Hội chùa Trông bắt nguồn từ kỷ niệm ngày mất của thiền sư Nguyễn Minh Không từ thời Lý.. Trong những ngày lễ hội có các trò diễn dân gian Sáng 1/4, tổ chức rước Thành hoàng về các đình,
Trang 1Lễ hội gò Đống Đa
Lễ hội gò Ðống Ða (thuộc quận Ðống Ða- Hà Nội) hàng năm diễn ra vào ngày mồng 5 Tết Nguyên Ðán (5/1 âm lịch) Ðây là lễ hội chiến thắng, mừng công tích lẫy lừng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, do Hoàng đế Quang Trung (Nguyễn Huệ) người anh hùng áo vải Tây Sơn lãnh đạo
Cách đây hơn 2 thế kỷ (1789), Ðống Ða là nơi hơn 29 vạn quân Thanh bị tiêu diệt Gò Ðống Ða trở thành di tích lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam
Sáng sớm ngày 5, đám rước thần mừng chiến thắng từ đình Khương Thượng về Gò Ðống Ða trong rừng cờ, tàn, tán, lọng, kiệu, rực rỡ màu sắc cùng chiêng, trống, thanh la diễu hành chậm rãi mang tính hoành tráng của cuộc mừng đón chiến công Ðặc biệt nhất là rước "Rồng lửa" được bện bằng nùi rơm, mo nang và giấy bồi trang trí thành hình con rồng, một tốp thanh niên bận võ phục đi quanh, biểu diễn côn, quyền như tái hiện lại cuộc chiến đấu đã qua "Rồng lửa Thăng Long" trở thành biểu tượng chiến thắng của dân tộc Việt Nam
Khi đám rước về đến gò Ðống Ða, có lễ dâng hương, lễ đọc văn kể lại sự tích chiến công năm Kỷ Dậu, ca ngợi thiên tài quân sự của anh hùng dân tộc Quang Trung
Hội còn có nhiều trò chơi vui khoẻ, đua tài, đua trí trên bãi rộng trước gò
Lễ hội Chùa Trông
Lễ hội Hải Hưng
Chùa Trông nguyên có tên là Chùa Tông, Đại Nam nhất thống chí ghi là đền thờ Minh Không thiền sư, họ Nguyễn, tự Chí Thành Thời phong kiến thuộc xã Hán
Lý, tổng Văn Hội, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng Từ năm 1947, Hán Lý là một thôn thuộc xã Hưng Long, huyện Ninh Giang
Chùa Trông do Minh Không thiền sư xây dựng từ thời Lý (TK XI) Chùa thờ Phật
và đức thánh Nguyễn Minh Không
Nguyễn Minh Không sinh 14/9 năm Bính Dần , thời Lý, nguyên có tên là Nguyễn Chí Thành, quê xã Đàm Xá , huyện Trường An (Ninh Bình), quê ngoại ở Hán Triền tức Hán Lý hiện nay Minh Không là một nhà sư nổi tiếng ở thời Lý., khi viên tịch (26.3 năm Giáp Tuất) được thờ ở nhiều nơi, trong đó có chùa Trông
Trang 2Chùa Trông được xây dựng từ thời Lý, đến thời Nguyễn , quan thượng thư Thượng Đoàn tôn tạo theo kiểu nội công ngoại quốc gồm : Tam quan nội, tam quan ngoại, tắc môn, giải vũ, nhà mẫu, chùa kiểu chữ đinh, đền Đức Thánh kiểu chữ đinh rất đồ sộ Công trình đã bị tàn phá trong kháng chiến chống Pháp, chỉ còn lại hệ thống tam quan và một số cổ vật Tam quan chùa Trông là công trình kiến trúc nghệ thuật lớn ở thời Nguyễn Chùa hiện nay đã được khôi phục nhưng chưa được như xưa
Hội chùa Trông bắt nguồn từ kỷ niệm ngày mất của thiền sư Nguyễn Minh Không từ thời Lý Đây là lễ hội lớn nhất vùng Hạ Hồng xưa và đã được ghi vào lịch sử dân tộc Hội kéo dài 16 ngày, từ 15/3-1/4
Ngày 15/3, lễ thỉnh kinh, rước nước, tổ chức rước kiệu rất trịnh trọng
ra sông Luộc lấy nước cúng
Ngày 16, lễ rước Thành Hoàng và tế tại chùa
