Còn được biết đến với cái tên "Đái tháo đường tuổi vị thành niên" hoặc "Đái tháo đường phụ thuộc insulin" • Đái tháo đường type 1 cũng có thể gặp ở những người lớn tuổi hơn do tụy bị hủy
Trang 1Những người thuô ̣c nhóm nguy cơ là: béo phì, thói quen ít vâ ̣n đô ̣ng tay chân, gia đình có
bê ̣nh đái tháo đường, có bê ̣nh tăng huyết áp, bi ̣ rối loa ̣n mỡ máu, có bê ̣nh xơ vữa đô ̣ng
ma ̣ch, phu ̣ nữ có tiền căn sinh con nă ̣ng ký (hơn 4kg), phu ̣ nữ có tiền căn đái tháo đường thai kỳ, người trước đây có rối loa ̣n đường huyết… Những người này nên đi kiểm tra đường huyết đi ̣nh kỳ (có thể là mỗi năm)
Khi đường huyết tăng cao nhiều, người bê ̣nh thường có biểu hiê ̣n: khát, khô miê ̣ng, uống nhiều, tiểu nhiều, đêm đi tiểu 2-3 lần hoă ̣c hoă ̣c nhiều hơn, su ̣t cân, mê ̣t mỏi Mô ̣t số biểu hiê ̣n khác ít gă ̣p hơn như: mờ mắt, tê tay chân, ngứa da, nhiễm trùng da lâu lành, nước tiểu có kiến bu…
Đái tháo đường
Chỉ mục bài viết
Đái tháo đường
Nguyên nhân
Triệu chứng
Khi nào cần đến sự can thiệp của bác sĩ
Lâm sàng & Cận lâm sàng
Glucose trong máu cung cấp năng lượng cho các hoạt động hằng ngày chẳng hạn như đi
bộ, đạp xe, tập thể thao, và làm việc nhà
• Glucose được gan sản xuất từ thức ăn hằng ngày (gan là cơ quan nằm bên trái bụng, gần dạ dày)
• Ở người khỏe mạnh, nồng độ glucose trong máu được điều hòa bởi một số loại hormon, trong đó có insulin Insulin được sản xuất từ tụy, một cơ quan nhỏ nằm giữa dạ dày và gan Tụy tiết ra những enzyme quan trọng giúp tiêu hóa thức ăn
• Insulin giúp glucose đi từ gan vào máu, cơ và những tế bào mỡ, những nơi cần nó
để làm nhiên liệu
• Những người bị đái tháo đường là do cơ thể không sản xuất đủ insulin (đái tháo đường type I) hoặc không sử dụng được insulin một cách hiệu quả (đái tháo đường type II), hoặc có thể gặp cả hai trường hợp nêu trên
Trang 2• Ở bệnh đái tháo đường, glucose trong máu không di chuyển vào trong tế bào được nên nó vẫn nằm lại ở đó Điều này không chỉ gây hủy hoại các tế bào vốn cần glucose để làm nhiên liệu hoạt động mà còn gây hủy hoại một số cơ quan hoặc mô của cơ thể do bị tiếp xúc với glucose nồng độ cao.
