Mục tiêu đề kiểm tra - Kiểm tra mức độ chuẩn kiến thức, kĩ năng được quy định trong chương trình môn Ngữ văn lớp 10, sau khi học sinh kết thúc tuần 11; Nội dung bài viết số 3: Làm văn ng[r]
Trang 1SỞ GD VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH ĐỀ KIỂM BÀI VIẾT SỐ 3
Trường THPT Cù Huy Cận Môn: Ngữ văn 10 ( Chương trình chuẩn)
Tổ Văn - Anh (Thời gian: Học sinh làm ở nhà)
-I Mục tiêu đề kiểm tra
- Kiểm tra mức độ chuẩn kiến thức, kĩ năng được quy định trong chương trình môn Ngữ văn lớp 10, sau khi học sinh kết thúc tuần 11; Nội dung bài viết số 3: Làm văn nghị luận xã hội
- Mục đích đánh giá năng lực tạo lập văn bản văn nghị luận xã hội về tư tưởng, đạo lí, đặc biệt là lí tưởng sống của thanh niên trong thời đại ngày nay
- Cụ thể:
Ôn lại các kiến thức và kĩ năng cơ bản làm một bài văn nghị luận Chú ý các thao tác lập luận : giải thích, chứng minh, phân tích, bác bỏ, bình luận
- Xem lại những bài viết số 1, 2 và các bài nghị luận xã hội ở lớp 9, nhất là các nghị luận về tư tưởng, đạo lí Chú ý ưu điểm , nhược điểm để rút kinh nghiệm
II Hình thức đề kiểm tra
- Hình thức tự luận
III Thiết lập ma trận
KHUNG MA TRẬN DỀ KIỂM TRA BÀI VIẾT SỐ 3 MÔN NGỮ VĂN LỚP 10 (CTCB)
Mức độ
Chủ đề
Nhận biết Thông hiểu
Vận dụng
Cộng
Làm văn
Nghị luận xã hội
Dạng đề nghị luận về lí tưởng sống của thanh niên
Xác định vấn đề nghị luận về tư tưởng, đạo
lí Có nhận thức đúng đắn về lí tưởng sống của thanh niên ngày nay
Hiểu đề , lập dàn ý và các thao tác lập luận về nghị luận về tư tưởng, đạo lí
Vận dụng kiến thức kĩ năng
về văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí
Tích hợp kiến thức, kĩ năng
về bài nghị luận về lí tưởng sống của bản thân
để nêu suy nghĩ về lí tưởng sống đúng đắn của thanh niên
Trang 2ngày nay.Vận dụng các thao tác lập luận trong bài nghị luận xã hội Xây dựng được luận điểm, luận cứ
và dẫn chứng xác thực
Chú ý liên kết trong bài viết
Số câu: 1
Số điểm: 10
Tỉ lệ: 100%
1 10 100%
Số câu: 1
Số điểm:10
Tỉ lệ: 100% Tổng số câu: 1
Tổng số điểm:10
Tỉ lệ 100 %
Số câu: 1
Số điểm:10
Tỉ lệ 100 %
Số câu: 1
Số điểm:10
Tỉ lệ:100 %
IV BIÊN SOẠN ĐỀ:
ĐỀ KIỂM BÀI VIẾT SỐ 3
Môn Ngữ văn 10 (chương trình chuẩn) - Năm học: 2012- 2013
( Học sinh làm ở nhà)
ĐỀ RA : Trong bài thơ Một khúc ca xuân, nhà thơ Tố Hữu viết :
“Nếu là con chim, chiếc lá Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không có trả Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”
Cùng quan niệm đó, Nguyễn Thành Long đã xây dựng thành công nhân vật anh
thanh niên trong truyện Lặng lẽ Sa Pa ( Ngữ văn 9, tập một) Từ vẻ đẹp của nhân vật
này,em có suy nghĩ gì về lí tưởng sống của thanh niên ngày nay?
Trang 3V HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐÁP ÁN
a Yêu cầu về kĩ năng
- Biết cách làm bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí
- Có luận điểm, luận cứ rõ ràng
- Bố cục chặt chẽ, diễn đạt rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi
ngữ pháp
b Yêu cầu về kiến thức
- Trên cơ sở những kiến thức về tư tưởng, đạo lí: Quan điểm về lí tưởng sống
của thanh niên hiện nay
A Mở bài: Nêu được vấn đề nghị luận: thanh niên phải có lí tưởng sống 1,0
B Thân bài
-Luận điểm 1: Giải thích vấn đề nghị luận (Thế nào là sống có lí tưởng ?)
2,0
- Luận điểm 2: Phân tích và chứng minh (Vì sao thanh niên phải sống có lí
tưởng)
2,0
- Luận điểm 3:Bàn bạc, mở rộng vấn đề (dẫn chứng trong quá khứ và hiện
nay) Biểu dương những tấm gương tốt, phê phán mặt sai trái, tiêu cực trong
lối sống,…
2,0
- Luận điểm 4: Khẳng định vấn đề trên là đúng và cần thiết Nêu ý nghĩa, tác
dụng của vấn đề, liên hệ đối với bản thân là thanh niên sống trong thời đại
hội nhập thế giới, cần làm gì thiết thực cho bản thân và sống có lí tưởng đúng
đắn
2,0
C.Kết bài : Đánh giá chung, khẳng định lại suy nghĩ bản thân và nâng lên
tầm khái quát vần đề sống có lí tưởng
1,0
THANG ĐIỂM
- Điểm 9 - 10: Đáp ứng tốt các yêu cầu của đề, bố cục sáng rõ, văn viết mạch lạc, có cảm
xúc, cảm nhận độc đáo, sâu sắc, sáng tạo
- Điểm 7- 8: Đáp ứng khá tốt các yêu cầu của đề, bố cục hợp lí, cảm nhận khá nhưng lập
luận chưa sắc sảo, có một số lỗi về diễn đạt
- Điểm 5- 6: Đáp ứng ở mức trung bình các yêu cầu của đề
Điểm 3 4: Hiểu đề chưa thấu đáo, bài làm còn chung chung, diễn đạt thiếu trôi chảy
Điểm 1 2: Chưa hiểu đề, bài làm hoặc quá sơ sài, hoặc lan man, kiến thức thiếu chắc
chắn, diễn đạt hạn chế
- Điểm 0: Không làm bài, bỏ giấy trắng
Lưu ý:
- Chỉ cho điểm tối đa khi thí sinh đạt được cả yêu cầu về kĩ năng và kiến thức
- Giáo viên cần linh hoạt trong khi chấm, tránh hiện tượng đếm ý cho điểm.
-Hết -
GV thực hiện : Trần Nhật Lời