Lễ hội chùa Trông là lễ hội chung của hai làng Hào Khê và Hán Lý, vì xa xưa nguyên là một làng Sau khi chia tách, mỗi làng có một đình Đình Hán Lý thờ thành hoàng là Đường Cát đại vương , một vị tướng của Khúc Thừa Dụ có công đánh giặc Đường ở TK X Đình Hào Khê thờ thành hoàng là Lý Chiêu Hoàng, vua cuối cùng của triều Lý Như vậy ngày hội phải tế 3 vị, gồm hai thành hoàng và một thiền sư ở đây chỉ có tế nam, trang phục theo truyền thống gồm 3 mạnh bái,
16 bồi tế Tên huý kiêng các từ: Minh, Lệ, Chiêu, Ứng
Quy trình tế gồm ngũ tuần:
Tuần nhất: Dâng hương hoa
Tuần nhị: Dâng đăng trà
Tuần tam: Dâng quả thực
Tuần tứ: Đọc chúc văn
Tuần ngũ: Lễ Tất
Sau lễ đức Thánh và nhị vị Đại vương là các trò vui dân gian kéo dài ba bốn ngày
20/3, Lễ rước xuất Đông nhập Tây Lễ này có từ khi xây dựng tam quan Cổng phía Bắc ghi 3 chữ Bắc địa đầu-nghĩa là làng Hán Lý ở phía bắc Cổng phía Nam ghi 3 chữ Nam thiên động- làng Hào Khê là động ở phía nam Đoàn rước
gồm: Kiệu bát hương, kiệu Đức thánh, hai kiệu Thành hoàng, kiệu Thánh mẫu Kiệu này do nữ thanh đồng khiêng Đoàn rước đi qua cổng phía đông, đi quanh hai làng , về cổng phía tây
Tối 25/3, mỗi giáp một mâm cỗ cúng tại đền Đức thánh, đọc kệ kể tiểu sử của Người
26-30/3, tế lễ Đức thánh và Thành hoàng Sau tế có lễ dâng hương do một đội múa gồm 16 người thực hiện trước tượng Đức thánh theo điệu Hoa chúc, Giao liên, mô phỏng múa cung đình Trong những ngày lễ hội có các trò diễn dân gian
Sáng 1/4, tổ chức rước Thành hoàng về các đình, kết thúc hội
Phần chia cỗ: Nếu tế bằng trâu bò, thì thủ biếu tiên chỉ một nửa, còn lại chia
ba, một phần biếu già làng từ 60 tuổi trở lên, một phần biếu chức sắc, một phần biếu những người hành văn Thịt chia theo đầu người từ hương ẩm trở lên
Trang 3Hội chùa Trông bao giờ cũng mời đại biểu chùa Hoa Vân đền Tân La ( Quỳnh Phụ, Thái Bình) Đền Tranh, đền Trung Hoà ( Ninh Giang) Trong những ngày hội, nhân dân Đào Phố, xã Hồng Phúc thường rước Thành hoàng lên chùa
Trông dự cho hết hội, gọi là rước chạ
Hội chùa Trông nay vẫn đông vui, nội dung khá phong phú không kém hội xưa
Lễ hội Chùa Muống
Chùa Muống tên tự là Quang Khánh tự, trước Cách mạng thuộc xã Dưỡng Mông, tổng Phù Tải, nay là một thôn thuộc xã Ngũ Phúc , huyện Kim Thành Chùa ở tả ngạn sông Văn úc
Tương truyền, vào thời Lý Công Uẩn, dân đến khai khẩn vùng đất Dưỡng Mông, buổi đầu khai phá , đất chua phèn, chỉ có rau muống là nguồn thức ăn chính Sau khi đất được cải tạo, trồng được hoa mầu và cây lương thực, cư dân đông đúc, lập thành làng Để nhớ những ngày đầu gian khổ sống nhờ rau muống, những già làng đề nghị đặt tên là Dưỡng Mông, còn nghĩa là nhờ cây rau muống
mà tồn tại
Chùa Quang Khánh là một trong những ngôi chuà được xây dựng sớm ở đất Kim Thành, đến thời Trần do sư Tuệ Nhẫn, một môn đệ của thiền phái Trúc Lâm chủ trì xây dựng hoành tráng Đến thời Nguyễn chùa có trên 120 gian, có tài liệu ghi là 124 gian, 32 tháp sư, hàng trăm pho tượng cổ và nhiều bia ký có giá trị Chùa được quy hoạch trên khuôn viên rộng 15.000m2 Quang Khánh là ngôi chùa lớn và nổi tiếng của Hải Dương Lê Thánh Tông hai lần viếng thăm đều có thơ khắc vào bia đá Năm 1947, do chiến tranh, chùa bị phá huỷ hoàn toàn Sau ngày miền Bắc giải phóng, chùa bắt đầu được khôi phục, đến nay cũng chỉ đạt một phần nhỏ của kiến trúc cũ Riêng hệ thống tháp vẫn được bảo tồn như xưa Tuệ Nhẫn nguyên là Vương Thiên Huệ, hiệu Quán Viên, pháp hiệu Tuệ Nhẫn, biệt hiệu là Thánh tổ Non Đông, quê tại Dưỡng Mông Cha mất sớm
