* Về thực tiễn: Từ việc khẳng định thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử, chúng ta thấy được những đặc sắc trong sáng tác của tác giả.. Nhưng dù Hàn Mặc Tử là người như thế nào, có một
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA NGỮ VĂN
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
THÔNG TIN HÀM NGÔN TRONG
THƠ HÀN MẶC TỬ
Sinh viên thực hiện: HUỲNH THANH TUYỀN
HUỲNH THANH THẢO
Lớp: D12NV02 Khóa: 2012 – 2016
Giảng viên HD: TS PHAN THỊ AI
Bình Dương, ngày 02 tháng 05 năm 2015
Trang 2UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: THÔNG TIN HÀM NGÔN TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ
- Sinh viên thực hiện: Huỳnh Thanh Tuyền
Huỳnh Thanh Thảo
- Lớp: D12NV02 Khoa: Ngữ Văn Năm thứ: 3
Số năm đào tạo: 4
3 Tính mới và sáng tạo:
- Tiếp cận thơ Hàn Mặc Tử ở khía cạnh thông tin hàm ngôn
- Đi sâu vào giải thích những biện pháp tu từ để thấy được thông tin hàm ngôn
- Dựa vào hoàn cảnh sáng tác, Cuộc đời nhà thơ để làm rõ ẩn ý chứa đựng bên trong
4 Kết quả nghiên cứu:
Trang 3Trong phong trào thơ mới có sự xuất hiện của rất nhiều thi nhân vừa tài năng, vừa có
cá tính riêng Một trong số đó chính là Hàn Mặc Tử Hàn mang trong người một căn bệnh nan y, cuộc sống gần như khép lại cách biệt với thế giới xung quanh Thế nhưng với Hàn cuộc sống chưa bao giờ kết thúc mà còn kết nối mãi cho đến những ngày cuối đời theo cách riêng của ông Không những vậy, ông còn để lại cho đời những vần thơ trác tuyệt với những hàm ý sâu xa mà người đời sau phải cố tìm tòi, khám phá
Trong tập thơ Đau thương đã tái hiện rõ nét quá trình chuyển biến tâm trạng của Hàn
từ khi mới chớm bệnh cho đến những ngày cuối đời Ở phần đầu Hương thơm, Hàn Mặc
Tử như vẽ lên một bức tranh cuộc sống đầy sức quyến rũ, tràn ngập những âm thanh sống động, đa dạng sắc màu và cũng chan chứa ân tình thi sĩ bằng tất cả các giác quan của mình (óc quan sát tinh tế, sự cảm nhận sâu sắc của tâm hồn …) Hàn còn dùng các biện pháp như nêu ra các câu hỏi tu từ, câu cảm thán để nêu lên những suy tư trăn trở về tình yêu; các từ láy tượng thanh, tượng hình để biểu lộ cảm xúc trong tình yêu và cuộc sống khi thì say mê vui sướng lúc lại giận hờn ghen tuông Từ đó cho thấy Hàn Mặc Tử là một thi nhân có niềm say mê mãnh liệt, sự trân trọng tuyệt đối cuộc sống đầy màu sắc, tình yêu đầy mật ngọt và cũng không ít đắng cay
Đến với phần hai Mật đắng, Hàn như bị cuốn vào những nỗi niềm trăn trở với cuộc đời
đầy đau thương mất mác, với tình yêu đầy cách trở không sao với tới được Thi sĩ đã khéo léo sử dụng những câu hỏi tu từ như tự hỏi chính bản thân: vì sao cuộc sống luôn ẩn chứa đầy nỗi buồn và tình yêu thì không thể hoàn mĩ, trọn vẹn được? Hàng loạt các từ láy được Hàn ưu ái sử dụng để lột tả cảm xúc trước khung cảnh đau thương, cô đơn Ngoài ra, chúng tôi còn thấy được hai tuyến ngôn ngữ đối lập : một bên là những từ ngữ yêu đương tình ái ngọt ngào (uyên ương, tình yêu, mộng tình si ), một bên lại là những từ ngữ chia li cách biệt (chia li, tiễn biệt, lỡ dỡ, kêu gào ) Từ đó có thể thấy, các sáng tác của Hàn trong phần hai này đã dần nhận ra sự thật của cuộc đời Cuộc đời tuy tươi đẹp nhưng cũng mang nhiều bất hạnh và tình yêu cũng vậy- sẽ dần bị chi phối trước sự cách trở của cuộc đời, không gian và thời gian Hàn đã dần thức tỉnh, dần ý thức được hoàn cảnh bản thân và luôn canh cánh tìm cách vượt lên số phận
Cuối cùng là phần ba Máu cuồng và hồn điên, Hàn Mặc Tử dựa vào tâm hồn thi sĩ với
một loạt các từ ngữ: cõi mộng ảo, thiên đường, hồn phách, thần tiên, sông Ngân Hà, chơi với trăng sao, vũ trụ ; các từ láy tăng cấp làm tâm hồn Hàn tươi mới hơn Hàn dần rơi
Trang 4vào trạng thái hư không, thoát xác, đắm mình trong bầu không khí ảo tưởng để được giải thoát trong phút chốc khỏi sự đau đớn, dằng vặt của bệnh tật, nỗi đau mất tình yêu, mất người yêu Ngôn ngữ trong phần này lại càng mạnh mẽ, thống thiết hơn gợi cảm giác ghê rợn (máu trào ra, vũng máu đào, ) Qua đó, thi sĩ càng nhận thức rõ nghịch cảnh của mình, cố tìm mọi cách ra khỏi thực tại, trân trọng cuộc sống và tình yêu, cố gắng níu giữ, nhưng càng muôn níu giữ Hàn càng rơi vào bi kịch
Thông tin hàm ngôn chứa đựng trong tâp thơ Đau thương trên rất đa đạng và phong
phú, cần phải tìm hiểu nhiều và cụ thể hơn Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã hết sức cố gắng làm nổi bậc ý nghĩa trong phạm vi có thể và đó cũng chính là sự đóng góp của đề tài này
Tóm lại, thông tin hàm ngôn trong tập Đau thương muốn nói lên tinh thần lạc quan, yêu
đời và yêu người của nhà thơ dù trong hoàn cảnh đau thương nhất Cảm xúc của nhà thơ không khi nào vụt tắt mà ngược lại còn bùng lên mạnh mẽ trong cơn đau thể xác Hàn Mặc Tử thực sự đã làm được điều kì diệu khi vượt qua nỗi bất hạnh của chính mình để trở
thành một hiện tượng trong nền thi ca Việt Nam
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội,giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
* Về lí luận: Nghiên cứu thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử góp phần làm sáng tỏ những nét độc đáo trong phong cách thơ Hàn Mặc Tử nhằm khẳng định tài năng của thi nhân Đồng thời, xác định những đặc trưng nghệ thuật tạo nên giá trị thơ của Hàn Mặc Tử
* Về thực tiễn: Từ việc khẳng định thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử, chúng ta thấy được những đặc sắc trong sáng tác của tác giả Qua đó giúp ta nâng cao kỹ năng đọc hiểu văn bản, đặc biệt là tìm hiểu về nghĩa hàm ngôn, tức là phần chìm theo thuyết tảng băng trôi của Ernest Hemingway
Có thể sử dùng làm tài liệu cho những việc sau:
- Tham khảo khi nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử
- Nghiên cứu về thông tin hàm ngôn
- Học tập, giảng dạy về thơ Hàn Mặc Tử
- Tham khảo trong việc so sánh thơ Hàn Mặc Tử với các nhà thơ khác và ngược lại
Ngày 02 tháng 05 năm 2015
Trang 5Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện
đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Ngày tháng năm
Xác nhận của lãnh đạo khoa
(ký, họ và tên)
Người hướng dẫn
(ký, họ và tên)
Trang 6UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Huỳnh Thanh Tuyền
Sinh ngày: 23 tháng 04 năm 1994
Nơi sinh: Sông Bé
Lớp: D12NV02 Khóa: 2012- 2016
Khoa: Ngữ Văn
Địa chỉ liên hệ: 334/12 Ấp 2 Tân Định Bến Cát Bình Dương
Điện thoại: 01694711087 Email: thanhtuyenhuynh2304@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm đang
Trang 7* Năm thứ 3:
Ngành học: Sƣ phạm ngữ văn Khoa: Ngữ văn
Kết quả xếp loại học tập học kỳ 1: Giỏi
Sơ lƣợc thành tích: là bí thƣ chi Đoàn D12NV02
Trang 8DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trang 9NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 10
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 11
LỜI MỞĐẦU
