1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN CHÍNH TẢ 2020 2021

14 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 874,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế nhưng học sinh hiện nay còn quá yếu, trong việc viết chính tả, học sinh cùng học một chương trình, nhưng mà số em đã tiếp thu bài tốt nhưng cũng có một số em tiếp thu bài còn yếu, gâ

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 7 TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN QUY

….….

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

THÁNG 09 – 2020

Người thực hiện: TRẦN THỊ THÙY TRANG Chức vụ: GVCN

Thời gian thực hiện: Năm học 2020 – 2021

Trang 2

Phần A: Giới thiệu Phần B: Nội dung Đặt vấn đề

Nội dung

Kết luận

Trang 3

Người thực hiện: TRẦN THỊ THÙY TRANG

Đơn vị công tác: Trường TH TÂN QUY

Thời gian thực hiện: năm học 2020 – 2021

Phạm vi áp dụng: Lớp 2

ĐỀ TÀI :

Trang 4

BAN GIÁM HIỆU TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN QUY

GIỚI THIỆU

Cô: TRẦN THỊ THÙY TRANG

Chức vụ được giao: GVCN

Xác nhận giá trị đề tài của đơn vị

Ngày….tháng… năm 2020 Xác nhận của Phòng Giáo dục và đào tạo-quận 7

Trang 5

2016

Trang 6

A.ĐẶT VẤN ĐỀ

Môn học Tiếng Việt là môn học cơ sở nền tảng giúp các em nghe viết và học được các môn khác

Môn tiếng việt có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện ở dạng kỷ năng, nghe, nói, đọc, viết Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng lời nói sang chữ viết và thông hiểu nó cho nên khi học tiếng mẹ đẻ cũng như học bất kỳ thứ tiếng nước ngoài nào ta cũng đồng thời học 4 bộ phận ngữ âm ,từ vựng ,ngữ pháp, chữ viết Nếu chỉ học thiếu một trong bốn bộ phận trên thì kết quả các em sẽ không biết chữ Nếu viết không đúng thì người đọc sẽ không hiểu và cũng có thể hiểu nhầm ý nghĩa lời nói, như vậy chính tả là tầm quan trọng, nên chính tả là môn được đưa vào trường tiểu học sớm nhất

Thế nhưng học sinh hiện nay còn quá yếu, trong việc viết chính tả, học sinh cùng học một chương trình, nhưng mà số em đã tiếp thu bài tốt nhưng cũng có một

số em tiếp thu bài còn yếu, gây ra rất nhiều khó khăn vất vả cho người giáo viên, trực tiếp giảng dạy

Như vậy để nâng cao chất lượng dây là vấn đề bản thân tôi phải giải quyết năm học qua Đó chính là lý do tôi chọn đề tài này nghiên cứu (Nâng cao chất lượng học sinh yếu môn chính tả lớp 2 ở trường tiểu học) Một công việc dể nhưng khó

Chính tả là hệ thống chữ viết được xem là chuẩn mực của một ngôn ngữ Khác với chính âm, việc viết đúng chính tả là điều bắt buộc phải tuân thủ Bởi lẽ, việc giao tiếp bằng ngôn ngữ nói có sự hỗ trợ của các yếu tố phi ngôn ngữ như hành động, cử chỉ, điều chỉnh nên nội dung vẫn được hiểu đúng dù người nói có phát âm không chuẩn Còn trên chữ viết, viết thế nào được hiểu như thế, không có một dấu hiệu nào để người đọc hiểu đúng khi người viết không chuẩn

Trang 7

Trong nhà trường Tiểu học, phân môn Chính tả được dạy với tư cách là một môn học và chỉ có trong trường Tiểu học, học sinh mới được học Chính tả Vì vậy, Chính tả có một vị trí quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của môn “ Tiếng việt” là rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kĩ năng nghe cho học sinh, kết hợp rèn luyện một

số kĩ năng sử dụng tiếng việt và phát triển tư duy cho học sinh Nếu ở Tiểu học, học sinh đã mắc phải những lỗi chính tả thì sau này rất khó sửa và ảnh hưởng tới suốt quá trình học tập cũng như công việc của các em sau này

Như vậy, phân môn Chính tả có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh các quy tắc chính tả và hình thành kĩ năng viết đúng chính tả Ngoài ra, phân môn Chính tả còn rèn ở các em học sinh đức tính như: cẩn thận, tính thẩm mĩ, sự yêu thích và có ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng việt Dạy tốt chính tả cho học sinh tiểu học là góp phần rèn luyện một trong bốn kĩ năng cơ bản mà các em cần đạt tới Đó là kĩ năng viết đúng, muốn viết đúng câu văn, đoạn văn thì trước hết học sinh cần viết đúng đơn vị từ