nhưng Thiên Huệ có ý chí từ nhỏ, rất chăm chỉ học hành, thấu triệt các sách 19 tuổi di tu ở chùa Báo Ân, thụ giới sư Nghĩa Trụ, Chân Giám Tuệ Nhẫn là một cao tăng đồng thời còn là một lương y Ông có công xây dựng nhiều chùa lớn như: Vĩnh Nghiêm (Chí Linh), Siêu Loại (Bắc Ninh), Đông Khê, Do Nha (Hải Phòng)[1][1][1]Ông đã chữa khỏi mắt cho vua Trần Minh Tông Nhà sư viên tịch ngày 27 tháng giêng, năm ất Sửu, Khai Thái thứ hai(1325) Tuệ Nhẫn không chỉ
là một vị cao tăng mà sau khi mất còn được tôn làm Thành hoàng làng
Hội chùa Muống bắt nguồn từ kỷ niệm ngày mất của sư Tuệ Nhẫn, như
vậy hội đã có truyền thống từ đầu TK XIV, mang hai yếu tố Thần và Phật
Thông lệ , hội bắt đầu từ 24-26 tháng giêng, 26 là ngày trọng hội
Ngày 24 làm lễ nhập tịch, cỗ chay gồm hoa quả, bánh dầy, bánh
nếp[1][1][1]Sư sãi tụng kinh cả đêm, không khí thật sôi nổi
Trang 4Ngày 25, theo lệ là ngày rước bánh dầy quanh chùa trước khi đưa vào tiền đường thờ Thánh tổ Đây là một nghi thức mong mùa màng bội thu
Ngày 26, lễ tập ngơi, thực chất là một cuộc tập dượt chuẩn bị cho ngày
đại lễ Trong ngày tổ chức tập rước kiệu, chuẩn bị chu đáo các thứ cho trọng hội, buổi tối , các sư làm lễ mộc dục
Ngày 27 là ngày trọng hội, khách đến dự rất đông từ sáng sớm Lễ rước thực hiện như ở các đền và đình làng, gồm có bát biểu, tàn , long, đòn bát cống rước tượng Thánh tổ Non Đông, Thánh phụ, Thánh mẫu Đoàn rước diễu xung quang chùa rồi ra tam quan làm lễ, xong lại chuyển vào chùa để các thần tượng được an vị Hội kết thúc vào đêm 27
Hội chùa Muống là lễ hội lớn của Hải Dương, thu hút hàng vạn người tham gia Hội chùa Muống hiên nay vẫn được duy trì tuy không được như xưa Một
số thuần phong mỹ tục vẫn tồn tại như: vào những ngày hội, các cụ bà phân công nhau đứng hàng dài trước cửa chùa, bưng cơi trầu, niềm nở mời khách thập
phương, gây thiện cảm từ đầu cho khách đến dự hội
Lễ Hội Côn Sơn
Côn Sơn là một di tích và danh thắng được lịch sử ghi nhận từ bẩy thế kỷ trước Đây là chốn Phật tổ của thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, nơi Đại tư đồ Trần Nguyên Đán dựng Thanh Hư động, vào thời Long Khánh(1373-1377), nơi
Nguyễn Trãi sống thuở niên thiếu và những năm tháng cuối đời
Côn Sơn thời Trần thuộc xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn (Phượng Nhãn), phủ Lạng Giang, xứ Kinh Bắc Đầu TK XVIII, được cắt chuyển về huyện Chi Linh, trấn Hải Dương Sau Cách mạng tháng Tám, thuộc xã Cộng Hoà , huyện Chí Linh
Côn Sơn một năm có hai mùa hội,
Hội mùa xuân bắt nguồn từ kỷ niệm ngày mất của Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang(22/ Hội mùa thu bắt nguồn từ kỷ niệm ngày mất của Nguyễn Trãi (16/8) Hội xuân có từ sau khi Huyền Quang qua đời(1334), hội thu hình thành từ năm 1962, thực sự trở thành hội lớn từ năm 1980, khi Nguyễn Trãi được tôn
vinh là Danh nhân văn hoá thế giới
Quy mô hội thời Trần chưa rõ, từ thời Lê đến trước năm 1945, hội xuân