Phong trào Thơ mới đã đánh dấu một bước nhảy vọt trong nền văn học Việt Nam hiện đại Dấu ấn đặc sắc nhất của phong trào này chính là sự phá cách không đi theo những lối xưa cũ, truyền thống Nói như vậy không đồng nghĩa Thơ mới phủ nhận tất cả những thành tựu của các thi nhân đi trước mà là kiến tạo thêm những chất liệu thơ mới trên nền móng có trước Sự phá cách của những thi nhân trong nền thơ này luôn hướng đến sự phù hợp với tâm lý của người thời đại và bắt kịp xu hướng phát triển của xã hội Chính nhờ những thay đổi mang tính tích cực trên đã khiến những sáng tác của các tác giả gần gũi và được sự đón nhận nhiệt tình từ giới trẻ Hàn Mặc Tử chính thức gia nhập phong trào “Thơ mới” năm 1936 với tập thơ Gái quê, ông được xem là nhà thơ lạ nhất trong phong trào “Thơ mới”, người “cai trị Trường thơ loạn của các nhà thơ Bình Định”
Nhiều người cho rằng, Hàn Mặc Tử là thiên tài hay ngươi mê hoặc, điên loạn? Nhưng dù Hàn Mặc Tử là người như thế nào, có một điều không thể phủ nhận: ông đã để lại một dấu ấn không thể hòa lẫn với bất kì nhà thơ nào cùng thời và mang lại những nét
cá tính sáng tác trong lịch sử văn chương Việt Nam thế kỉ XX Cũng như thơ Đường luật, Thơ mới của tác giả rất được độc giả chú ý Thơ Mới của Hàn phần nhiều mới ở tình tứ và hơi văn
Trên hành trình tinh thần của Hàn Mặc Tử, thơ ca chính là sự cứu rỗi linh hồn để nhà thơ hòa với thiên nhiên, tìm đến cõi vĩnh hằng của thể xác Nỗi buồn là âm hưởng chủ đạo của Thơ mới, nhưng đến với các thi sĩ của Trường thơ Loạn, trên cả nỗi buồn là nỗi đau Trạng thái đau thương được đẩy đến tột cùng, trở thành thời điểm mà nhà thơ như điên, như cuồng, như loạn Khi ấy, cảm xúc trở thành nguồn thi hứng mãnh liệt, dạt dào để thăng hoa thành thơ, để thơ nở ra “những bông hoa thần dị” Vì thế, sáng tác của Hàn Mặc
Tử là kết tinh từ nỗi đau quằn quại của linh hồn bất hạnh với khát vọng sống mãnh liệt Từ khi xuất hiện đến ngày hôm nay, thơ Hàn vẫn mới vẫn hấp dẫn người đọc Nếu ai đã từng
có lần đọc thơ Hàn Mặc Tử và ngẫm nghĩ sẽ thấy ông đưa vào đấy cả những tầng ý nghĩa
ẩn sâu Đối với những thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử luôn là một thế giới mà
do tác giả tự tạo dựng nên Nó góp phần làm nên nét độc đáo, nét mới cho thơ ông Những sáng tác của thi nhân đã trở thành những tài sản vô cùng quý giá xuyên không gian, xuyên thời gian, xuyên thế kỉ
Trang 12Hàm ngôn là do suy ý từ câu chữ trong văn bản Phương thức cấu tạo hàm ngôn là
do cách thức sử dụng yếu tố từ ngữ, sự kết hợp các từ ngữ đó theo những quy tắc nhất định trong ngữ cảnh cụ thể tạo ra nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn Thông tin hàm ngôn giúp người đọc phát hiện ra những ý nghĩa ẩn sâu trong các sáng tác Hàn Mặc Tử Một khi người đọc nhận diện được thông tin hàm ngôn sẽ phần nào tái hiện một cuộc đời và phong cách sáng tác của nhà thơ mệnh danh là “nhà thơ Điên” của Việt Nam
Hiện tại, những thành viên trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi đều đang theo học chuyên ngành sư phạm ngữ văn của trường Đại học Thủ Dầu Một Chúng tôi cảm thấy mình có trách nhiệm phấn đấu học tập vì sự nghiệp “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Thông qua những lý thuyết được chúng tôi tiến hành nghiên cứu những thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử
Dường như trong mỗi bài thơ, Hàn Mặc Tử đều gửi gắm một cõi lòng Vì vậy, nếu nghiên cứu tất cả những sáng tác của thi nhân là một việc làm cực kì khó khăn Với thời
gian cho phép, nhóm nghiên cứu xin chỉ tìm hiểu trong tập thơ Đau thương Bởi lẽ, Đau
thương đánh dấu một thời kì quan trọng trong cuộc đời Tử Trong khoảng thời gian này,
ông dần đối mặt với những khắc khoải trong cuộc sống và chính giai đoạn này tài năng thơ của Hàn đạt đến độ thực- hư khó phân biệt Nội dung nghiên cứu gồm ba phần lớn:
Thông tin hàm ngôn trong phần Hương thơm
Thông tin hàm ngôn trong phần Mật đắng
Thông tin hàm ngôn trong phần Máu cuồng và hồn điên
Chúng tôi tin rằng những nghiên cứu đang tiến hành sẽ phần nào giúp cho nhóm nghiên cứu nói riêng và mọi người nói chung có được cái nhìn đa chiều và rõ nét hơn về thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử, góp một tiếng nói nhận diện phong cách thơ Hàn
Bình Dương, ngày 11 tháng 4 năm 2015
Trang 13z
LỜI CÁM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, Phòng nghiên cứu khoa học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài
Các thầy cô trong văn phòng khoa Ngữ Văn trường Đại học Thủ Dầu Một đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi tiến hành việc nghiên cứu
Các cán bộ thư viện tỉnh Bình Dương, thư viện trường Đại học Thủ Dầu Một luôn tận tình hướng dẫn những đầu sách tham khảo và phục vụ tận tâm việc mượn tài liệu cần thiết cho quá trình nghiên cứu đề tài
Đặc biệt, Giảng viên hướng dẫn Tiến sĩ Phan Thị Ai đã hướng dẫn tận tâm, chỉ bảo, góp ý và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình hoàn thành đề tài
Xin gửi lới cảm ơn tới bạn b , các anh chị em trong lớp D12NV02 đã động viên và giúp đỡ chúng tôi trong những lúc gặp khó khăn
Xin chân thành cảm ơn ba mẹ, anh chị em đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ chúng tôi học tập làm việc và hoàn thành đề tài…
Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn nhiều hạn chế, xin ghi nhận tất cả các ý kiến, đánh giá, nhận xét bổ sung cho bài viết này của tất cả thầy cô và các bạn
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm nghiên cứu
Trang 14MỤC LỤC
Mở đầu 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 22
1.1 Khái quát về phong trào thơ mới 22
1.2 Đọc hiểu tác phẩm văn chương 26
1.2.1 Bản chất của hoạt động đọc hiểu 26
1.2.2 Điều kiện tiên quyết của đọc hiểu tác phẩm văn chương 27
1.3 Nghĩa của từ 28
1.3.1 Nghĩa biểu vật 28
1.3.2 Nghĩa biểu niệm 28
1.3.3 Nghĩa biểu thái 29
1.4 Nghĩa của văn bản 30
1.4.1 Thông tin hiển ngôn 30
1.4.2 Thông tin hàm ngôn 30
1.4.3 Phân loại tổng quát nghĩa hàm ẩn 31
1.4.4 Đặc điểm có thể phân biệt tiền giả định và hàm ngôn 31
1.4.5 Cơ chế tạo ra nghĩa hàm ẩn cố ý 32
1.4 Các phương tiện tu từ ngữ nghĩa 34
1.5.1 Nhóm so sánh 34
1.5.2 Nhóm ẩn dụ 35
1.5.3 Nhóm hoán dụ 37
1.6 Tiểu kết 39
CHƯƠNG 2: ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ HÀN MẶC TỬ VÀ TẬP THƠ ĐAU THƯƠNG 2.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Hàn Mặc Tử 40
2.1.1 Cuộc đời Hàn Mặc Tử 40
2.1.2 Sự nghiệp của Hàn Mặc Tử 41
2.2 Giới thiệu về tập thơ Đau thương 44
CHƯƠNG 3: THÔNG TIN HÀM NGÔN TRONG TẬP THƠ ĐAU THƯƠNG CỦA HÀN MẶC TỬ 3.1 Thông tin hàm ngôn trong phần Hương thơm 45
Trang 153.1.1 Một cuộc sống đầy quyến rũ 45
3.1.2 Sự khắc khoải trong tình yêu 51
3.2 Thông tin hàm ngôn trong phần Mật đắng 65
3.2.1 Nỗi khắc khoải với đời 65
3.2.2 Nỗi đau tình yêu tan vỡ 68
3.3 Thông tin hàm ngôn trong phần Máu cuồng và hồn điên 74
3.3.1 Ước nguyện tình yêu vượt ra ngoài vũ trụ 74
3.3.2 Tình cảm đặc biệt với trăng 78
3.3.3 Nỗi đau bệnh tật và một lòng hướng về tình yêu 81
3.4 Tiểu kết 85
KẾT LUẬN 87
Hình ảnh về Hàn Mặc Tử 89
Tài liệu tham khảo 91
