Tiên Sơn, Bắc Ninh), được dựng vào cuối thế kỉ XVI
- Đình Là (Thường Tín, Hà Nội) dựng năm Diên Thành thứ 4 (1581)
- Đình Tây Đằng (Ba Vì, Hà Nội) dựa vào phong cách kiến trúc và điêu khắc, người ta dự đoán được dựng vào thế kỉ XVI
Về nguồn gốc đình làng cũng có nhiều ý kiến khác nhau và cũng chưa có giải đáp chắc chắn Có
ý kiến cho rằng, đình vốn là hành cung của vua, được xây dựng dành cho vua khi đi tuần thú, sau mới thành đình làng Có ý kiến khác cho rằng, vào thời Lý ở Thăng Long, người ta xây dựng những phương đình (có quy mô nhỏ) để dán các thông báo của chính quyền, hoặc là nơi người ta tuyên đọc các văn kiện của nhà vua Sau đó, kiến trúc loại này tỏa về làng với chức năng như trụ sở hành chính của làng Một vài ý kiến khác cho rằng đình làng có thể bắt nguồn từ các kiến trúc thờ thần đất và thần nước Các
cư dân Việt cổ trong tín ngưỡng bản địa, sùng bái thần đất và thần nước che chở nuôi sống họ
Do vậy, đình làng với tín ngưỡng của nó có thể có nguồn gốc từ việc thờ thần đất, nước, hai vị thần quan trọng nhất của cư dân nông nghiệp Việt Nam Trong tiến trình lịch sử tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực, thờ mẫu, thờ sức mạnh tự nhiên, và có phần ảnh hưởng không lớn lắm của đạo Phật, đạo Nho đã được bổ sung tạo ra những biến thể phong phú của Thành Hoàng làng Việt Nam
Trang 2Đình làng là một thiết chế văn hóa - tín ngưỡng tổng hợp, có ba chức năng: Tín ngưỡng, hành chính, văn hóa Rất khó để xác định chức năng nào có trước, chức năng nào được bổ sung Hơn nữa, ba chức năng đan xen, hòa quện với nhau đến mức khó có thể phân biệt
1 Chức năng tín ngưỡng:
Trong các đình làng Việt Nam, vị thần được thờ cúng là Thành Hoàng làng, vị vua tinh thần, thần hộ mệnh của làng Khi tín ngưỡng Thành Hoàng du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc cũng nảy sinh ra một số Thành Hoàng mà chức năng cũng giống như ở Trung Quốc…Các vua triều Nguyễn còn lập miếu thờ Thành Hoàng làng ở tỉnh và huyện Nhưng khi tín ngưỡng Thành Hoàng về làng, xã thì nó
đã biến đổi khác với tín ngưỡng Thành Hoàng ở Trung Quốc Như vây, tín nguỡng Thành Hoàng Trung Quốc khi du nhập vào làng xã Việt Nam thì các yếu tố văn hóa Hán, hoặc hiện tượng Hán hóa khác bị cổng làng chặn lại thì nó lại tìm thấy các tín ngưỡng bản địa có tính tương đồng, nên hội nhập rất thuận lợi với hệ thống tín ngưỡng đa nguyên của Việt Nam
Nguồn gốc của Thành Hoàng cũng rất phức tạp Trước hết là các thần tự nhiên (thiên thần hay nhiên thần) được thờ ở rất nhiều đình làng Các vị thần này đều được khoác áo nhân thần với các tiểu sử thế tục Được thờ chủ yếu là Sơn Tinh (thần núi), Thủy Tinh (thần sông, thần biển), trong đó, Tản Viên Sơn thánh có địa vị cao hơn cả Ngoài ra, các vị thần núi có tên như Cao Các, Quý Minh được thờ ở nhiều nơi Các thần núi ở địa phương, như: Tam Điệp Sơn, Điệp Sơn cũng được tôn làm Thành Hoàng làng
Thành Hoàng làng thứ hai là các nhân thần Các nhân vật lịch sử, như: Lí Bôn, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Trần Hưng Đạo… Chiếm số đông trong các nhân thần là những người ít nổi tiếng hơn như: Quan lại, nho sĩ và đặc biệt là các tướng của Hai Bà Trưng, nhất là các nữ tướng Những vị thần này thực ra là các nhân vật truyền thuyết, mang tính giả lịch sử hơn Thành Hoàng làng thứ ba gắn liền với tín ngưỡng bản địa, như tục thờ cây, thờ đá thời nguyên thủy