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh còn mắc nhiều lỗi sai chính

tả Vì thế tôi quyết định chọn đề tài “ Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2”

để tìm ra phương pháp và biện pháp rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp 2

Trang 8

B NỘI DUNG

I THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

1.1 Thực trạng:

Qua quá trình giảng dạy, tôi thấy học sinh thường mắc phải các lỗi sau:

Lỗi về dấu thanh:

- Tiếng việt có 6 thanh (sắc, huyền, ngã, nặng, ngang, hỏi) thì nhiều học sinh thường không phân biệt được hai thanh : ngã - hỏi Số lượng tiếng chứa hai thanh này rất phổ biến

VD: sữa xe (sửa xe), nghĩ ngơi (nghỉ ngơi), suy nghỉ (suy nghĩ), lẩn lộn (lẫn

lộn),

Lỗi phụ âm đầu:

- Học sinh thường lẫn lộn khi viết các chữ cái ghi các âm đầu sau:

ng/ ngh: nge ngóng (nghe ngóng), ngỉ ngơi (nghỉ ngơi), nghành nghề (ngành

nghề ),

g/ gh: gê gớm (ghê gớm), gi nhớ (ghi nhớ),

ch/ tr: cây che (cây tre), tre nắng (che nắng), tre trở (che chở), cha ngô (tra

ngô),

s/ x: sa sôi (xa xôi), xa mạc (sa mạc), cây xả (cây sả), giọt xương (giọt

sương),

d/ v: dề nhà (về nhà), di du (vi vu), dui dẻ (vui vẻ),

d/ r/ gi: dành dật (giành giật), giải lụa (dải lụa), giành giụm (dành dụm),

Lỗi âm cuối và vần:

at/ ac: mác mẻ (mát mẻ), bạc mạng (bạt mạng), lát đát (lác đác),

ăt/ ăc: gặc lúa (gặt lúa), mắt áo (mắc áo), sâu sắt (sâu sắc),

ât/ âc /ưc : quả gất (quả gấc), đạo đất (đạo đức), vực lộn (vật lộn),

ut/ uc: cao vúc (cao vút), hút đổ (húc đổ),

an/ ang: cây bàn (cây bàng), hàng ngàng (hàng ngàn),

ong/ ông: đàn ong (đàn ông), trong thấy (trông thấy), lòng lọng (lồng lộng),

ân /âng/ ưng: từng tảo (tần tảo), gác lửng (gác lẩng)

ao/ au: chào màu (chào mào), lao bảng (lau bảng), cây cao (cây cau),

ai/ ay : máy bai (máy bay), bàn tai (bàn tay), máy cài (máy cày),

Trang 9

ên/ ênh: bên vực (bênh vực),

im/ iêm: tìm kím (tìm kiếm), cánh đồng chim (cánh đồng chiêm),

iên/ uyên: liên thiên (luyên thuyên), tiền tiến (tiền tuyến),

Về viết hoa danh từ riêng:

Học sinh thường hay mắc lỗi này khi viết tên riêng chỉ tên người, tên địa lý, tên riêng nước ngoài, nhất là học sinh yếu, nếu không được giáo viên nhắc nhở khi đang viết chính tả thì khó có thể viết đúng được

Ví dụ: Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương, Cách mạng tháng Tám

1.2 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên:

- Do các em phát âm chưa đúng chính âm dẫn đến tình trạng đọc sao viết vậy, các

em hay lẫn lộn giữa thanh hỏi - thanh ngã

VD: suy nghĩ => suy nghỉ

- Do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương: vì đối tượng học sinh của tôi phần lớn là các em thuộc diện gia đình lao động , dân nhập cư (tạm trú, thuê nhà) đến từ các tỉnh, vùng miền khác nhau

Ví dụ: Người miền Bắc thường sai khi viết các âm đầu, như l - n (lặng lẽ - nặng nẽ.