Trang 171.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Tiếp cận thơ từ góc độ ngữ nghĩa là một việc làm cần thiết và đáng được quan tâm Thông tin trong một tác phẩm không chỉ nằm ở thông tin hiển ngôn trên bề mặt câu chữ mà chủ yếu là những tầng nghĩa ẩn sâu bên trong thông qua các phương thức và phương tiện tu từ mà tác giả sử dụng Thông tin hàm ngôn ấy sẽ giúp người đọc cảm nhận một cách sâu sắc tâm tư, tình cảm và tiếng lòng mà tác giả muốn gửi gắm vào đấy Đồng thời, thông tin hàm ngôn này sẽ giúp người đọc có cái nhìn khách quan đối với những tác phẩm thơ dựa vào những dữ liệu là ngôn ngữ
1.2 Hàn Mặc Tử là một nhà thơ vừa mới lại vừa lạ Ông lạ trong số các nhà thơ của phong trào Thơ mới và mới so với những gì có trong nền thơ ấy Ở Hàn Mặc Tử thơ không chỉ là câu từ thể hiện cảm xúc mà là máu, là hơi thở, là nhịp tim của ông Thơ Hàn luôn là sự hài hòa một cách đáng sợ giữa hư và thực, giữa cõi dương và cõi
âm Ông là một nốt trầm xao xuyến trong bản nhạc của phong trào Thơ mới
1.3 Tập thơ Đau thương của Hàn Mặc Tử là sự hòa quyện giữa máu và hồn
Đây là tập thơ đánh dấu rõ nhất thời kì Hàn thay đổi cách nhìn nhận vạn vật và cũng
là thời kì tài năng của ông bộc lộ rõ nét nhất Những công trình nghiên cứu về văn chương cũng như cuộc đời Hàn Mặc Tử xuất hiện rất nhiều Nhưng các nhà nghiên
cứu hầu như chưa chú trọng đến giá trị hàm ngôn trong tập thơ Đau thương của Hàn
Mặc Tử Nếu có những nghiên cứu vẫn còn rời rạc với những bài khác nhau và chưa thật sự tập trung phần lớn những sáng tác trong tập thơ này
1.4 Hàn Mặc Tử là một trong những tác gia nổi bật trong phong trào Thơ mới Văn chương của ông đã được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông Vì vậy, việc tìm
ra phương pháp tiếp nhận một cách tối ưu nhất tác phẩm của Hàn Mặc Tử nói riêng và của các nhà thơ, nhà văn lớn nói chung là việc làm rất cần thiết
1.5 Cuối cùng, Hàn Mặc Tử là một trong số những tác giả mà chúng tôi rất yêu thích Những sáng tác của ông luôn tạo cho người đọc chìm vào thế giới có sông có trăng, một thế giới đầy sự huyền diệu
Từ những căn cứ khoa học, thực tiễn và nghiệp vụ trên, chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài: “THÔNG TIN HÀM NGÔN TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Làm sáng tỏ thông tin hiển ngôn trong những sáng tác của Hàn Mặc Tử để làm
cơ sở cho việc nghiên cứu những thông tin hàm ngôn mà các tác phẩm mang lại Chú
Trang 18trọng vào việc phân tích cách sử dụng ngôn từ, phương thức tu từ để khai thác thông tin hàm ngôn một cách khách quan và chính xác Thông qua việc phân tích các văn bản này nhằm rút ra phương pháp tiếp nhận thơ Hàn Mặc Tử nói riêng và thơ của các thi nhân nói chung dưới góc nhìn thông tin hàm ngôn của các tác phẩm
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu khoa học “Thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử” yêu cầu một lượng kiến thức lớn và thời gian nghiên cứu dài lâu Do trình độ và thời gian
nghiên cứu hạn hẹp, nên chúng tôi thu nhỏ đề tài với phạm vi nghiên cứu tập thơ Đau
thương của Hàn Mạc Tử Đối tượng nghiên cứu là các văn bản thơ trong tập thơ này
4 NHIỆM VỤ
Để đạt tới những mục đích nêu trên, chúng tôi tập trung giải quyết những vấn đề sau:
1 Chúng tôi sẽ tiếp cận trước hết là những thông tin hiển ngôn trong các bài thơ
2 Sau đó dựa vào những từ ngữ then chốt kết hợp với những phương thức và phương tiện tu từ mà tác giả đã sử dụng để làm sáng tỏ thông tin hàm ngôn trong tác phẩm
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đi vào nghiên cứu đề tài Đặc điểm ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử từ góc nhìn thông tin hàm ngôn, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả
Trong phương pháp miêu tả, chúng tôi sử dụng các thủ pháp sau:
+ Khảo sát : tìm ra những thông tin hàm ngôn giống nhau để xác định các nét nghĩa khái quát
+ Phân loại và hệ thống hóa: phân loại và trình bày có hệ thống các thông tin hàm ngôn ẩn chứa trong những sáng tác của Hàn Mặc Tử
+ Phân tích cách xây dựng ngôn ngữ hình tượng trong văn bản để minh hoạ cho những thông tin hàm ngôn đã được xác định
Trang 19Thượng Thanh Kí…Mỗi thi phẩm, mỗi chặng đường sáng tác của tác giả được kết tinh
thành những phê bình mang tình cảm sâu sắc Nói về Hàn Mặc Tử, Hoài Thanh - Hoài Chân đã dành cho ông những lời nhận xét thật sự đầy ưu ái: "Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mạc Tử nhiều lắm Có người bảo: "Hàn Mạc Tử? Thơ với thẩn gì! Toàn là nói nhảm" Có người còn nghiêm khắc hơn nữa: "Thơ gì mà rắc rối thế! Mình tưởng
có ý nghĩa khuất, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình! Nhưng tôi cũng đã nghe những người ca tụng Hàn Mạc Tử Trong ý họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mạc Tử Bao nhiêu thơ Hàn Mạc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết Mà thuộc hết thơ Hàn Mạc Tử đâu có phải chuyện dễ Đã khúc mắc mà lại nhiều: tất cả đến sáu bảy tập Họ thuộc hết và chọn những lúc đêm khuya thanh vắng, họ sẽ cao giọng, ngâm một mình Bài thơ đã biến thành bài kinh và người thơ đã trở nên một vì giáo chủ” Hoài Thanh
và Hoài Chân chủ yếu dựa vào yếu tố chủ quan để đánh giá tác phẩm Kiểu phê bình chủ quan sẽ phong phú về ấn tượng cảm giác nhưng khó cắt nghĩa một cách khoa học
về tác phẩm, vì thế tác giả Thi nhân Việt Nam cảm thấy bất lực: “Một tác phẩm như
thế ta không thể nói hay, hay dở Nó đã ra khỏi vòng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán”
Trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nhận xét hai kiểu phê bình trong cuốn Thi nhân Việt Nam để tìm ra con đường tiếp cận riêng thơ Hàn Mặc Tử
Vũ Ngọc Phan đi theo trường phái phê bình cổ điển (tức là lấy khen chê để giúp người đọc tìm hiểu tác phẩm) Vũ Ngọc Phan cắt nghĩa cuộc đời để người đọc hiểu rõ cuộc đời và tác phẩm Phần viết Về Hàn Mặc Tử, Vũ Ngọc Phan lần lượt điểm qua những sáng tác của thi sĩ từ thơ Đường luật cho đến Thơ mới khi có những thay đổi trong
hồn thơ và lời thơ Theo Vũ Ngọc Phan “Thơ Hàn Mặc Tử đổi mới là do con người
thay đổi vì bệnh hoạn dẫn đến kì dị khó hiểu”
Nhìn chung, những kết quả phê bình trước 1945 nói chung với hai công trình nghiên cứu của Hoài Thanh- Hoài Chân và Vũ Ngọc Phan nói riêng, đã giới thiệu, tìm cách cắt nghĩa thơ- người thơ Hàn Mặc Tử Dù bằng cách nghiên cứu nào thì đều thừa nhận Hàn Mặc Tử là một tài năng kỳ dị bất thường trong phong trào Thơ mới Những
ý kiến trên cũng là tiền đề quan trọng giúp người viết có thể triển khai một cách sâu rộng, cụ thể hơn khi nghiên cứu đề tài này
7 ĐÓNG GÓP CỦA BÀI NGHIÊN CỨU
Trang 20* Về lí luận: Nghiên cứu thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử góp phần làm sáng tỏ những nét độc đáo trong phong cách thơ Hàn Mặc Tử nhằm khẳng định tài năng của thi nhân Đồng thời, xác định những đặc trưng nghệ thuật tạo nên giá trị thơ của Hàn Mặc Tử
* Về thực tiễn: Từ việc khẳng định thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử, thấy được những đặc sắc trong sáng tác của nhà thơ Nó còn góp phần thúc đẩy việc tìm hiểu các tác phẩm văn học dựa trên mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, nhất là con đường tiếp cận ngôn ngữ tác phẩm ở cấp độ thông tin hàm ngôn