Đái tháo đường type 1 Cơ thể ngừng sản xuất insuline hoặc lượng insulin được sản xuất
quá ít không đủ để điều hòa lượng glucose có trong máu
• Đái tháo đường type 1 chiếm khoảng 10% các trường hợp bị đái tháo đường ở Mỹ
• Đái tháo đường type 1 thường gặp ở trẻ em hoặc thiếu niên Còn được biết đến với cái tên "Đái tháo đường tuổi vị thành niên" hoặc "Đái tháo đường phụ thuộc insulin"
• Đái tháo đường type 1 cũng có thể gặp ở những người lớn tuổi hơn do tụy bị hủy hoại bởi rượu, bệnh tật hoặc bị phẫu thuật cắt bỏ Nó cũng có thể là kết quả của bệnh suy tế bào beta tuyến tụy tiến triển, vốn là những tế bào sản xuất insulin
• Những bệnh nhân bị đái tháo đường type 1 cần phải được điều trị bằng insulin mỗi ngày để duy trì cuộc sống
Đái tháo đường type 2 Tụy có khả năng sản xuất insulin được nhưng cơ thể mất khả
năng sử dụng được lượng insulin này (một phần hay hoàn toàn) Hiện tượng này đôi khi được gọi là đề kháng insulin Cơ thể cố gắng chống lại sự đề kháng này bằng cách chế tiết insulin nhiều hơn Những người bị đề kháng insulin sẽ phát triển thành bệnh đái tháo đường type 2 khi cơ thể của họ không thể tiếp tục chế tiết đủ insulin để đáp ứng với nhu cầu cao hơn
• Có ít nhất 90% bệnh nhân đái tháo đường bị đái tháo đường type 2
• Đái tháo đường type 2 thường gặp ở tuổi trưởng thành, thường là sau 45 tuổi Nó cũng thường được gọi là "đái tháo đường tuổi trưởng thành" hoặc "đái tháo đường không phụ thuộc insulin" Những tên gọi này đã không còn được dùng nữa vì đái tháo đường type 2 cũng có thể xảy ra ở người trẻ và một số bệnh nhân cũng cần phải sử dụng insulin để điều trị
• Đái tháo đường type 2 thông thường có thể kiểm soát được bằng chế độ ăn, giảm cân, thể thao, và thuốc uống Hơn 50% bệnh nhân đái tháo đường type 2 cần sử dụng insulin để kiểm soát đường huyết ở một số giai đoạn tiến triển của bệnh
Đái tháo đường thai kỳ là một thể đái tháo đường xảy ra trong nửa cuối thai kỳ
• Mặc dù đái tháo đường thai kỳ thường sẽ khỏi sau khi sinh tuy nhiên những phụ nữ
bị bệnh này sẽ dễ bị đái tháo đường type 2 hơn những phụ nữ khác sau này
• Những phụ nữ bị đái tháo đường thai kỳ dễ sinh con to
Hội chứng chuyển hóa (còn được gọi là hội chứng X) là một nhóm những biểu hiện bất
thường trong đó đái tháo đường type 2 hầu như luôn hiện diện cùng với tăng huyết áp, mỡ máu cao (tăng lipid máu, nổi bật là tăng LDL, giảm HDL và tăng triglyceride), béo phì trung tâm, và bất thường đông máu và phản ứng viêm Một tỷ lệ lớn bệnh tim mạch cũng
có liên quan đến hội chứng chuyển hóa
Tiền đái tháo đường là tình trạng đường huyết cao hơn mức bình thường nhưng không đủcao để được chẩn đoán là đái tháo đường
• Tiền đái tháo đường làm gia tăng nguy cơ bị đái tháo đường type 2 và bệnh tim mạch hay đột quỵ
Trang 3• Thông thường tiền đái tháo đường có thể khỏi mà không cần sử dụng insulin hoặc thuốc bằng cách giảm cân vừa phải và gia tăng các hoạt động thể lực Cách giảm cân này có thể phòng ngừa, hay ít nhất là làm chậm lại, sự khởi phát của đái tháo đường type 2.
• Ủy ban quốc tế của hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ đã định nghĩa lại tiêu chuẩn chẩn đoán của tiền đái tháo đường, hạ thấp mức đường huyết giới hạn của tiền đái tháo đường, do đó có thêm khoảng 20% người trưởng thành được xem là bị tiền đáitháo đường và có thể phát triển thành đái tháo đường trong vòng 10 năm tới nếu không tập thể dục hoặc giảm cân thích hợp
Tỷ lệ người bị đái tháo đường gia tăng nhanh chóng do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là sự gia tăng tỷ lệ những người bị béo phì và thường xuyên ngồi một chỗ nhiều
Các biến chứng của đái tháo đường
Những biến chứng chính của đái tháo đường
Cả hai thể đái tháo đường đều dẫn đến sự gia tăng lượng đường trong máu Nếu kéo dài,
có thể sẽ gây tổn thương võng mạc, thận, thần kinh, và mạch máu
• Tổn thương võng mạc có thể dẫn đến mù
• Tổn thương thận có thể gây suy thận
• Tổn thương thần kinh có thể gây ra những vết thương và loét ở bàn chân, thường phải cắt cụt bàn và cẳng chân
Trang 4• Tổn thương các dây thần kinh thuộc hệ thần kinh tự chủ có thể dẫn đến liệt dạ dày, tiêu chảy mạn, và không kiểm soát được tần số tim và huyết áp khi thay đổi tư thế.