Người miền Nam thường sai khi viết các âm cuối, như n - ng (lan man - lang mang); viết sai dấu hỏi / ngã, như (lí lẽ - lí lẻ); viết sai âm đầu, như (vui vẻ - dui dẻ)

- Do các em chưa có động cơ, thái độ đúng đắn trong việc học và rèn luyện viết chính tả, khi viết các em còn lơ là, thiếu tập trung vào bài viết, lâu ngày tạo cho các

em thói quen “viết quen tay”

- Do các em không nắm được nguyên tắc kết hợp các chữ cái, quy tắc viết hoa trong Tiếng việt, quy tắc chính tả, chưa hiểu nghĩa của từ

Ví dụ: nghỉ ngơi => ngỉ ngơi

- Một số học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên các em ít có sự quan tâm từ gia đình cũng như điều kiện đọc thêm sách báo dẫn đến vốn từ của các em còn hạn chế

- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các em nhanh nhớ nhưng cũng mau quên, mức

độ tập trung thực hiên các yêu cầu bài học chưa cao

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

2.1 CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN.

2.1.1 Khảo sát chất lượng để phân loại đối tượng HS:

Trang 10

Việc khảo sát chất lượng học sinh giúp cho tôi nắm được các lỗi sai mà học sinh mắc phải để phân loại học sinh thành các nhóm cá thể hóa và từ đó đưa ra các biện pháp và vận dụng các hình thức, phương pháp dạy học phù hợp

2.1.2 Thành lập nhóm học tập:

Dựa trên cơ sở chất lượng đã khảo sát, tôi tiến hành phân loại HS theo nhóm đối tượng học lực môn và chia nhóm học tập

2.1.3 Tích cực luyện phát âm đúng:

Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm đúng chuẩn, đúng chính âm, đồng thời chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm cuối Việc rèn phát âm bắt đầu phải được thực hiện trong tiết Tập đọc và được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn…

2.1.4 Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh:

Song song với việc phát âm, giáo viên có thể áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, phát hiện những điểm khác nhau để học sinh lưu ý và ghi nhớ

Ví dụ: Khi viết tiếng “hàn” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “hàng”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:

- hàn = h+ an + thanh huyền

- hàng = l + ang+ thanh huyền.

So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “hàn” có âm cuối là “n”, tiếng

“hàng” có âm cuối là “ng” Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai

2.1.5 Phân biệt bằng nghĩa từ:

Một biện pháp khác để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giúp học sinh hiểu nghĩa chính xác của từ Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu…nhưng trong tiết Chính tả cũng là một biện pháp tích cực, khi học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hoặc phân tích cấu tạo tiếng

Ví dụ: Phân biệt bàn và bàng (trong từ đơn):

+ Bàn: cái bàn – bàng : cây bàng hoặc phân biệt Bác

+ Bác: anh của ba, Bác Hồ - bát : đồ dùng ăn cơm (miền Bắc thường gọi là

“bát”, miền Nam gọi là “chén”)

Với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ

Trang 11

2.1.6 Ghi nhớ một số mẹo luật chính tả:

Một số hiện tượng chính tả mang tính quy luật đối với hàng loạt từ có thể giúp cho học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu Các em đã

được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết

hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie

Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:

+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên

con vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén,

chum, chạn, chĩnh, chum,… , chồn, chó, chuột, chim, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…

+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều

bắt đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sậy, sấu,

sến, sầu riêng, so đũa…, sáo, sâu, sên, sếu, sứa, sáo sậu, sư tử, sơn dương, san hô…

2.1.7 Vận dụng củng cố bằng các bài tập chính tả:

Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ

2.1.8 Tổ chức các trò chơi học tập trong quá trình dạy chính tả :

Để tạo được không khí sôi nổi trong tiết học Chính tả, kích thích sự hứng thú của

HS, tôi thường tổ chức luyện tập qua trò chơi Tuỳ theo từng loại hình bài tập tôi sử dụng trò chơi thích hợp Cụ thể như sau:

Được sử dụng khi dạy các bài tập trắc nghiệm, bài tập giải những câu đố

Trò chơi “ Ai nhanh, ai đúng?”

Được sử dụng khi dạy các bài tập lựa chọn, bài tập phát hiện

VD1: Chọn từ thích hợp trong ngoặc để điền vào chỗ trống trong các câu sau:

 Lớp lớp hoa giấy kín mặt sân (rải/ rãi)

 Kể phải trung thành với (truyện/ chuyện)

 Con người là vật kì diệu nhất trên trái đất (sinh/ xinh)

VD2: Tìm các từ sai chính tả trong các câu sau và viết lại cho đúng vào bảng con.

 Tốt gổ hơn tốt nước xơn

Trang 12

 Sấu người, đẹp nết.