Có thể sử dùng làm tài liệu cho những việc sau:
Tham khảo khi nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử
Nghiên cứu về thông tin hàm ngôn
Học tập, giảng dạy về thơ Hàn Mặc Tử
Tham khảo trong việc so sánh thơ Hàn Mặc Tử với các nhà thơ khác và ngược lại
8 THỜI GIAN THỰC HIỆN: 8 tháng
Từ tháng: 9 năm 2014 đến tháng 4 năm 2015
9 CẤU TRÚC CỦA BÀI NGHIÊN CỨU
Ngoài phần mở đầu, mục lục và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, bài
nghiên cứu được trình bày trong 4 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận
Chương 2: Đôi nét về tác giả Hàn Mặc Tử và tập thơ Đau thương
Chương 3: Nghĩa hàm ngôn trong tập thơ Đau thương của Hàn Mặc Tử
Chương 4: Kết luận
Trang 22CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trải qua hàng nghìn năm sáng tác văn học Trung đại với những luật định quy tắc chặt chẽ, thi đàn Việt Nam với những cây bút tài năng ảnh hưởng mạnh mẽ từ các trào lưu văn học phương Tây đã cho ra đời cái gọi là phong trào Thơ mới Đúng như tên gọi, Thơ mới tức là đổi mới tất cả tư tưởng tình cảm theo hướng cái tôi cá nhân, các thi sĩ tự do bay bổng theo cảm xúc của mình mà không cần phải tuân theo những quy ước rập khuôn của văn học thời kì trước Những cây bút mới ra đời như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… đã để lại cho người đọc những cách nghĩ mới về về cuộc sống và tình cảm con người Từ đó hàm ngôn trong từng câu chữ cũng được thể hiện mới mẽ qua hình thức nghệ thuật Thơ mới nói chung và thơ mới của Hàn Mặc Tử nói riêng sẽ là nguồn sáng tạo nghĩa hàm ngôn mới lạ thông qua nghĩa hiển ngôn có sẵn, khơi dậy được trí tưởng tượng và khả năng cảm thụ của độc giả
1.1 Khái quát về phong trào Thơ mới
Phong trào thơ mới lãng mạn 1932 – 1945 là một hiện tượng văn học phong phú nhưng khá phức tạp Tiếng nói của các nhà thơ mới lãng mạn không phải là tiếng nói của giai cấp quý tộc phong kiến suy tàn Nếu phân chia theo loại hình ý thức hệ, thì có
lẽ nó gần với khuynh hướng lãng mạn tiểu tư sản hơn Văn học lãng mạn Việt Nam chính là tiếng nói của bộ phận tư sản dân tộc và tiểu tư sản thành thị, tuy đã thoát li phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhưng vẫn còn ấp ủ một tinh thần yêu nước thầm kính Thơ mới lãng mạn chủ yếu là tiếng nói của tiểu tư sản trí thức và viên chức thành thị Một khi đã thoát li phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, những người tiểu tư sản trí thức vốn không có hệ tư tưởng độc lập, sẽ dần dần
tự phát chạy theo những quan điểm tư sản (quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” và quan điểm nhân sinh tư sản) Tuy nhiên thái độ phủ nhận một cách tiêu cực cái xã hội kim tiền ô trọc lúc bấy giờ lại là thái độ và tâm trạng những người tiểu tư sản trí thức
đã sống những ngày quằn quại bế tắc trong cái vũng lầy của xã hội thực dân phong kiến
Các nhà lí luận mác xít hầu như đều thống nhất với nhau chia chủ nghĩa lãng mạn thế kỉ XIX thành hai khuynh hướng: tiến bộ, cách mạng và bảo thủ, phản động Ở
Trang 23Việt Nam, các nhà thơ mới như Thế Lữ, Chế Lan Viên, Bích Khê, Hàn Mặc Tử đều
có quá trình sáng tác phức tạp và mâu thuẫn Mâu thuẫn ở đây là giữa hai khuynh hướng, có khi chúng đấu tranh với nhau, khi lại cùng nhau chống chủ nghĩa cổ điển Chính vì vậy, tuy mâu thuẫn nhưng cũng có lúc chúng hòa hợp, đấu tranh cùng phát triển
Phong trào Thơ mới xuất hiện trong thời kì khủng bố trắng và khủng hoảng kinh
tế, tuy có nhiều yếu tố tiến bộ và tích cực nhưng nhìn chung, nằm trong khuynh hướng lãng mạn tiêu cực thoát li ( nhất là trong thời kì cuối đã có những dấu hiệu suy đồi trong thơ Bích Khê…) Nhưng những năm gần đây có một số người cho rằng
“không thể ghép thơ mới vào khuynh hướng thoát li” và cái buồn trong thơ mới không phải là “cái buồn ủy mị dẫn đến bi quan mất tin tưởng” mà là “khuynh hướng yêu đời” Thơ mới thuộc khuynh hướng lãng mạn nhưng không thoát li là một nghịch lí đầy mâu thuẫn Nhưng thoát li ở đây là thoát li cuộc đấu tranh chính trị, thoát li những vấn đề nước sôi lửa bỏng lúc bấy giờ, chứ không phải là thoát li cuộc sống con người nói chung
Thơ mới đau đời chứ không phải là yêu đời lạc quan Họ nặng lòng yêu cuộc sống nhưng bị bế tắc không lối thoát nên hóa ra đau đời Dù thoát li khỏi những vấn đề bức xúc của xã hội nhưng dòng chủ lưu của Thơ mới vẫn có chất nhân bản chủ nghĩa Đứng về mặt phương pháp sáng tác mà nói thì phần lớn Thơ mới là lãng mạn nhưng
cũng có tượng trưng siêu thực Bích Khê trong Tinh huyết và Nguyễn Xuân Sanh trong Xuân Thu nhã tập là đại biểu chính cho khuynh hướng tượng trưng và siêu thực
Thơ mới lãng mạn ra đời xóa tan khuôn khổ của ý thức hệ phong kiến (nền văn học phi ngã) mà thay vào đó là cái “tôi” cá nhân, một cái “tôi” cá thể hóa trong cảm thụ thẩm mĩ Cái “tôi” trong thơ mới phần nào đã nói lên được một nhu cầu lớn về mặt giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã, tự do cá nhân Nó làm cho thế giới tâm
hồn con người được mở rộng, ngày càng phong phú hơn Nhớ rừng của Thế Lữ là
“một khối căm hờn” đối với cảnh đời “nhục nhằn, tù hãm”, là lòng khao khát được tung hoành, vùng vẫy tự do giữa cảnh nước non hùng vĩ Cái “tôi” của Xuân Diệu là niềm khao khát được sống hết mình sống trọn vẹn cho cuộc đời thực tại tươi đẹp…Trong những khát vọng của cái “tôi” cá nhân, Thơ mới tập trung đấu tranh cho quyền tự do yêu đương, cho lối cảm xúc riêng, cho cái nhìn cá thể hóa, cho sự đổi mới thi pháp và tư duy thơ, cho sự sáng tạo những hình thức biểu hiện phong phú,
Trang 24mang sắc thái độc đáo của phong cách cá nhân Nhưng cái tôi cá nhân trong thơ mới vừa ra đời đã hóa thành bướm trắng Một mặt nó không chấp nhận cái xã hội kim tiền
ô trọc, mặt khác nó lại xa rời cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nên cái “ tôi”
đó đã rơi ngay vào tình trạng cô đơn, bơ vơ, không lối thoát Với quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật”, với triết lí sống của chủ nghĩa cá nhân, các nhà thơ mới ngày càng đi vào con đường bế tắc
Mỗi nhà thơ đều cố gắng tìm cho mình con đường thoát li riêng nhưng càng tìm lại càng bế tắc, lạc lối Trốn vào tình yêu (Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử), trốn vào quá khứ (Huy Cận, Vũ Đình Liên) và những thế giới siêu hình, trụy lạc (Vũ Hoàng Chương) và điên loạn (Hàn Mặc Tử, Bích Khê)…
Xuân Diệu ngập chìm trong thế giới yêu đương, nhưng trong thế giới đó, thi sĩ vẫn cảm thấy có gì đó bất trắc, không vững vàng Cái tôi cá nhân thấy trước cuộc đời của
nó mong manh nên nó rất sợ sự thay đổi Xuân Diệu nhìn thấy sự biến đổi, sự vận động nhưng ông lại diễn tả sự vận động đó theo triết lí riêng “ một sự tuần hoàn nối tiếp” và rồi mọi thứ đều sẽ xiêu đổ, tan tát, tứ li…Thi sĩ hoảng hốt nhận ra thời gian không còn dài nên vội vã yêu đương, không phí hoài tuổi trẻ:
“Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết ! Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn”