không lớn nhưng giữ vai trò quan trọng của Phật giáo Việt Nam nên đã được Đại Nam nhất thống chí ghi nhận Hội không chỉ của tín đồ Phật giáo mà còn dịp du
xuân của thanh niên Hội bắt đầu vào rằm tháng giêng, kết thúc vào 22 tháng giêng Nay hội kéo dài suốt tháng giêng nhưng trọng hội vẫn vào ngày 18 Hội
Trang 5thuần tuý về tôn giáo Các cụ bà đến đây tụng kinh niệm Phật, thanh niên leo núi
du xuân Buổi tối có các trò diễn dân gian Hội xuân tuy là hội chùa nhưng khách đến chủ yếu là thanh niên, nên có thể nói Hội xuân Côn Sơn là hội của thanh niên Hội khá đông, mỗi năm có tới hàng chục vạn khách, tuy thế số khách sang Kiếp Bạc rất ít , chỉ bằng 1/5 khách của Côn Sơn
Hội thu trùng với hội Kiếp Bạc, đây là một thứ hội kép, hội liên danh Côn Sơn -Kiếp Bạc, bởi hai di tích chỉ cách nhau 6km và đường qua lại khá thuận tiện Trong số khách đến Hội Kiếp Bạc có tới 2/3 sang Côn Sơn, ngược lại , khách đến hội thu Côn sơn đều sang Kiếp Bạc Như vậy khách đến hội thu Côn Sơn chỉ bằng 2/3 lượng khách của Kiếp Bạc Hội thu Côn Sơn kéo dài suốt tháng
8, trọng hội là ngày 18 , mặc dầu giỗ Nguyễn Trãi vào ngày 16
Hội xuân và hội thu Côn Sơn là hai lễ hội bắt nguồn từ kỷ niệm ngày mất
của danh nhân, nhưng tính kỷ niêm rất mờ nhạt mà chỉ nặng về du lịch và tín ngưỡng
Hội xuân và hội thu Côn Sơn rất lớn nhưng ở đây không có truyền thống hội chợ Hàng quán tuy có nhưng chủ yếu phục vụ ăn uống và lưu niệm mà thôi
Lễ Hội Đền Cuối
Đền Cối Xuyên nôm gọi là đền Cuối, thời Trần thuộc trang Cối Xuyên, năm
1672, đổi thành Hội Xuyên, sau Cách mạng thuộc xã Nghĩa Hưng, nay thuộc thị trấn Gia Lộc, huyện Gia Lộc Đền Cối Xuyên thờ Nguyễn Chế Nghĩa, một danh tướng thời Trần , từng tham gia hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông Hội đền Cuối bắt nguồn từ kỷ niệm ngày mất của Nguyễn Chế Nghĩa(27.8) Hội diễn
ra trong 3 ngày, từ 26-28.8
Trước vào đám 3 ngày, các thôn Cuối, Đại, Rỗ làm lễ tảo mộ tại khu lăng Đại vương Trong 3 ngày vào đám không tổ chức rước kiệu vì kiệu đã được rước từ đầu tháng giêng Ba làng Đại Liêu, Hội Xuyên, Vĩnh Dụ đều tổ chức rước Kiệu vào bãi Bái Quan để tế lễ, hôm sau lại rước về làng Trong những ngày hội, có nhiều loại cỗ cúng Đại vương Làng có 12 giáp , mỗi giáp làm một loại cỗ Đây là một điển hình của hội đền Cuối
Trong 3 ngày lễ hội, ngày đầu cúng bằng cỗ ngũ quả , bày theo
kiểu Thượng tam long, hạ tứ linh Những ngày sau cúng bằng các loại cỗ
Cỗ đường: Gồm các loại bánh như: Bánh dầy , bánh cốm , bánh phu thê,
bánh trôi, bánh chay, bánh nướng, bánh do, bánh bột lọc[1][1][1]Trên mặt bánh dán chữ thọ bằng giấy hồng điều Bánh cốm, bánh gio, bánh bột lọc gói bằng lá chuối tươi, buộc lạt nhuộm đổ
Cỗ thầu: Gồm các loại thịt: luộc, nấu đông, giò , nem, chả, nem chạo,
ninh, mọc[1][1][1]Các món đều đựng trong bát lớn
Trang 6Cỗ tam sinh: Về tam sinh mỗi nơi quan niệm một khác, ở đây tam sinh là
lợn, gà ,ngan hoặc ngỗng Ba con vật này làm thịt xong, để thịt sống, tạo dáng như còn sống, trang trí giấy hồng điều, cúng thần xong, chia cho các giáp làm cỗ
Cỗ bò thui: Ngày thứ ba, mổ bò, thui Thui xong, mang cả con bò và chậu