• Đái tháo đường cũng thúc đẩy xơ vữa động mạch (hình thành những mảng chất béobên trong động mạch) có thể dẫn đến hẹp hoặc tắc nghẽn Những thay đổi này có thể dẫn đến cơn suy tim cấp, đột quỵ và giảm lưu lượng tuần hoàn đến tay và chân (bệnh lý mạch máu ngoại biên)
• Đái tháo đường có thể dẫn đến tăng huyết áp và tăng cholesterol, triglycerid Những bệnh này tiến triển độc lập kết hợp với đái tháo đường để gia tăng nguy cơ
bị bệnh tim mạch, bệnh thận, và những biến chứng về mạch máu khác
Trong giai đoạn ngắn, đái tháo đường có thể gây ra những tình trạng cấp tính sau:
• Nhiều bệnh nhiễm trùng có thể liên quan đến đái tháo đường, và ở những người
bị đái tháo đường, nhiễm trùng trở nên nguy hiểm hơn vì khả năng chống đỡ của cơthể đối với các tác nhân nhiễm trùng đã bị bệnh đái tháo đường làm cho suy yếu đi.Nhiễm trùng cũng có thể làm khả năng kiểm soát đường huyết của cơ thể trở nên tồi tệ hơn dẫn đến làm chậm trễ tiến trình phục hồi của cơ thể sau nhiễm trùng
• Hạ đường huyết có thể xảy ra từ từ ở hầu hết bệnh nhân đái tháo đường do sử
dụng quá nhiều thuốc đái tháo đường hoặc insulin (còn được gọi là phản ứng insulin), bỏ bữa ăn, tập thể dục nhiều quá mức bình thường, uống quá nhiều rượu, hoặc uống thuốc để điều trị một bệnh khác Việc nhận biết các dấu hiệu hạ đường huyết và chuẩn bị sẵn sàng điều trị nó là rất quan trọng Những triệu chứng thường gặp là nhức đầu, hoa mắt, kém tập trung, run tay và vã mồ hôi Bệnh nhân có thể sẽ
bị ngất nếu như đường huyết xuống quá thấp
• Nhiễm ceton acid do đái tháo đường: đây là một tình trạng nguy kịch được gây ra
do đường huyết trong máu cao không được kiểm soát kéo dài (thường là do thiếu insulin hoàn toàn hoặc một phần) dẫn đến sự tích tụ những sản phẩm thừa có tính acid trong máu có tên là ceton Nồng độ ceton cao trong máu rất nguy hiểm Tình trạng này thường gặp ở những người bị đái tháo đường type 1 không kiểm soát tốt đường huyết Nhiễm ceton acid có thể bị thúc đẩy bởi nhiễm trùng, stress, chấn thương, không sử dụng thuốc, hoặc những tình trạng cấp cứu như trụy tim mạch vàđột quỵ
Hội chứng tăng áp lực thẩm thấu không do ceton: đây là một tình trạng nguy kịch gây
ra do đường huyết trong máu rất cao Cơ thể cố gắng chống cự lại bằng cách thải lượng đường dư ra ngoài nước tiểu Điều này là gia tăng lượng nước tiểu đáng kể và thường dẫn đến thiếu nước nặng, có thể gây tai biến, hôn mê, và thậm chí là tử vong Hội chứng này thường gặp ở những bệnh nhân bị đái tháo đường type 2 không kiểm soát mức đường huyết, hoặc những người bị thiếu nước, bị stress, tổn thương, đột quỵ hoặc đang sử dụng một số loại thuốc, chẳng hạn như steroid
NGUYÊN NHÂN
Đái tháo đường type 1: đái tháo đường type 1 được cho là do bệnh tự miễn Hệ thống
miễn dịch của cơ thể tấn công những tế bào tuyến tụy sản xuất insulin
• Có tính chất gia đình ở một số trường hợp, tuy nhiên nguyên nhân do di truyền thường gặp hơn ở đái tháo đường type 2
• Yếu tố môi trường, bao gồm nhiễm siêu vi không tránh được, cũng có thể là một tác nhân đóng góp
• Đái tháo đường type 1 thường gặp nhất ở những người không có nguồn gốc La tinh, Bắc Âu (đặc biệt là ở Phần Lan và Sardinia), sau đó là dân Mỹ gốc Phi, dân
Mỹ có nguồn gốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Ít gặp ở Châu Á
Trang 5• Đái tháo đường type 1 ở nam nhiều hơn một ít so với nữ.