(Giục giã) Cái “tôi” trong Thơ mới trốn vào nhiều ngõ ngách, có nhiều màu sắc phức tạp khác nhau nhưng ở đâu nó cũng không thể giấu được nỗi buồn và sự cô đơn Nỗi buồn vẫn vơ nhưng thường trực, sự mênh mông xa vắng đến rợn người đã kết tinh lại trong tiếng thơ của Lưu Trọng Lư trong một buổi nắng h vắng lặng :
“Mỗi lần nắng mới hắc bên song Xao xác gà trưa gáy não nùng…”
(Lưu Trọng Lư) Hay
“Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa
Trang 25Chết không gian khô héo cả hồn cao…”
(Xuân Diệu) Thơ mới ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do Thời kì đầu, tinh thần dân tộc đó chính là tiếng vọng lại xa xôi của những phong trào yêu nước và cách mạng từ năm 1925 đến 1930 Càng về sau tinh thần dân tộc trong Thơ mới càng nhạt dần
Con hổ trong Nhớ rừng của Thế Lữ mang một khối căm hờn, luôn mơ ước được tự
do tung hoành trong rừng thẳm Đó cũng là tình trạng chung của cả dân tộc bị áp bức,
bị tù hãm dưới ách cai trị của bọn thực dân phong kiến
“Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa Nhớ cõi sơn lâm bóng cả cây già Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng”
(Thế Lữ) Lòng yêu nước của các nhà Thơ mới thường mang tâm trạng thất bại chủ nghĩa Huy Thông hướng đến Phan Bội Châu như hướng đến những tình cảm lớn của người anh hùng trong lịch sử, hướng đến một niềm khao khát được sống một cách mạnh mẽ,
phóng khoáng Bài thơ Con voi già của Huy Thông đã nói lên điều đó Voi già có một
quãng đời tự do rất oanh liệt nhưng những bọn xấu xa đã dùng võ lực để xâm chiếm
“giang sơn hùng vĩ của voi già” Từ đó voi già phải ra đi đến những vùng đất lạ, khi già yếu voi quay trở về thu hết sức tàn kêu lên thảm thiết thức tỉnh đồng loại Đó như
là vị anh hùng Phan Bội Châu làm thức tỉnh tâm hồn Huy Thông vậy:
“Tiếng giã từ núi cao cùng sông rộng Chào rừng xanh với vòm trời lồng lộng Gọi linh hồn hung vĩ vủa loài voi Voi tưởng một mình mình biết mà thôi
Có hay đâu gió sơn xuyên lừng lẫy
Đã than lại lời than đau đớn ấy
Đã khiến cho ở chốn mịt mùng xa Tấm lòng ta thổn thức bởi voi già”
Trang 26(Huy Thông) Phong trào thơ mới còn chịu ảnh hưởng của thơ Pháp (gần 100 năm) và thơ Đường (hàng nghìn năm) Những ảnh hưởng của thi ca lãng mạn, tượng trưng Pháp vào thơ mới rất phức tạp, có khi là sự gặp gỡ của một tâm trạng, một ý nghĩ nhưng có khi chỉ là sự giống nhau của một môtip, một hình ảnh nhạc điệu trong thi ca Với thơ Đường, đó là một sự ảnh hưởng rộng rãi một thời kì rất lâu dài bị Bắc thuộc Một số thi sĩ có một thời kì làm thơ Đường (Đông Hồ, Hàn Mặc Tử, Bích Khê) hoặc trước sau chỉ làm thơ Đường (Quách Tấn) Ảnh hưởng của thơ Pháp, thơ Đường không làm mất đi bản sắc dân tộc của thơ Việt mà trái lại, nó còn làm cho thơ Việt, tiếng Việt ngày càng giàu có hơn, tinh tế hơn Thơ mới có nhiều khả năng diễn đạt hơn thơ cũ nhờ ở thể cách linh hoạt, cách hiệp vần phong phú, nhạc điệu dồi dào, cách ngắt nhịp
đa dạng…Phong trào Thơ mới đã làm một cuộc cách mạng trong thi pháp tư duy thơ,
đã đưa ra một cái nhìn cá thể hóa về thiên nhiên, tạo vật thông qua cái tôi chủ thể - trữ tình, trở thành hiện tượng văn học lớn nhất nữa đầu thế kỉ XX
Không gian của phong trào Thơ mới là nơi giúp các nhà thơ sáng tạo, thể hiện
cá tính của bản thân Trong nền thơ đó xuất hiện những thi sĩ không chỉ có nét đặc sắc trong nghệ thuật ngôn từ mà còn để lại những tư tưởng thấm đậm chất nhân văn Nhưng không dễ để người đọc có thể hiểu hết tất cả những gì chứa đựng trong một tác phẩm khi đọc Để hiểu được một tác phẩm, cần nhìn nhận những đặc sắc về nghệ thuật trong một bài thơ, hiểu được những nỗi niềm sâu kín tác giả gửi vào đó thì ngoài việc nắm bắt được bối cảnh sáng tác cần phải nắm được cách đọc hiểu một tác phẩm
1.2Đọc hiểu tác phẩm văn chương
1.2.1Bản chất của hoạt động đọc hiểu
Là quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mĩ nhằm phát hiện ra những giá trị của tác phẩm trên cơ sở phân tích đặc trưng văn bản
Hoạt động đọc văn đòi hỏi người đọc trước hết phải huy động khả năng tri giác ngôn ngữ để tìm hiểu không chỉ các tầng ý nghĩa của lớp từ và câu mà còn thức tỉnh cảm xúc, khơi dậy năng lực liên tưởng, tưởng tượng để tái hiện thế giới nghệ thuật của tác phẩm Nghệ thuật đòi hỏi những ý nghĩ và tình cảm đặc biệt như là sự dấng thân, nếu không một tác phẩm nghệ thuật đối với chúng ta hoàn toàn chỉ là một đối tượng quan sát
Trang 27Đọc hiểu không chỉ là quá trình tái tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình thức tỉnh cảm xúc, quá trình tri giác và nhuần thấm tín hiệu để giải mã ngôn ngữ, nghệ thuật, mã văn hóa; đồng thời với việc huy động vốn sống, kinh nghiệm cá nhân người đọc để tiếp thu giá trị tư tưởng thẩm mĩ và những giá trị vốn có của tác phẩm
1.2.2 Điều kiện tiên quyết của đọc hiểu tác phẩm văn học
Tác phẩm ra đời từ sự phối hợp ngẫu nhiên giữa tác giả và người đọc, bởi vậy văn học là một xã hội trong xã hội Tác phẩm văn chương là bức tranh thu nhỏ của hiện thực đời sống Để có thể hiếu hết những tầng ý nghĩa bị ẩn đi trong tác phẩm người đọc cần có những điều kiện sau:
- Tri thức đọc hiểu tác phẩm văn chương:
Đọc hiểu tác phẩm văn chương là một hành động nhận thức tích cực, là một quá trình giao tiếp nghệ thuật để phát ý nghĩa và đào sâu ý nghĩa tiềm tàng trong những hình thái vận động y như thật của hiện thực đời sống xã hội con người + Tri thức đọc hiểu thuộc lĩnh vực đời sống bao gồm vốn sống, kinh nghiệm ứng xử xã hội, sự từng trải của người đọc
+ Lĩnh vực liên ngành bao gồm tâm lí học, xã hội học, triết học, đạo đức, chính trị, ngôn ngữ học…
+ Tri thức đọc hiểu thuộc lĩnh vực văn học bao gồm lí luận văn học, phê bình văn học, lịch sử văn học…
- Đọc hiểu giá trị đích thực của nội dung và hình thức tác phẩm văn chương: Nội dung đích thực của tác phẩm văn chương là nội dung vốn có có thể có từ hình thức tồn tại cụ thể của tác phẩm chứ không phải là nội dung suy diễn tùy tiện Để thực hiện được việc đọc hiểu giá trị đích thực tác phẩm, người đọc cần đọc hiểu ý nghĩa tầng cấu trúc ngôn từ tác phẩm và đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật của tác phẩm văn chương
Nắm được những quy tắc cần thiết để đọc hiểu một tác phẩm văn chương sẽ giúp người đọc phần nào nhìn nhận tác phẩm một cách đa diện hơn Đặc biệt, trong những tác phẩm thơ thường ẩn chứa nhiều tầng nghĩa Nắm bắt được ý nghĩa đó không phải việc đơn giản Việc làm trước hết khi muốn nắm được ý nghĩa toàn văn bản chính là thấy được nghĩa của từ Khi người đọc tìm hiểu nghĩa của từ, tức là, họ đang đi tìm hiểu tác phẩm một cách khách quan hơn Cách tìm hiểu nghĩa văn bản thông qua các
từ ngữ sẽ giúp người đọc dần nắm được những ẩn ý tác giả muốn truyền đạt
Trang 281.3 Nghĩa của từ
Tùy theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa từ vựng của từ có
3 thành phần nghĩa sau :
-Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật
-Nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm
-Nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái
1.1.1 Nghĩa biểu vật
Sự vật, hiện tượng, đặc điểm… ngoài ngôn ngữ, được từ biểu thị tạo nên ý nghĩa biểu vật của từ Quả nhiên là trong từ vựng của tất cả các ngôn ngữ, có một bộ phận lớn các từ mà ý nghĩa biểu vật của chúng trùng hợp với sự vật, khái niệm, biểu tượng, tính chất…ngoài ngôn ngữ Đó là các từ nghề nghiệp và thuật ngữ khoa học
Từ lâu, ngôn ngữ học đã phát hiện ra hiện tượng được gọi là sự chia cắt thực tế khách quan khác nhau trong từng ngôn ngữ Hiện tượng này như sau: thực tế khách quan về cơ bản đồng nhất đối với mọi dân tộc, đối với mọi ngôn ngữ Song mỗi ngôn ngữ lại có những tên gọi ứng với những bộ phận không đồng đều, ứng với những đoạn cắt không trùng ranh giới với thực tế
Như vậy, ý nghĩa biểu vật không phải là sự vật, hiện tượng mà là sự phản ánh
sự vật hiện tượng… trong thực tế vào ngôn ngữ Đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng với thực tế
1.1.2 Nghĩa biểu niệm
Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào tư duy thành các khái niệm, được phản ánh vào ngôn ngữ thành các ý nghĩa biểu vật và từ các ý nghĩa biểu vật có các ý nghĩa biểu niệm tương ứng Các ý nghĩa biểu niệm một mặt thông qua các ý nghĩa biểu vật mà liên hệ với thực tế khách quan, mặt khác lại có liên
hệ với khái niệm, qua khái niệm mà liên hệ với sự vật, hiện tượng ngoài ngôn ngữ
Sau đây là một số ý nghĩa biểu niệm trình bày dưới dạng tập hợp của một số nét nghĩa:
Trang 29- Máu: (phương tiện vận chuyển của tế bào) (được tạo ra từ bạch cầu và hồng cầu) (cung cấp chất dinh dưỡng, cấu tạo các tổ chức, loại bỏ các chất thải)
- Nước: (hợp chất hóa học của Oxy và Hidro) (đông đặc ở OoC và sôi ở
100OC) (duy trì các hoạt động sống trên trái đất)
Có thể nhận thấy rằng nét nghĩa “chất lỏng” trong từ máu cũng là nét nghĩa chung cho các từ: nước, dầu, rượu, bia,…Trái lại, nét nghĩa “cung cấp chất dinh dưỡng, cấu tạo các tổ chức, loại bỏ các chất thải” thì chỉ có ở từ máu Tuy nhiên, tính chất chung, riêng của các nét nghĩa chỉ là tương đối
Nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát
và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có những quan
hệ nhất định Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ Tập hợp các nét nghĩa phạm trù, khái quát chung cho nhiều từ được gọi là cấu trúc biểu niệm
1.1.3 Nghĩa biểu thái
Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ là những nhân tố đánh giá như to, nhỏ,
mạnh, yếu…, nhân tố cảm xúc như dễ chịu, khó chịu, sợ hãi…, nhân tố thái độ như trọng, khinh, yêu, ghét…mà từ gợi ra cho người nói, người nghe
Ví dụ :
Cả ngày chỉ ôm lấy sách
Cứ ôm lấy cái vòi nước như thế không cho ai dùng nữa à ?
Hai từ “ôm” trên mang thái độ chê trách của người nói
Không gian thật là ma quái Nhìn xuống mặt sàn là một vũng máu…
Gợi cảm xúc sợ hãi cho người nghe
Tóm lại, từ là một thể thống nhất, cho nên mỗi thành phần ý nghĩa chẳng qua chỉ
là những phương diện khác nhau của cái thể thống nhất đó Sự hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết thấu đáo từng mặt một nhưng cũng phải là sự hiểu biết tổng quát về những mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng
Như nói ở trên, việc tìm hiểu nghĩa của từ sẽ giúp người đọc dần biết được giá trị
mà tác giả muốn gửi gắm Nhưng nếu chỉ ngừng lại ở việc tìm hiểu những nghĩa của
từ thì nội dung tác phẩm rất có thể trở nên rời rạc Nếu không khéo việc tìm hiểu một tác phẩm theo hướng tìm hiểu nghĩa của từ sẽ trở thành diễn xuôi bài thơ Việc làm
Trang 30cần thiết là đặt ý nghĩa từ trong khung cảnh ý nghĩa văn bản Tức là, sau khi tìm hiểu nghĩa của từ ngữ cần đi làm rõ ý nghĩa văn bản để nắm được đầy đủ những điều tác giả muốn truyền đạt
Trong một văn bản thơ luôn tồn tại những mặt ý nghĩa khác nhau Trong cùng một tác phẩm có đôi khi tồn tại cả hai mặt nghĩa Một mặt nghĩa được biểu đạt ngay trên ngôn từ, nhưng mặt khác nghĩa được che giấu mà người đọc phải tìm tòi, nghiên cứu mới thấy được- và đó chính là những thông tin hàm ngôn của văn bản
1.2 Nghĩa của văn bản
1.2.1 Thông tin hiển ngôn
Nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại được gọi là nghĩa tường minh (có tác giả gọi là hiển ngôn), còn được gọi là ý nghĩa theo câu chữ của phát ngôn
Ví dụ:
Long, bạn thân nhất của tôi rất hối hận vì đã ngừng học Anh văn trước khi tốt nghiệp Đại học
Phát ngôn trên có nghĩa tường minh là: Long hối hận vì ngừng học Anh văn
1.2.2 Thông tin hàm ngôn
Trong một phát ngôn ngoài nghĩa được nói ra trực tiếp còn có nhiều nghĩa khác
mà người nghe phải dùng thao tác suy ý và dựa vào ngữ cảnh, vào các qui tắc điều khiển hành động, ngôn ngữ điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại… mới nắm bắt được Các nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là nghĩa hàm ẩn
Ví dụ:
Long, bạn thân nhất của tôi rất hối hận vì đã ngừng học Anh văn trước khi tốt nghiệp Đại học
Có thêm các nghĩa hàm ẩn sau:
1 Có một cuộc thoại đang diễn ra, đây là một tham thoại của một nhân vật
2 Có một và chỉ một người, người đó tên là Long (đang được nói tới)
3 Long là một trong những người bạn của “tôi”
4 Long học Đại học
5 Long đã tốt nghiệp Đại học
6 Long học Anh văn khi còn học ở Đại học
Trang 31Các nghĩa hàm ẩn là cái nền trên đó người nói tạo ra nghĩa tường minh như đã nói và người nghe mới hiểu nghĩa tường minh mà người nói muốn truyền đạt
1.2.3 Phân loại tổng quát nghĩa hàm ẩn
Có thể chia nghĩa hàm ẩn thành 2 loại : tiền giả định (kí hiệu pp‟) và các hàm ngôn (kí hiệu imp)
Tiền giả định là những căn cứ cần thiết để người nói tạo ra ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình Hàm ngôn là tất cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó từ nghĩa tường minh cùng với tiền giả định của nó
Ví dụ:
Vũ hội làm chúng ta quên rằng bây giờ đã là 12 giờ đêm rồi
Nghĩa tường minh của phát ngôn này là:
Vũ hội đã kéo dài đến 12 giờ đêm
Imp1: Chúng ta cần phải giải tán thôi
Imp2: Vũ hội thành công, chứng cớ làm mọi người không thấy mệt mỏi
Trong giao tiếp, có những trường hợp trong đó nghĩa tường minh không phải là nghĩa truyền báo chính của người nói Nó chỉ là cái cớ để người nói truyền báo một hoặc một số trong những nghĩa hàm ẩn làm nền cho nó Lúc này cả tiền giả định, cả hàm ngôn đều có thể trở thành nghĩa nằm trong ý định truyền báo của người nói Những trường hợp người nói không muốn nói điều mình muốn truyền báo một cách tường minh mà lại dùng lối nói hàm ẩn có thể là vì: người nói khiêm tốn, không muốn trực tiếp làm mất thể diện người nghe, có thể muốn châm biếm, mỉa mai hoặc không muốn chịu trách nhiệm trực tiếp điều mình nói ra
1.2.4 Đặc điểm có thể phân biệt tiền giả định và hàm ngôn
Quan hệ với nghĩa tường minh
Trang 32Tiền giả định là những hiểu biết được xem là bất tất phải bàn cãi, bất tất phải đặt vấn đề, đã được nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào nó mà người nói tạo nên các nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình
Ví dụ:
B: Khi nào bạn trả tiền cho mình?