tiết vào tế thần Tế xong , giáp đăng cái khiêng bò về làm cỗ, chia phần
Ngoài các loại cỗ là trò vui dân gian như đấu vật, đập niêu, đặc biệt là
trò đánh thó hay còn gọi là đánh gậy Đây là võ thuật truyền thống có từ thời
Trần mà Nguyễn Chế Nghĩa là người rất điêu luyện Đánh thó được thực hiện hai người một , cùng lứa tuổi với cây gậy dài chừng 1,7m Trò chời này nhằm duy trì truyền thống thượng võ từ thời Trần, đồng thời còn là một nghi lễ
Hiện nay hội làng cuối vẫn được duy trì, nội dung khá phong phú nhưng các loại cỗ không còn như xưa
Hội Pháo Đất Minh Đức
Trong các trò chơi dân gian, pháo đất có lịch sử khá sớm, tồn tại trên phạm vi rộng ở đồng bằng Bắc bộ ,trọng tâm là hai huyện Tứ Kỳ và Ninh Giang Tại xã Minh Đức, trò chơi pháo đất được toàn dân hưởng ứng và trở thành lễ hội mùa xuân hàng năm, thường tổ chức vào tháng 3, không có ngày cố định
Minh Đức là một vùng đất cổ, có con người cư trú từ đầu công nguyên Vào TK XVII, có ông Nguyễn Thế Mỹ là một tướng quân có nhiều công trạng với triều
Lê Ông đã hưng công tôn tạo chùa Đông Dương có quy mô 54 gian khá hoành tráng Công trình tuy bị hư hại trong kháng chiến chống Pháp, nhưng còn nhiều
cổ vật có giá trị nên đã được xếp hạng quốc gia
Hội pháo đất của Minh Đức theo truyền thuyết có từ thời Hai Bà Trưng Hội diễn ra từ tháng giêng đến tháng tư âm lịch, kết hợp với hội chùa và đình đám của các làng Sau khi tế lễ Thành hoàng xong là bắt đầu hội thi pháo Trước hết các xóm thi với nhau, chọn đội mạnh thi đấu ở cấp xã Xã chọn đội mạnh thi đấu với các xã của huyện Để có thể thắng cuộc, pháo thủ phải là người khoẻ , nắm chắc kỹ thuật từ khâu chọn đất, luyện đất, nặn pháo và đánh pháo
Pháo nặn hình bầu dục, bằng đất luyện kỹ, dầy khoảng 4cm, dài từ 80-100cm, rộng từ 40-60cm Tiếp theo là lên khung pháo, vê mép hay còn gọi
là mông con Nặn xong, lấy que tre rạch một đường xung quanh mông con và
một gạch ngang tạo thành mõm pháo, rồi lấy tay miết lại Khi đánh cần chọn 2-3 người phục vụ cho một người đánh, vì pháo khá nặng, mỗi quả tới 30-40kg Người gieo pháo gọi là pháo thủ Pháo thủ đứng thế hai chân mở rộng bằng vai, nâng pháo lên ngang vai, kẹp tay vào nách cho vững, lấy đà đập pháo về phía
Trang 7trước vào bàn gieo pháo Bàn gieo pháo là một khoảng sân nhỏ đập phẳng, hơi nghiêng về phía pháo thủ Nay bàn gieo pháo làm bằng bê tông, đến hội mang ra dùng, hết hội cất đi để năm sau dùng tiếp Ngày xưa pháo thủ đóng khố cởi trần, nay mặc quần dài, áo cộc tay Khi đánh pháo, đồng đội reo hò cổ vũ rất sôi nổi để tăng sức mạnh và niềm tin cho pháo thủ
Cách tính điểm: Pháo nổ nhưng không văng mông con hoặc có văng
nhưng không đạt kích thước quy định (40cm), mông con văng ra nhưng đứt đoạn
gọi là pháo bị bổ Pháo đánh xuống không có tiếng kêu gọi là pháo xịt Tất cả
những trường hợp trên đều không được tính điểm
Trường hợp được tính điểm: Pháo nổ văng hết mông con, mông con ra đến đâu đo đến đó (lấy mõm xa nhất) Trong một lần đánh hay tổng số các lần đánh, người nào có số đo mông con dài nhất người ấy thắng