Đái tháo đường type 2: có tính di truyền mạnh, có nghĩa là đái tháo đường type 2 có
khuynh hướng phát triển theo gia đình Một số loại gen đã được xác định và một số khác đang trong giai đoạn nghiên cứu được nghi ngờ là nguyên nhân gây ra đái tháo đường type
2 Yếu tố nguy cơ của đái tháo đường type 2 bao gồm:
• Tăng huyết áp
• Tăng triglyceride (mỡ) máu
• Đái tháo đường thai kỳ hoặc sinh con nặng hơn 4kg
• Chế độ ăn nhiều chất béo
• Uống nhiều rượu
• Ngồi nhiều
• Béo phì hoặc thừa cân
• Chủng tộc, đặc biệt khi có những người thân bị đái tháo đường type 2 hoặc bị đái tháo đường thai kỳ
• Tuổi tác: sự gia tăng tuổi tác là yếu tố nguy cơ rõ rệt của đái tháo đường type 2 Nguy cơ bắt đầu tăng rõ rệt ở tuổi 45 và tăng đáng kể sau 65 tuổi
TRIỆU CHỨNG
Triệu chứng của đái tháo đường type 1 thường xuất hiện đột ngột.
• Đái tháo đường type một thường gặp ở trẻ em hoặc giai đoạn sớm của tuổi trưởng thành, thường đi kèm với những bệnh khác như bị nhiễm virus hoặc nhiễm trùng đường niệu hoặc bị tổn thương
• Gia tăng thêm stress có thể gây ra nhiễm ceton acid
• Triệu chứng của nhiễm ceton acid bao gồm nôn và buồn nôn Thiếu nước và thường gặp rối loạn nghiêm trọng nồng độ kali trong máu
• Nếu không được điều trị, nhiễm ceton acid có thể dẫn đến hôn mê và tử vong
Triệu chứng của đái tháo đường type 2 thường khó phát hiện và có thể bị cho là nguyên
nhân do tuổi già và béo phì gây nên
• Bệnh nhân có thể đã bị đái tháo đường type 2 trong nhiều năm mà không phát hiện ra
• Bệnh nhân đái tháo đường type 2 có thể tiến triển thành hội chứng tăng áp lực thẩmthấu không liên quan đến cetone
• Diễn tiến của đái tháo đường type 2 có thể bị thúc đẩy nhanh hơn bởi thuốc có chứa steroid và stress
• Nếu không được điều trị đúng cách, đái tháo đường type 2 có thể gây ra các biến chứng như mù, suy thận, bệnh tim mạch và tổn thương thần kinh
Những triệu chứng chung của cả 2 type đái tháo đường thường gặp:
• Mệt mỏi: khi bị đái tháo đường, cơ thể giảm hay đôi khi không còn khả năng sử
dụng glucose để tạo năng lượng nữa Do đó, cơ thể phải chuyển sang dùng mỡ, mộtphần hay hoàn toàn, để tạo ra năng lượng Quá trình này đòi hỏi cơ thể phải sử dụng năng lượng nhiều hơn và kết quả cuối cùng là người bệnh sẽ cảm thấy mệt mỏi thường xuyên
• Giảm cân không rõ nguyên nhân: bệnh nhân bị đái tháo đường không thể xử lý
được calori trong thức ăn dẫn đến giảm cân ngay cả khi ăn đủ hay thậm chí là ăn
Trang 6nhiều Mất đường và nước qua nước tiểu cũng là một tác nhân góp phần vào triệu chứng giảm cân này.