Ngoài các vị thần, ở đình làng còn thờ những người có công khai phá đất mới, lập làng, như: Hai hoàng tử thời Lý là Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương, Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Cư Trinh … Ở miền Bắc thường gặp ở các vùng ven biển dân làng thờ những người có công khai hoang lấn biển Những người gọi là “tiên hiền” là những người đến trước, “hậu hiền” là những người đến sau tiếp tục công cuộc “khai canh, khai khẩn” Thành Hoàng có thể là người xuất thân hèn kém, có người chết vào giờ thiêng cũng được thờ làm thần Trong lễ hội, người ta thường cử hành “hèm”
để nhắc lại thần tích của các vị Thành Hoàng làng này
Những người có công đóng góp cho làng sau khi chết được dân làng thờ làm “hậu thần”, hàng năm cúng giỗ ở đình Có người khi còn sống đóng góp cho làng trên cơ sở có khoán ước với làng, được ghi thành văn bản, đôi khi được khắc vào bia đá Họ được “bầu hậu” khi chết đi được thờ làm “hậu thần”
và được làng hương khói hàng năm
Ngoài ra, ở một số làng nghề thủ công người ta còn thờ tổ nghề gọi là “tiên sư” Trong miền Nam các “tiên sư” được thờ ở nhà hậu của đình làng, chỉ có một số ít “tiên sư” được thờ ở chánh điện
Tóm lại, các thần làng Việt Nam biểu hiện một hệ thống tín ngưỡng đa nguyên Đó là một hệ
thống pha lẫn nhiều yếu tố tín ngưỡng sơ khai của cư dân nông nghiệp (tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ mẹ, các thần sức mạnh tự nhiên…) với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người anh hùng và có phần ảnh hưởng không nhiều của của đạo Phật và đạo Nho
Trang 32 Chức năng hành chính:
Đình làng thực sự là trụ sở hành chính - nơi mọi công việc về hành chính của làng đều được tiến hành ở đó Từ việc xét xử các vụ tranh chấp, phạt vạ, khao vọng, từ thu tô thuế đến việc bắt lính, bỏ các xuất phu đinh Chủ thể tiến hành các hoạt động hành chính ở đình làng là các vị có chức danh Chánh tổng, Lý trưởng, Phó lý, Trưởng tuần và các viên quan của Hội đồng hương kì, kì mục Cơ sở để giải quyết các công việc của làng được dựa vào lệ làng hoặc hương ước Hương ước là một hình thức luật tục Gắn với hoàn cảnh, phong tục, tập quán lâu đời của từng làng mà nhân dân có các bộ luật nhà nước không thể bao quát được
Các làng đều có hương ước riêng với nội dung rất cụ thể khác nhau Tuy nhiên, hương ước làng bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
+ Những qui ước về ruộng đất: việc phân cấp công điền, công thổ theo định kì và qui ước về việc đóng góp (tiền và thóc)
+ Qui ước về khuyến nông, bảo vệ sản xuất, duy trì đê đập, cấm lạm sát trâu bò, cấm bỏ ruộng hoang, chặt cây bừa bãi
+ Những quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm của các chức dịch trong làng Việc xác định chức dịch trong làng nhằm hạn chế họ lợi dụng quyền hành và thế lực để mưu lợi riêng
+ Những quy định về văn hóa tư tưởng, tín ngưỡng Đó là những quy ước nhằm đảm bảo các quan hệ trong làng xóm, dòng họ, gia đình, láng giềng, được duy trì tốt đẹp Quy định về việc sử dụng hoa lợi của ruộng công vào việc sửa chữa, xây dựng đình, chùa, điện, quy định về thể lệ tổ chức lễ hội, khao vọng, lễ ra làng, lễ nộp cheo…
Có thể nói, hương ước là một bộ luật của làng xã Về cơ bản, hương ước chứa đựng nhiều giá trị văn hóa dân gian tốt đẹp, được hình thành lâu đời và nếu được chắt lọc có thể phát huy những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống làng xã hiện nay