Phát ngôn này có pp‟: Bạn vay tiền của mình
Người nghe A có thể phải cãi lại tiền giả định đó:
Mình mượn tiền của bạn khi nào mà trả? (nếu như việc A mượn tiền của B là không có)
Hàm ngôn là những hiểu biết hàm ẩn có thể suy ra từ nghĩa tường minh và tiền giả định của nghĩa tường minh Nếu không có nghĩa tường minh và tiền giả định của nó, không thể suy ra nghĩa hàm ngôn thích hợp
Ví dụ:
Sáng hôm nay lại mưa!
Pp‟: Hôm qua (và các hôm trước) có mưa
Nghĩa tường minh: Sáng hôm nay mưa
Từ pp‟ và nghĩa tường minh trên, người nói muốn dẫn tới hàm ngôn, ví dụ : “Tôi lại không thể đi chơi được” hoặc “Lại không thể phơi đồ được”…
Việc từ pp‟ và nghĩa tường minh mà nhận biết hàm ngôn nào là thích hợp trong những hàm ngôn có thể suy ra phụ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh, vào ngôn cảnh
Ngoài ra, còn có các đặc điểm khác có thể phân biệt tiền giả định và hàm ngôn: quan
hệ với hình thức ngôn ngữ tạo nên phát ngôn, lượng tin và tính năng động hội thoại, phản ứng đối với các dạng phát ngôn
1.2.5 Cơ chế tạo ra những nghĩa hàm ẩn cố ý
Trang 331.2.5.1 Sự vi phạm quy tắc chiếu vật và chỉ xuất
Cặp từ xưng hô “bố”/ “con” có tiền giả định: giữa hai người hội thoại có quan
hệ gia đình cùng huyết thống hay khác huyết hệ như bố mẹ vợ/chồng với con rể/con dâu Hiện nay, trong giao tiếp, giữa hai người xa lạ, chẳng có quan hệ huyết thống, quan hệ gia đình, cũng không thân mật thì cặp từ xưng hô lúc đầu là “bác”/ “tôi”,
“bác”/ “cháu” hay “cụ”/ “cháu”… bỗng nhiên được nhân vật thay đổi bằng cặp từ
“bố”/ “con” Đây là sự cố ý vi phạm quy tắc sử dụng chúng, người nói ngầm tỏ ra mối quan hệ xa lạ trước kia nay đã thay đổi thân thiết hơn Nếu nhân vật trong giao tiếp có con gái xinh đẹp, chưa chồng thì sự thay đổi xưng hô trên còn có ý “tôi muốn làm con
rể của ông”
Nghĩa hàm ẩn được tạo ra nhờ những cơ chế khái quát như: dựa vào tất cả các quy tắc ngữ dụng từ quy tắc chiếu vật và chỉ xuất, quy tắc chi phối các hành động ngôn ngữ, quy tắc lập luận cho đến các quy tắc hội thoại Muốn tạo ra được nghĩa hàm
ẩn cố ý, người nói một mặt phải tôn trọng các quy tắc này và giả định rằng người nghe cũng biết và tôn trọng chúng, mặt khác lại cố ý vi phạm chúng và giả định rằng người nghe cũng ý thức được chỗ vi phạm đó của mình Nghĩa hàm ẩn cố ý xuất hiện và được lí giải ở chỗ vi phạm đó
1.2.5.2 Các hành động ngôn ngữ gián tiếp
Sử dụng hành động ngôn ngữ theo lối gián tiếp là biện pháp rất có hiệu lực trong việc truyền báo các nghĩa hàm ẩn, đặc biệt là các nghĩa cố ý ngữ dụng học
Ví dụ:
Thầy giáo hỏi một học sinh đến lớp trễ:
-Bây giờ là mấy giờ rồi?
Khi đặt câu hỏi trên rõ ràng thầy giáo đã vi phạm điều kiện chuẩn bị và điều kiện tâm
lí của hành động hỏi (thầy giáo biết giờ vào học của trường) Trong tình thế của mình, học sinh biết ngay ý định nhắc nhở, cảnh cáo của thầy về sự đi muộn nhờ tính không đúng chỗ của câu hỏi Đáp lại những câu hỏi kiểu như vậy, không phải là những câu trả lời “Thưa thầy, tám giờ rồi ạ” mà phải là những phát ngôn xin lỗi, thanh minh… như: “Em xin lỗi thầy Xe của em bị hư dọc đường ạ”…
1.2.5.3 Sự vi phạm quy tắc lập luận
Trang 34Trong một quan hệ lập luận, có khi người nói chỉ đưa ra luận cứ để người nghe suy ra kết luận hoặc đưa ra kết luận để người nghe suy ra luận cứ Không hoàn tất các bước lập luận là cách thường được dùng để tạo ra các hàm ngôn
1.2.5.4 Sự vi phạm các quy tắc hội thoại
Ví dụ:
A: Bạn có biết Thắng hiện giờ ở đâu không ?