 Mùa hè cá xông, mùa đông cá bễ

Trò chơi “Truyền điện”:

Được sử dụng cho các bài tập điền khuyết

VD1: Điền vào chỗ trống:

 L/n: long … anh; nôn …ao; …anh lảnh

 S/x: ….uất khẩu; năng …uất; san …ẻ; …ẻ gỗ

 Ươn/ương: tr… lên, chiến tr…, bay l…, số l…

Trò chơi “ Tiếp sức”:

Thường sử dụng cho các bài tập tìm từ

VD1: Tìm các từ có chứa tiếng có vần “ươc” hoặc “ươt” có nghĩa như sau:

-Dụng cụ để đo, vẽ, kẽ

-Một môn thể thao ở những nơi có nước đóng băng

-Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh

VD2: Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có nghĩa như sau:

-Trái nghĩa với thật thà

-Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố

-Cây trồng để làm đẹp

-Khung gỗ để dệt vải

2.1.9 Dạy tích hợp môn Chính tả trong khi các em học các môn học khác:

Ngoài những biện pháp đã làm như đã nêu trên, tôi luôn coi trọng việc chấm, chữa bài, theo dõi, sửa sai cho HS ở bất cứ lúc nào có thể và ở tất cả các môn học

có liên quan đến ngôn ngữ viết- không đợi đến giờ Chính tả mới sửa sai cho các

em Tôi thường giúp các em tập thói quen đọc đúng trong các môn được học để viết đúng; nhận ra nghĩa của từ để viết đúng chứ không đơn thuần dựa vào phát âm

để viết như ở các lớp Một, lớp Hai

C KẾT LUẬN

Trang 13

I KẾT QUẢ THỰC HIỆN

Trong quá trình giảng dạy, với việc áp dụng các biện pháp trên tôi nhận thấy học sinh đã có tiến bộ khá rõ rệt, kích thích được tính tò mò, khơi dậy lòng ham hiểu biết cho học sinh Đồng thời, đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Chất lượng học tập môn Chính tả có chuyển biến rõ nét; khắc phục được tình trạng yếu kém chính tả phổ biến trong lớp tôi chủ nhiệm, giúp HS có điều kiện học tốt các môn học khác Ngoài ra, vốn kiến thức về chính tả nói riêng và vốn từ ngữ của các em ngày càng phong phú hơn trước

Tuy rằng đây mới chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn và việc “giúp học sinh học tốt môn chính tả” là một quá trình lâu dài song với những kết quả bước đầu như trên, nếu tiếp tục rèn luyện các em sẽ có kỹ năng viết đúng đạt yêu cầu

II BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

Trong quá trình thực hiện tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm sau:

- GV phải nắm được đặc điểm của HS lớp, biết mỗi HS yếu về lỗi gì ?Từ đó chia nhóm học tập phù hợp

- Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước tiên giáo viên phải đọc rõ ràng, đúng chính âm, đồng thời chú ý rèn kĩ năng nghe, đọc, viết cho học sinh trong tất cả các môn học

- Rèn kĩ năng tư duy cho học sinh: quan sát, phân tích, so sánh, đối chiếu, để từ

đó học sinh rút ra qui tắc chính tả

- Giúp học sinh ghi nhớ chữ viết bằng cách gắn với nghĩa của từ, tốt nhất là cung cấp từ trong ngữ cảnh hoặc sử dụng các hình ảnh, đồ dùng trực quan để khắc sâu trí nhớ cho học sinh

- Phân tích, hướng dẫn tỉ mỉ về âm tiết đối với học sinh

- Chấm chữa chính tả, giáo viên cần chỉ rõ lỗi sai của học sinh (sai ở đâu, sai như thế nào, sửa như thế nào, ), đồng thời kiểm tra việc chữa lỗi của học sinh, sửa sai chính tả cho HS ở mọi lúc ( không chờ đến tiết Chính tả mới sửa sai cho HS)

- Phải nghiên cứu kĩ bài dạy, luôn làm mới phương pháp dạy học, cách học để HS thấy hứng thú trong khi học chính tả

- Phát hiện lỗi chính tả, đưa ra các biện pháp khắc phục kịp thời là rất cần thiết, không thể thiếu trong quá trình dạy - học Nhưng không phải chỉ đưa ra các biện pháp khắc phục là có thể thực hiện một cách có hiệu quả Sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền

bỉ Giáo viên nên hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ…Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần

Ngày đăng: 23/06/2021, 22:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w