Đánh pháo đất là một nghệ thuật, chỉ có người nông dân suốt đời gắn bó với đất , hiểu ngọn ngành từng thớ đất mới hy vọng trở thành pháo thủ giỏi Giải thưởng thường rất giản dị Xưa thường là 5 chai rượu Ông cụ, nay tuỳ theo quy định của từng xã và của từng năm Trò chơi pháo đất hiện nay có ở xã Quang Khải (Tứ Kỳ), Nghĩa An, ứng Hoè, Bồ Dương, Hồng Thái, Kiến Quốc (Ninh Giang) Các xã này thường tổ chức đấu giao hữu nhưng sôi nổi nhất vẫn là Minh Đức
Lễ hội chùa Minh Khánh
Chùa Minh Khánh còn có tên là chùa Hương Đại hay chùa Hương ở thôn Bình
Hà , huyện Thanh Hà Bình Hà nguyên là trang Bình Kha thời Lý, đến TK XIII, Trần Nhân Tông đổi thành Hương Đại, nay thuộc thị trấn Thanh Bình, huyện Thanh Hà
Hội chùa Minh Khánh bắt nguồn từ kỷ niệm ngày mất của Trần Nhân
Tông(1/11âl) Hội bắt đầu vào ngày 30/10, kết thúc vào chiều 1.11, nhưng công tác chuẩn bị thực hiện trước đó hàng tuần không chỉ của Bình Hà mà của 5 xã kế cận Thông lệ, chiều 29.10 làm lễ mộc dục, rước sắc từ đình Ngự Dội về chùa để
mở hội Hội có tục thi mâm ngũ quả và 5 loại bánh: Bánh dầy, bánh mật, bánh ít, bánh tày, bánh gấc Sáng 30/10, các giáp rước cỗ và bánh về chùa cúng Vua và đức Phật, tổ chức trò diễn dân gian Chiều 1.11, tế lễ xong, chấm giải cỗ , bánh, rước sắc về đình Ngự Dội, kết thúc hội
Trước Cách mạng, xã chia làm 12 giáp, đại diện cho 12 dòng họ Mỗi giáp có 21 mẫu, 9 sào, 10 thước ruộng họ Hoa lợi của ruộng họ được dùng vào
việc họ và lễ hội Trong những ngày hội, ông đám chịu trách nhiệm về các loại
bánh và mâm ngũ quả
Trang 8Mâm ngũ quả có tới trên 10 đề tài khác nhau như: Cửu long tranh châu, Cửu long bảo tháp, Long phượng kình quyền, Lưỡng long hồi đáp; Thượng tam long, hạ tứ linh; tử tòng mẫu[1][1][1]được tạo bằng các loại hoa quả của địa
phương Qua bàn tay nghệ nhân, mâm ngũ quả trở thành những hình tượng sinh động Đây là phong tục độc đáo của một vùng hoa trái trù phú gắn liền với tục thờ vua còn duy trì đến nay
Hội chùa Hương và tục thi mâm ngũ quả cùng năm loại bánh đang được bảo tồn, duy trì và phát huy Hiện nay, nghệ nhân am hiểu nghệ thuật cổ truyền phần lớn đã qua đời Lớp trẻ không được hướng dẫn đến nơi đến chốn nên hình tượng tứ linh thường không sinh động, ngô nghê và thiếu tính nghệ thuật
Hội chùa đồng thời cũng là hội chợ của một vùng, vì chùa liền với chợ
Trò vui dân gian trong những ngày hội
Trong những ngày hội, ngoài phần lễ là các trò diễn dân gian, những trò này không chỉ lấy làm vui mà còn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc Từ trò diễn dân gian
mà cha ông ta đã nâng lên thành các bộ môn nghệ thuật truyền thống Có những trò vui trở thành phổ biến trong các lễ hội như : hát chèo, hát quan họ, đấu vật, kéo co, chọi gà , có những trò vui chỉ có ở từng hội, như: đánh thó ở hội Cối Xuyên (Gia Lộc), thi quăng chài ở hội Từ Xá( Thanh Miện), thi mâm ngũ quả ở Chùa Minh Khánh(Thanh Hà) Dưới đây là những trò vui thường thấy trong những ngày hội ở Hải Dương
1-Hát chèo hay còn gọi là chèo sân đình Nói sân đình là nói tính phổ biến, trong
thực tế người ta ta có thể biểu diễn ở sân chùa, sân đền Chèo nguyên thuỷ không