Với đặc điểm của tính tự trị và tính cộng đồng của làng xã, hoạt động hành chính và quản lí của làng xã được tiến hành có hiệu quả Đình làng với tư cách là trụ sở hành chính đã trở thành biểu tượng của tính tự trị và sự cố kết cộng đồng trong suốt chiều dài lịch sử của mình
3 Chức năng văn hóa:
Đình làng là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cả làng “Cây đa, bến nước, sân đình” đã đi vào tâm hồn của người dân quê Đỉnh cao của các hoạt động văn hóa ở đình làng là lễ hội Làng vào hội cũng được gọi là vào đám, là hoạt động có quy mô và gây ấn tượng nhất trong năm đối với dân làng Ở các làng quê Việt Nam còn có hội chùa, hội đền nhưng phần lớn là hội làng được diễn ra ở đình làng gắn với đời sống của dân làng Lễ hội bao gồm hai phần chính là: Phần lễ và phần hội:
+ Lễ là các hoạt động có tính nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng
+ Hội là hoạt động mang tính giải trí, gắn liền với thế tục, nghệ thuật, thể dục, thể thao Nhưng trong một số trò chơi hội làng cũng có ý nghĩa tâm linh, gắn với mục đích cầu mưa, cầu mùa Lễ hội ở làng diễn ra “xuân thu, nhị kì” vào các dịp nông nhàn Lễ hội phần lớn vào tháng Giêng, có nơi vào thành hai, tháng ba âm lịch Lễ hội thu thường vào tháng bẩy, tháng tám Đó là hai lễ hội lớn, còn trong năm người ta cúng lễ Thành Hoàng làng
Lễ cúng Thành Hoàng làng trong khi mở hội có quy trình như sau:
Trang 4- Lễ trộc dục: Lễ tắm tượng thần hay thần vị
- Lễ tế Gia quan tức là lễ mặc áo, đội mũ cho tượng thần Nếu chỉ có thần vị thì đặt áo, mũ lên ngai
- Rước thân: Khi mở hội, người ta rước thần từ đền ra đình Khi kết thúc hội thì lại rước thần về đền Ở nhiều làng, người ta thờ Thành Hoàng làng ngay trong đình Trong ngày hội, người ta rước thần
đi vòng quanh làng và quay về đình
- Đại tế: Là lễ tế quan trọng nhất Có một người đứng chủ trì lễ (chủ tế), còn gọi là mạnh bái Ngoài ra còn có hai hoặc bốn người bồi tế, hai người đồng xướng, hai người nội tán, mười đến mười hai người chấp sự
Sau buổi đại tế, người ta coi thần luôn có mặt ở đình nên các chức sắc và bô lão phải thay nhau túc trực Mở hội gọi là nhập tịch, hết hội gọi là ngày xuất tịch hay còn gọi là ngày dã đám
Sau phần tế lễ là các hoạt động vui chơi, giải trí Sân đình trở thành sân khấu diễn xướng, ca hát
Ở những hội làng Bắc Bộ, sân đình thường có chiếu chèo, vùng Bắc Ninh, Bắc Giang sân đình gắn với hội hát quan họ
Mỗi địa phương có trò chơi khác nhau, thỏa mãn con người với nhiều nhu cầu như: Nhu cầu tâm linh (các trò chơi gắn với cầu mưa, cầu mùa, cầu ngư ), nhu cầu cộng cảm, nhu cầu thể hiện sức mạnh,
sự tài trí Các trò chơi gắn liền với nghi lễ cầu mưa, cầu mùa, như: Cướp cầu, kéo co, đua thuyền…
Cho đến nay, cúng đình và lễ hội vẫn là hình thức sinh hoạt cộng đồng tiêu biểu ấn tượng nhất của làng xã Trong sinh hoạt tín ngưỡng đó, người dân vẫn tin vào sự phù hộ của các vị thần trong mùa màng
và đời sống Hội làng ở đồng bằng Bắc Bộ sau một thời gian bị đứt đoạn đã có sự phục hồi nhanh chóng, chứng tỏ dân làng vẫn có nhu cầu về tâm linh Điều đó cũng chứng tỏ sức sống bền bỉ của tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng
4 Chức năng về mặt tình cảm:
Bên cạnh những chức năng như hình chính, văn hóa, tín ngưỡng thì xét trên phương diện về tình cảm thì đình làng cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng Nói đến làng là nghĩ đến cái đình với tất
cả những tình cảm thân thương nhất:
Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thuong mình bấy nhiêu…
Đêm qua tát nước đầu đình
Để quên cái áo bên cành hoa sen
TÓM LẠI, đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi của nền văn hóa Việt Nam Những nhân tố tự nhiên và
xã hội đã hình thành nên làng, một cộng đồng làng, lối sống làng Đình làng là một thiết chế văn hóa tín ngưỡng ra đời từ thời Lê Sơ, đánh dấu một bước phát triển của cơ cấu làng xã cổ truyền Đình làng là một biểu tượng của tính cộng đồng, tự trị dân chủ của làng xã Ngôi đình là trung tâm văn hóa của làng
mà thể hiện cô đọng nhất là lễ hội
Trang 5Trường: Đại học Hồng Đức
Lớp: Tiểu Học K24B3
Sinh viên: Nguyễn Thị Nhật
Mã SV: 217900C576
Sinh ngày: 06-04-1997
BÀI KIỂM TRA GIỮA KÌ
MÔN:
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Câu hỏi:
Câu 1: Anh (chị) hãy nêu 01 định nghĩa đầy đủ nhất về văn hóa? Cho ví dụ?
Câu 2: Tại sao nói: “Văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng?”
Bài làm Câu 1:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa khác nhau:
- Trong cuốn sách “Primitive culture” (Văn hóa nguyên thủy), Tylor viết: “Văn hóa hay văn minh Được hiểu theo nghĩa rộng của dân tộc học, là một toàn bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và mọi khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách một thành viên của xã hội”
- Theo UNESCO, trong hội nghị toàn khóa thứ 31 họp ngày 2/11/2001, tổ chức này đã thông qua bản “Tuyên ngôn phổ quát về đa dạng văn hóa”, trong đó có nêu lên định nghĩa chung về văn hóa như sau: “ Văn hóa phải nên được nhìn nhận như một tập hợp những nét khác biệt về đời sống tinh thần, vật chất, trí tuệ và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm xã hội, nó bao gồm văn học nghệ thuật, thêm vào
là lối sống, phong cách chung sống, hệ giá trị, truyền thống và tín ngưỡng”
- Theo phương đông: Từ “Văn hóa” vốn được ghép bởi hai từ Văn trị và giáo hóa Mà văn thì từ thế kỉ thứ 6 TCN, Tuân Từ: văn là ngụy Nguyên gốc của nó là cái con người là ra không phải cái tự nhiên Bởi, chữ “ngụy” được cấu tạo là nhân = người và vi = làm Như vậy, theo quan điểm phương Đông: Văn hóa = Người làm
- Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát triển ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là VĂN HÓA Văn hóa là sự tổng hợp của phương thức sinh hoạt cũng những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
Ví dụ:
Nhắc đến văn hoá từ Giai đoạn văn hoá Văn Lang – Âu Lạc, từ gần năm 3000 đến cuối thiên niên
kỷ 1 trước Công nguyên vào thời đại đồ đồng sơ khai, trải 18 đời vua Hùng, được coi là đỉnh cao thứ nhất của lịch sử văn hoá Việt Nam, với sáng tạo tiêu biểu là trống đồng Đông Sơn và kỹ thuật trồng lúa nước ổn định Đến bây giờ nét đẹp văn hoá này vẫn được Việt nam ta tiếp tục pháp huy, kế truyền Hoặc nhắc đến văn hoá của Việt Nam trong tín ngưỡng sùng bái con người phải kể đến việc Cả nước Việt nam cùng thờ vua tổ, có ngày giỗ tổ chung là Hội đền Hùng Đặc biệt việc thờ Tứ Bất Tử là
Trang 6thờ những giá trị rất đẹp của dân tộc: Thánh Tản Viên chống lụt, Thánh Gióng chống ngoại xâm, Chử Đồng Tử nhà nghèo cùng vợ ngoan cường xây dựng cơ nghiệp giầu có, bà Chúa Liễu Hạnh công chúa con Trời từ bỏ Thiên đình xuống trần làm người phụ nữ khát khao hạnh phúc bình thường
Câu 2:
CÁC KHÁI NIỆM VỀ TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG CỦA NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM
1 Tính thống nhất là gì?
Tính thống nhất của nền văn hóa Việt Nam là tính thống trị, hòa quyện bình đẳng, không mâu thuẫn với nhau, hợp lại thành một khối, có tổ chức và có sự phát triển độc lập của văn hóa các dân tôc anh em cùng sống trên lãnh thổ Việt Nam Mỗi dân tộc có truyền thống và bản sắc riêng nhưng cả cộng đồng dân tộc Việt Nam có nền văn hóa chung nhất
2 Tính đa dạng là gì?
Tính đa dạng của nền văn hóa Việt Nam được thể hiện giữa các lĩnh vực phong tục tập quán, kinh tế
- xã hội của mỗi cộng đồng dân tọc Đây là nân tố để giữ gìn bản sắc truyền thống của dân tộc, là điểm
để phân biệt vùng này với vùng khác, mỗi vùng có những nét riêng biệt tùy thuốc vào điều kiện tự nhiên,
vị trí địa lý, sự tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa bên ngoài, tạo nên sự đa dạng phong phú của từng vùng
3 Một số quan niệm về dân tộc học
Không gia văn hóa: là sự tổng hòa các vùng văn hóa của các địa phương trên bình diện tinh thần, là nét bản sắc chung hiện hữu ở mọi vùng văn hóa, có ở tất cả đa số thành viên trong cộng đồng dân tộc, đồng thời cũng dùng để chỉ chỗ ở của người Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Vùng văn hóa : là vùng lanhc thổ nhỏ của một tộc người cư trú Các yếu tố cơ bản của văn hóa vùng bao gồm ngôn ngữ, tín ngưỡng, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán,…
Lãnh thổ văn hóa dùng để chỉ chỗ ở cụ thể của từng nhóm dân tộc người trên trái đất hình chữ S Tiểu vùng văn hóa chỉ phạm vi nhỏ hơn vùng văn hóa là nơi đẹp nhất của vùng văn hóa
NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM LÀ NỀN VĂN HÓA THỐNG NHẤT TONG ĐA DẠNG A.NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG SỰ ĐA DẠNG
1 Đa dạng về không gian văn hóa
Văn hóa vùng: một thực thể văn hóa bao gồm những nét đặc trưng, những sắc thái riêng mà các vùng khác không có hoặc có mà không điển hình, không tiêu biểu
Dựa vào đặc trưng văn hóa, điều kiện tự nhiên xã hội, sự đan xen và giao thoa giữa các yếu tố văn hóa của các vùng kế cận nhau, các trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của cả vùng có thể chia nước
ta thành 6 vùng văn hóa chính: Tây Bắc, Việt Bắc, trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên
và Nam Bộ
1.1 Vùng văn hóa Tây Bắc:
Đặc trưng văn hóa:
- Văn hóa vật chất
Trang 7- Trang phục: màu sắc sặc sỡ gam nóng, họa tiết bố cục
và màu phong phú, nhà sàn Thái, hệ thống tưới tiêu
- Văn hóa tinh thần: Coi trọng suối, Sống chân thật, giản dị, hòa thuận
- Tín ngưỡng đa thần, tin có linh hồn
- Văn họá nghệ thuật: tác phẩm truyền miệng phong phú truyện thơ nổi tiếng: Tiễn dặn người yêu, Tiếng hát làm dâu, Vườn hoa núi cối
- Ca múa: múa xòe(Thái) với 32 điệu xòa, múa khèn (H’Mông), múa bông ( Mường)
1.2 Vùng văn hóa Việt Bắc:
Đặc trưng văn hóa:
- Văn hóa vật chất : nhà sàn, nhà đất, trang phục màu chàm, ẩm thực : gạo nếp…
- Văn hóa tinh thần: Tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa dân gian, nghi lễ, lễ hội.Tầng lớp trí thức Tày, Nùng xuất hiện khá sớm, sáng tạo chữ Nôm Tày dựa trên chữ Latinh sử dụng trong sáng tác thơ văn
- Có nhiều lễ hội tiêu biểu: Lồng tồng ( hội xuống đồng)
1.3 Vùng văn hóa trung du và đồng bằng Bắc Bộ
Đặc trưng văn hóa:
- Tính cách: tinh tế, thâm thúy, sâu sắc, mặt khác bảo thủ, hoài cổ, lối nói vòng vo
- Tâm thức dân gian: xa rừng nhạt biển
- Nhiều lễ hội nông nghiệp
- Trang phục giản dị, gọn gang, màu sắc thiên về âm tính (màu nâu)
1.4 Vùng văn hoá Trung Bộ
Đặc trưng văn hóa:
- Là địa bàn tụ cư và khai thác lâu đời của người Việt, một thời kì dài thuộc các tiểu quốc của vương quốc Chămpa
- Văn hóa ẩm thực: hải sản khô mặn, cay, ăn dè hà tiện, món ăn Huế cầu kỳ
- Kiến trúc Huế: đền đài, cung điện, lăng tẩm,nhà vườn
- Có nhiều di sản văn hóa hữu thế còn tồn tại trên mặt đất đó chính là các cháp Chàm
Trang 81.5 Vùng văn hóa Tây Nguyên
Đặc trưng văn hóa:
- Có nhiều lễ hội: đâm trâu, cồng chiêng, hội bỏ mả
- Cồng chiêng và rượu không thể thiếu đối với người
dân Tây Nguyên
- Trang phục màu trầm
1.6 Vùng văn hóa Nam Bộ
Đặc trưng văn hóa:
- Ẩm thực: tổng hợp của các bếp ăn, kết hợp vị ngọt,
cay, lối ăn dân dã, chú trọng yếu tố lạ
- Trang phục: áo bà ba, khăn rằn, màu sắc chủ yếu là
đen
- Tôn giáo và tín ngưỡng xóm ảnh hưởng mạnh đếnđời
người dân, có rất nhiều tôn giáo: đạo Hòa Hảo, đạo
Cao Đài, đạo nằm, đạo câm, đạo dừa
- Âm nhac: Nam bộ là nơi ra đời của vọng cổ, đờn ca
tài tử, hát tuồng rất phát triển, âm nhạc mang
âmhưởng thức oán
Kết luận: Cho thấy sự đa dạng,phong phú và vô cùng đặc sắc của không gian Văn Hóa Việt Nam
2 Đa dạng thời gian, tiến trình lịch sử
2.1 Văn hóa Việt Nam thiên niên kỉ thứ nhất sau công nguyên
- Văn hoá của cộng đồng cư dân châu thổ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, văn hoá Chăm Pa ở ven biển
miền Trung, và văn hoá Óc Eo ở vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long
Tiêu biểu trong thời kì này là văn hóa Bắc Thuộc
2.2 Văn hóa Việt Nam thời độc lập
Thế kỷ XV đánh dấu sự kết thúc của văn hóa Chăm Pa, văn hóa Đại Việt lên ngôi Về tôn giáo và tín ngưỡng, Đạo Phật trở nên thịnh hành và được coi là quốc giáo Các đền đài chùa pháp được xây dựng
và thấm đượm tinh thần Phật giáo trong các công trình như chùa Thanh Đàm, chùa Bảo Thiên, chùa Tiêu Độ (thời Lê sơ) Chữ Nôm cũng bắt đầu xuất hiện ở thời Lý Trần
Văn hóa thời độc lập – tự chủ là nói về văn hóa Đại Việt
2.3 Văn hóa Việt Nam giai đoạn Pháp thuộc:
Ở giai đoạn này, nền văn hóa mang đậm tính phong kiến quân chủ chuyên chế, cùng sự tiếp xuscva giao thoa với văn hóa phương Tây Thứ nhất phải kể đến đó là hệ tư tưởng, là trào lưu dân chủ tư sản và
tư tưởng Mac – Lenin Các tư tưởng tự do, dân chủ, bình đẳng được tiếp thu và phổ biến rộng rãi Về văn hóa vật chất, đô thị phát triển, kéo theo sự phát triển của kiến trúc đô thị, giao thong vận tải, khoa học kỹ thuật Văn hóa xã hội tinh thần có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng Âu hóa trên nhiều lĩnh vực (giáo dục, chữ viết, văn học, nghệ thuật…) Về phương tiện chính trị, văn học lúc này là vũ khí của quần chúng để chống kẻ thù cướp nước, cổ động cho sự tiến bộ của xã hội Việc sử dụng chữ Quốc ngữ
Trang 9để sáng tạo văn học đã trở nên hổ biến Cùng với đó, các thể loại văn học mới ra dời (kí sự, tiểu thuyết )
và các văn học cũ ngày một tiến bộ (văn xuôi)
2.4 Văn hóa Việt Nam từ năm 1945 đến nay:
Đặc trưng của thời kì này là nền tảng lý luận hệ tư tưởng Mác – Lenin cùng sự giao lưu mạnh mẽ, rộng rãi với các dân tộc trên thế giới Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường cùng ảnh hưởng của văn hóa ngược lai cũng tác động không nhỏ tới bản sắc văn hóa dân tộc
B.VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG SỰ THỐNG NHẤT
Mỗi thành phần dân tộc có truyền thống và bản sắc của mình, cả cộng đồng dân tộc Việt Nam có nền văn hóa chung nhất Không có sự đồng hóa hoặc kỳ thị bản sắc văn hóa của các dân tộc 54 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững
sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hoá của các dân tộc anh em Khẳng định một truyền thống đã trải qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, 54 dân tộc anh em Việt Nam đã gắn bó keo sơn, đoàn kết một lòng, chung một khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc, đã vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, hy sinh, cống hiến to lớn về sức người, sức của, máu xương cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng
đất nước
1 Thống nhất về không gian:
Theo truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, các dân tộc đều là “con rồng cháu tiên”, đều là anh
em nở ra từ “bọc trăm trứng”, 54 dân tộc từ cổ chí kim đều xuất phát từ truyền thống con lạc cháu hồng cùng chung tay góp sức tạo nên giá trị văn hóa và bản sắc văn hóa riêng Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là tổng hợp các giá trị tinh thần của dân tộc Nghị quyết Trung ương lần thứ 5 đã nêu rõ: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị văn hóa truyền thống bền vững, những tinh hoa của những cộng đồng của các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước”
2 Thống nhất về thời gian:
Trải qua hàng nghìn năm hình thành và phát triển, chúng ta đã tạo nên một nền văn hoá hiện đại duy nhất Đó là một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Và đến thời kì kinh tế thị trường như hiện nay, mở rộng giao lưu quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đất nước ta vẫn luôn duy trì và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Trong suốt chiều dài lịch sử đó, những cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập chống giặc ngoại xâm, tình đoàn kết dân tộc nổi lên như là một thứ vũ khí sắc bén nhất, mạnh mẽ nhất, là động lực chủ yếu để có thể chiến thắng những kẻ thù tàn bạo và hiếu chiến bên ngoài
3 Thống nhất trong các yếu tố văn hóa cơ bản
3.1 Ngôn ngữ:
Hầu hết các dân tộc Việt Nam đều có ngôn ngữ riêng, nhưng điểm chung những ngôn ngữ đó đều có chung nguồn gốc từ dòng Môn – Khơme của ngữ hệ Đông Nam Á, sau chuyển biến thành tiếng Việt – Mường (hay tiếng Việt cổ) rồi tách ra Sau Cách mạng tháng Tám 1945, tiếng Việt và chữ quốc ngữ trở thành ngôn ngữ phổ biến nhất Đặc điểm của tiếng Việt là đơn âm nhưng vốn từ cụ thể, phong
Trang 10phú, giàu âm sắc hình ảnh, lối diễn đạt cân xứng, nhịp nhàng, sống động dễ chuyển đổi, thiên về đặc trưng, biểu cảm, rất thuận lợi cho sáng tạo văn học nghệ thuật
3.2 Phong tục tập quán:
Theo nghĩa Hán-Việt, Phong là nền nếp đã lan truyền rộng rãi và Tục là thói quen lâu đời Phong
tục ở Việt Nam có truyền thống lâu đời hàng ngàn năm nay, nó đã trở thành luật tục, sâu đậm và gắn chặt trong người dân có sức mạnh hơn cả những đạo luật Sớm nhất được nhắc đến trong lịch sử là tục