B: Có chiếc xe wave dựng ở phòng Lan đó
Thay vì dùng hành động hỏi đáp trả lời câu hỏi, A lại dùng một câu xác tín (miêu tả)
B đã vi phạm một cách cố ý quy tắc hội thoại chi phối chức năng ở lời của các hành động trong cặp hội thoại Phát ngôn xác tín của B ngầm trả lời cho A biết rằng Thắng hiện nay đang có mặt ở phòng của Lan bởi vì cả A và B đều biết Thắng có một chiếc
xe wave Có thể có nhiều lí do khiến B phải dung lối nói hàm ẩn này mà không trả lời một cách tường minh, ví dụ như muốn nói “Thắng đang ở trong phòng Lan”
Người đọc để có thể nắm được những thông tin chứa đựng trong văn bản đòi hỏi đầu tiên phải xuất phát từ nghệ thuật ẩn chứa trong đó Tức là, thông qua những biện pháp tu từ để làm rõ những ý tưởng mà tác giả đưa vào Người đọc cần phân tích những phương tiện tu từ ngữ nghĩa để thấy được một cách đầy đủ những tầng ý nghĩa nổi và chìm trong tác phẩm
1.3 Các phương tiện tu từ ngữ nghĩa
1.3.1 Nhóm so sánh (còn gọi là nhóm tỉ dụ)
So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe
Ví dụ:
Tình anh như nước dâng cao Tình em như dải lụa đào tẩm hương
(Ca dao) Hình thức đầy đủ của phép so sánh gồm 4 yếu tố: Cái so sánh, cơ sở so sánh, từ
so sánh và cái được so sánh Tùy từng trường hợp có thể đảo trật tự so sánh, hoặc bớt một số yếu tố trong mô hình:
Đảo ngược trật tự so sánh:
Chòng chành như nón không quay
Trang 35Như thuyền không lái như ai không chồng
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông dường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu…
(Xuân Quỳnh)
Trang 36Nhà thơ nói về thuyền mà không phải là thuyền, nói về biển nhưng không phải là biển Mối khăng khít giữa thuyển với biển chính là hình ảnh, tâm trạng của những đôi bạn tình đang thương nhau tha thiết
Ẩn dụ bổ sung
Ẩn dụ bổ sung hay còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, tức là sự thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác trong nhận thức cũng như trong diễn đạt bằng ngôn ngữ
Ví dụ:
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn…
Hãy tự buông cho khúc nhạc hường…
Dẫn vào thế giới của Du dương
Ngừng hơi thở lại, xem trong ấy
Hiển hiện hoa và phảng phất hương…
Hãy uống thơ tan trong khúc nhạc
Ngọt ngào kêu gọi thuở xa khơi…
(Huyền diệu) Khúc nhạc của nhà thơ không chỉ nghe bằng tai mà “nghe” cả bằng mắt, bằng da, bằng lưỡi… “thấm vào tâm hồn”; lúc này mọi giác quan được huy động đến tột cùng
và dẫn đến sự giao thoa, xuyên thấm, lẫn lộn Phải là nghệ sĩ mới có cái “nghe” kì diệu ấy và cũng là lúc chính nhà thơ làm cho độc giả trở thành nghệ sĩ
Nhân hóa và vật hóa
Có tài liệu gọi nhân hóa là những ẩn dụ, khi chuyển đổi từ những vật vô sinh sang hữu sinh, hoặc là từ thế giới vật chất sang thế giới ý thức của con người Vật hóa là hướng chuyển ngược lại từ người đến động vật hoặc đồ vật
Trang 37- Trong văn chương dùng vật hóa để châm biếm, đùa vui nhưng không phải là dung tục Có thể nào ngờ người con gái trong ca dao lại có cái tưởng tượng dí dỏm như thế này:
Người tình ta để trên cơi Nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ Đêm qua ba bốn lần mơ Chiêm bao thì thấy dậy sờ thì không
(Ca dao)
Phúng dụ
Phúng dụ là hệ thống những ẩn dụ, nhân hóa được sử dụng để biểu đạt một nội dung triết lí hay bài học luân lí mà người nói không muốn trình bày trực tiếp
Trong ca dao, những bài Con cò mà đi ăn đêm, con mèo mà trèo cây cau v.v…là
những bài viết theo lối phúng dụ Những bài ca dao trên nói lên những nghịch lí trong cuộc sống và giải quyết một cách có nhân bản không phải là dễ
cô gái ăn diện rong chơi Một sự phê phán hay là lời tỏ tình làm quen hay là cả hai
Cải danh
Trang 38Cải danh là phương thức chuyển nghĩa biểu thị mối quan hệ giữa tên riêng và tên chung trong đó tên riêng thay cho tên chung và ngược lại
Ví dụ:
Viết về những liệt sĩ cách mạng đã hi sinh, Tố Hữu dùng tên tuổi của Trần Phú:
Những hồn Trần Phú vô danh Sóng xanh biển cả cây xanh núi ngàn
Thương thay thân phận con rùa Lên đình đội hạc, xuống chùa đội bia
Trang 391.4 Tiểu kết
Mỗi thời kỳ văn học đều có những phong cách sáng tác đặc trưng Đối với phong trào Thơ mới, đó là sự kết hợp giữa cái tôi cá nhân và khát khao tự do Đôi lúc trong nền phong trào thơ này, tác giả muốn giải thoát bản thân để tìm một khía cạnh mới trong cuộc sống Phong trào Thơ mới giúp cho những thi sĩ bộc lộ “cái Tôi” rõ nét và thể hiện phong cách sáng tác đặc trưng của từng người Chính vì thể hiện “cái Tôi” mạnh mẽ mà trong nhiều sáng tác thơ tác giả luôn gửi vào đó những thông tin hàm ngôn Những thông tin thường nêu cao chủ nghĩa tự do, muốn giải phóng bản thân khỏi những gò bó, tù túng của truyền thống sáng tác xưa cũ
Để hiểu được, nắm được cái tôi đó, người đọc cần có những hiểu biết nhất định
về tác giả, tác phẩm Những kiến thức có được sẽ bổ trợ cho người đọc khi tìm hiểu về những lớp nghĩa chứa đựng trong các câu thơ Đặc biệt, khi đọc- hiểu một tác phẩm cần phải đặt tác phẩm vào những bối cảnh tương ứng để làm rõ ý tưởng trong bài thơ Không áp đặt ý kiến chủ quan khi làm sáng tỏ một vấn đề nào để tránh lệch hướng, hiểu sai ý của tác giả
Một tác phẩm văn chương là sự kết tinh giữa những giá trị tư tưởng của tác giả
và nghệ thuật xây dựng ngôn từ Do vậy, tìm hiểu một tác phẩm thơ tức là tìm hiểu khía cạnh nghệ thuật để làm rõ ý nghĩa thông qua các phương tiện tu từ ngữ nghĩa Bằng các phương tiện nghệ thuật tu từ ngữ nghĩa này, đã gửi gắm những nỗi niềm trắc ẩn đến với người đọc.Những tầng nghĩa ẩn sâu này đòi hỏi người đọc phải nghiên cứu hoàn cảnh sáng tác, cuộc đời tác giả, phong cách sáng tác với nghệ thuật nghệ thuật xây dựng ngôn từ trong tác phẩm
Trang 40CHƯƠNG 2: ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ HÀN MẶC
TỬ VÀ TẬP THƠ “ĐAU THƯƠNG”
1.5 Cuộc đời và sự nghiệp của Hàn Mặc Tử
1.5.1 Cuộc đời Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí, là con ông Nguyễn Văn Toản và bà Nguyễn Thị Duy, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới, trong một gia đình công giáo lâu đời, có 6 người con: bốn trai, hai gái (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín và Hiếu) Cha làm thông phán phải thuyên chuyển dọc theo bờ biển Trung Việt từ Đồng Hới tới Quy Nhơn, khi ông đổi đến Sa Kỳ ( năm 1920), Trí và Tín (Nguyễn Bá Tín) mới vào trường tiểu học Quảng Ngãi
Tháng 6 năm 1926, sau khi cha mất, gia đình về Quy Nhơn sống với người anh cả, Trí và Tín vào trung học ở Quy Nhơn Sau đó Trí ra Huế học trường Pellerin (1928-1930) Một lần bơi xa ngoài biển suýt chết đuối, từ đó Trí thay đổi hẳn tâm tính, trầm lặng hơn, có vẻ đau yếu, gia đình nghi Trí mắc bệnh tâm thần, ít ăn, lười tắm gội thay quần áo
Hàn Mặc Tử bắt đầu nổi tiếng năm 1931 với bút hiệu P.T (Phong Trần) Năm
1932, làm việc ở sở đạc điền Quy Nhơn, quen với Quách Tấn 1935 vào Sài Gòn làm báo Tháng 5/1936 người anh cả Nguyễn Bá Nhân, trụ cột của gia đình mất Hàn rời
Sài Gòn về Quy Nhơn Cuối năm 1936, gia đình bỏ tiền cho Hàn in Gái quê
Theo gia đình Hàn Mặc Tử kể lại, thì vào khoảng đầu năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông Tuy nhiên, ông cũng không quan tâm
vì cho rằng nó là một chứng phong ngứa gì đó không đáng kể Cho đến năm 1936, khi
ông xuất bản tập Gái quê, rồi đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần thứ hai, được bà Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép cho tờ Phụ nữ tân văn, quyết định mời
Hàn Mặc Tử làm chủ bút, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình Nhưng ý ông
là muốn chữa cho dứt hẳn một loại bệnh thuộc loại “phong ngứa” gì đấy, để yên tâm vào Sài Gòn làm báo chứ không ngờ đến một căn bệnh nan y Năm 1938 - 1939, Hàn