có sân khấu, người ta giải chiếu ra sân rồi biểu diễn, người xem có thể đứng, ngồi xung quanh Xưa gọi là đi xem hát, vì vừa nghe hát vừa xem biểu diễn, tức là nghe và nhìn Các tích chèo sân đình hầu hết là tích cổ điển, như: Phạm Tải Ngọc Hoa, Trống Trân Cúc Hoa, Trương Viên, Tấm Cám, Nhị Độ Mai, Lưu Bình Dương Lễ Khi diễn ở địa phương nào, người ta lại sáng tác một vài đoạn, lấy từ
sự tích địa phương vào phần giáo đầu để được lòng chủ và cũng vui lòng khách
2-Hát ca trù hay còn gọi là hát cô đầu, khi biểu diễn chỉ có một cô đào
vừa gõ sênh vừa hát một làn điệu gọi là ca trù và một nhạc công đánh đàn tam,
một người kéo nhị hoặc hồ, bên ngoài có một người cầm chầu, tức là người đánh
trống chầu giữ nhịp, hết một câu lại gõ tom, chát Người đánh trống chầu thường
là các vị chức dịch trong các làng xã Những cô đào tài hoa có thể vừa kéo nhị, vừa gõ sênh vừa hát, không cần nhạc công
Trang 93-Hát đúm hình thành do những người đi cấy, đi cày, làm cỏ đồng, những
cô cắt cỏ bên sông với những anh lái đò dọc, rồi trở thành trò vui trong các ngày hội làng mùa xuân, mùa thu Ví dụ:
Lời anh lái đò dọc:
Hỡi cô cắt cỏ bên sông,
Có muốn lấy chồng thì xuống với anh
Lời cô cắt cỏ:
Anh ơi ghé mũi lại đây,
Để em xắn váy bước vào mũi anh
Ngày nay người ta còn ghi được một số câu hát đúm, lời thơ mộc mạc, chất phác nhưng cũng rất ý nhị, sâu sắc, để từ đó ra đời những câu ca dao bất hủ cùng năm tháng Quá trình hát đối đáp, người ta có thể lấy các tích trong truyện
cổ, truyện nôm, ca dao, rồi sáng tác một vài câu cho phù hợp với hoàn cảnh và tình cảm của từng người, từng bên Khi hát người ta chia làm hai phe, nam một bên, nữ một bên, mỗi phe 5-10 người, kể cả người xui hát, đứng cách xa nhau chừng 20-30m như ở hai bên sân đình, hồ đình hoặc hai bên bờ sông hẹp để có một khoảng cách cần thiết, nhưng cũng không xa quá để khi hát có thể nghe rõ, nếu ban ngày có thể nhìn rõ mặt nhau Khi hát con trai thường hát trước
4-Hát trống Quân là một cách hát theo nhịp một loại trống đặc biệt, lời
theo thể thơ lục bát Theo truyền thuyết hát trống quân có từ thời Hai Bà Trưng
và tồn tại đến nay Trống được tạo ra trên một mảnh đất bằng phẳng, người ta đào một cái hố sâu rộng chừng 50cm, kiểu hàm ếch, trên đặt một mâm gỗ, tương
tự như một mặt trống; đóng một cọc cách hố chừng 15m, chăng một dây thừng qua mặt mâm đến đầu cọc Khi hát, người ta lấy một đoạn tre dài khoảng 40cm, đánh lên đoạn dây trên mặt mâm, theo nhịp hát, tạo ra một âm thanh trầm ấm đặc biệt Có thể thay mâm gỗ và dây thừng bằng mâm thau và dây thép nhưng âm thanh không trầm ấm như mâm gỗ, thứ âm thanh gợi nhớ về một quá khứ xa xăm của dân tộc Hát trống quân cũng như hát đúm, chia làm nhiều nhóm, nhiều lứa tuổi khác nhau; nam một bên, nữ một bên; người ta thường đứng cách nhau 20-30m, thường hát hai bên hồ hay bên sông, hát trống quân thường diễn ra vào mùa thu, giữa tuần trăng sáng, từ chập tối đến nửa đêm
5-Múa rối nước là một loại hình múa rối, sân khấu đặt trên mặt nước,
người ta điều khiến con rối ngầm dưới nước, tạo nên sự bất ngờ và sinh động, đây là một loại hình nghệ thuật độc đáo của Việt Nam Hải Dương có hai phường trò rối nước nổi tiếng là Bồ Dương(Ninh Giang) và An Liệt( Thanh Hà)