ăn trầu có từ thời Hùng Vương trải qua hàng nghìn năm Người Việt cùng một số dân tộc khác vẫn giữ
được tập tục này trong cuộc sống ngày nay, tục ăn trầu bắt nguồn từ truyện “Sự tích Trầu Cau” để rồi
thành biểu tượng cho tình anh em, vợ chồng của người Việt, theo thời gian ý nghĩa của tục ăn trầu được
mở rộng sang việc giao hiếu, kết thân của người Việt Nam Cùng ra đời từ xa xưa với tục ăn trầu là phong tục đón năm mới hay còn gọi là Tết, Tết vừa là một phong tục đồng thời cũng là một tín ngưỡng và cũng là một lễ hội của người Việt cùng một số dân tộc khác Từ Tết Nguyên Đán đón năm mới, theo thời gian với những ảnh hưởng từ Trung Quốc, người Việt Nam bổ sung thêm vào những phong tục Tết khác như Tết Nguyên tiêu, Tết Hàn thực, Tết Đoan ngọ, Tết Trung thu, Tết Thanh minh
Không thấy nhắc đến sớm trong sử sách nhưng các phong tục hôn nhân, sinh đẻ, tang lễ… cũng đã song hành với người Việt Nam từ xa xưa và đến ngày nay vẫn là những phong tục gắn liền với đời sống người Việt Nam Các phong tục đó đều gắn với tính cộng đồng làng xã
3.3 Tín ngưỡng, tôn giáo:
Tín ngưỡng của hầu hết các dân tộc Việt Nam từ cổ xưa đã bao hàm: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng sùng bái con người Như mọi nơi trên thế giới, từ thuở xa xưa các dân tộc trên đất Việt Nam đã thờ rất nhiều thần linh Các dân tộc thờ tất cả các thế lực vô hình và hữu hình mà thực chất là các hiện tượng thiên nhiên và xã hội chưa thể giải thích được vào thời đó
Người xưa cho rằng bất cứ vật gì cũng có linh hồn, nên người ta thờ rất nhiều thần, nguyên thủy
họ thờ thần Mặt Trời, thần Mặt Trăng, thần Đất, thần Sông, thần Biển, thần Sấm, thần Mưa, những vị thần gắn với những ước mơ thiết thực của cuộc sống người dân nông nghiệp Đi sâu vào cuộc sống hằng ngày họ thờ thần Nông là thần trông coi việc đồng áng, thần Lúa, thần Ngô với hy vọng lúc nào ngô lúa cũng đầy đủ Không chỉ các vị thần gắn với đời sống vật chất, các dân tộc còn thờ các vị thần gắn với đời sống tinh thần của họ Người Việt thờ các thần Thành Hoàng, các vị anh hùng dân tộc, các vị thần trong đạo mẫu Họ là các vị thần có công lớn với đất nước, với làng xã, dân chúng thờ phụng các vị thần này để tỏ lòng biết ơn và cầu mong các vị phù hộ họ Thờ cúng tổ tiên và cúng giỗ người đã mất là một tục lệ lâu đời của người Việt và một số dân tộc khác Họ tin rằng linh hồn của tổ tiên cũng ở bên cạnh con cháu và phù hộ cho họ Chính vì như vậy nên gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên và bàn thờ được đặt nơi trang trọng nhất trong nhà Ngoài các ngày giỗ, tết thì các ngày mùng một, ngày rằm họ thắp hương như một hình thức thông báo với tổ tiên ông bà Nói đến tục thờ cúng tổ tiên, người ta đều biết tới một ngày giỗ tổ chung cho cho người Việt đó là ngày giỗ tổ Hùng Vương vào ngày 10 tháng 3 Trên danh nghĩa, các tôn giáo ở Việt Nam gồm: Phật giáo Đại thừa, Khổng giáo và Đạo giáo (được gọi là "Tam giáo") Có một số tôn giáo khác như Công giáo Rôma, Cao Đài và Hòa Hảo Những nhóm tôn giáo có ít tín đồ hơn khác gồm Phật giáo Tiểu thừa, Tin Lành và Hồi giáo Phần đông đa số người dân Việt Nam xem họ là nhưng người không có tín ngưỡng, mặc dù họ cũng có đi đến các địa điểm tôn