6-Đi cầu kiều hay còn gọi là cầu thùm Người ta chọn một cấy tre dài và
thẳng, đặt gốc ở bờ, cách mặt nước chừng một mét; đóng hai cọc ở ao hay hồ cách bờ 6-7 mét, buộc dây vào ngọn tre ở tư thế thăng bằng, trên cọc có một cờ nhỏ Ai di hết cầu, giật được lá cờ thì thắng cuộc Nhiều người chỉ đi được một đoạn cầu đã rơi xuống nước, cùng vì thế mà gọi là cầu thùm Trò vui đi cầu thùm nay vẫn còn nhưng không phổ biến như xưa
Trang 10
7-Bơi trải là trò vui khá phổ biến ở vùng sông nước Hải Dương, bắt nguồn
từ truyền thống thuỷ chiến xa xưa ở đền Quát(Gia Lộc) và Chùa Hào Xá( Thanh Hà) bơi trải không chỉ là một trò vui mà như một nghi thức tế thành hoàng Thuyền bơi trải có thể đan bằng tre hoặc đóng bằng gỗ, kiểu thon dài, mũi nhọn, lướt sóng nhẹ nhàng, dài 8-9m, mỗi thuyền có từ 14-18 người, trong đó có một người cầm lái, một người gõ mõ cầm nhịp, mặc áo dài, thắt lưng đỏ, còn lại là những tay chèo, đóng khố, cởi trần Khi thi người ta có thể cho từ 3-6 trải bơi cùng một lúc, nếu nhiều hơn phải chia làm nhiều đội đấu loại trước khi vào chung kết
8-Cờ người cũng là cờ tướng, bắt nguồn từ Trung Quốc, chỉ khác cờ
tướng ở chỗ, quân cờ đóng bằng nam nữ chưa vợ, chưa chồng Nam một bên, nữ
một bên Đóng tướng, sĩ phải là người có nhan sắc Tướng trang phục như võ tướng, có hai lá cờ đuôi nheo cắm sau lưng rất oai vệ; sĩ đóng vai quan văn, đội
mũ cánh chuồn chững chạc Quân bên nữ mạc áo dài đỏ, chít khăn, thắt lưng xanh, đi hài thêu, môi son, má phấn Nam mặc áo dài trắng, áo the ngoài, thắt lưng, chít khăn khác mầu bên nữ Tướng ngồi ghế tựa, quân ngồi ghế đẩu; mỗi người cầm một biển gỗ, sơn son thiếp vàng, viết tên quân cờ hai mặt, có cán chừng một mét Khi vào chơi cờ các đấu thủ phải qua khảo trịch Khi đánh, hai đấu thủ vẫn đi trên bàn cờ thông thường; đi quân nào, có thừa sai phất cờ, dóng trống để quân đi đúng vị trí Quân bị triệt, phải ra ngoài Như vậy, người đi xem không chỉ xem đánh cờ mà còn được xem những người đóng quân cờ
9-Cờ Bỏi cũng là một hình thức đánh cờ người, nhưng quân không phải
bằng người mà chỉ bằng những thẻ gỗ sơn son thiếp vàng, có cán dài chừng 1m, viết tên quân cờ hai mặt, cắm vào các ô đã định sẵm trên sân Người đánh phải tự nhấc quân mà đi, trước khi đi phải có hiệu lệnh bằng trống bỏi Cờ bỏi là một hình thức mở rộng bàn cờ để nhiều người được xem trong ngày hội
10-Tổ tôm điếm cũng như tổ tôm thường, chỉ khác là mỗi người đánh ngồi một
điếm, 5 người ngồi ở 5 điếm cách nhau vài ba mét, trên một đường tròn, tuỳ theo sân rộng hay hẹp mà đặt các điếm cho phù hợp với không gian Mỗi điếm có một giá cắm bài Giữa sân có một điếm để chia bài, có giá để bài nọc Nhưng nơi có điều kiện có thể che rạp cả sân để tránh mưa năng Đánh bài có trống và thanh la
làm hiệu, có người chạy bài giữa các điếm Khi ăn bài hoặc dậy khàn, dậy thiên khai, hoặc ù đều có hiệu trống riêng, ví dụ: Ăn bài thì đánh một tiếng trống,
phỗng thì đánh hai tiếng, dậy thiên khai đánh 4 tiếng, ù thì đánh liền một hồi, không ăn thì đánh một tiếng thanh la, khi còn lưỡng lự, suy nghĩ thì đánh một tiếng tùng, một tiếng cắc Đánh sai hiệu lệnh thì không những không được ăn mà còn bị phạt