• Khát nước nhiều: Bệnh nhân bị đái tháo đường có mức đường huyết cao làm lấn
át khả năng giữ lại đường của thận khi lọc máu để tạo thành nước tiểu Một lượng nước tiểu lớn được hình thành khi thận bị đầy tràn đường Cơ thể cố gắng chống lạihiện tượng này bằng cách gửi một tín hiệu lên não để làm máu loãng ra bằng cách tạo cảm giác khát, đòi hỏi phải đưa vào cơ thể thêm nhiều nước để làm loãng nồng
độ đường trong máu đang cao trở về mức bình thường và để bù vào lượng nước bị mất do tiểu nhiều
• Tiểu nhiều: một cách khác giúp cơ thể thoát khỏi tình trạng dư thừa đường là thải
đường ra ngoài qua nước tiểu Hiện tượng này sẽ làm cơ thể bị thiếu nước do khi thải đường ra ngoài cơ thể sẽ mang theo một lượng lớn nước cũng đi ra theo chung với nó
• Ăn nhiều: nếu cơ thể vẫn còn đủ khả năng, nó sẽ tiết ra nhiều insulin hơn để đối
phó với tình trạng nồng độ đường cao trong máu Hơn nữa, cơ thể trở nên đề khángvới hoạt động của insulin trong đái tháo đường type 2 Một trong những chức năng của insulin là kích thích cảm giác đói Do đó, nồng độ insulin cao trong cơ thể sẽ dẫn đến tăng cảm giác đói và muốn ăn Bất chấp sự gia tăng lượng calori nhập vào
cơ thể, người bệnh có thể chỉ tăng cân rất ít hay thậm chí là giảm cân
• Chậm lành vết thương: nồng độ đường cao trong máu ngăn chặn bạch cầu hoạt
động bình thường (bạch cầu là những tế bào đóng vai trò quan trọng trong chức năng tự bảo vệ của cơ thể chống lại vi trùng và nó cũng dọn dẹp những mô và tế bào chết) Khi bạch cầu hoạt động không bình thường, các vết thương trở nên lâu lành hơn và bị nhiễm trùng thường xuyên hơn Ngoài ra, đái tháo đường kéo dài còn dễn đến dày thành của các mạch máu gây cản trở các tế bào máu có chứa oxy
và chất dinh dưỡng đến nuôi các mô của cơ thể
• Nhiễm trùng: một số hội chứng nhiễm trùng, như nhiễm nấm sinh dục, nhiễm
trùng da, nhiễm trùng đường niệu do hệ thống miễn dịch đã bị ức chế bởi bệnh đái tháo đường và bởi sự hiện diện của glucose trong mô (giúp vi khuẩn phát triển tốt)
Nó cũng là dấu hiệu chỉ điểm cho biết có sự kiểm soát đường huyết kém ở những bệnh nhân đái tháo đường
• Thay đổi về trạng thái tâm thần: những biểu hiện như lo âu, cáu gắt vô cớ, mất
tập trung, ngủ mê, hoặc lẫn lộn cũng đều có thể là dấu hiệu của tình trạng đường huyết rất cao, nhiễm ceton acid, hội chứng tăng áp lực thẩm thấu, hoặc hạ đường huyết Do đó, khi thấy bất kỳ một biểu hiện nào kể trên ở những bệnh nhân đái tháođường, cần phải gọi điện thoại cấp cứu để có được sự can thiệp của bác sĩ
• Nhìn mờ: triệu chứng này không đặc hiệu cho đái tháo đường nhưng cũng thường
hay xuất hiện khi mức đường huyết lên cao
KHI NÀO CẦN ĐẾN SỰ CAN THIỆP CỦA BÁC SĨ
Nếu bạn hoặc người quen tuy chưa biết mình có bị đái tháo đường hay không nhưng lại có bất kỳ một triệu chứng nghi ngờ nào của đái tháo đường, hãy đến gặp bác sĩ ngay khi có thể Khi đến khám, bạn nên nói cho bác sĩ biết mối lo lắng của bạn về đái tháo đường để ông/cô ta có thể cho bạn đi làm những xét nghiệm cần thiết về đường huyết
Nếu một bệnh nhân đã biết mình đang bị đái tháo đường, hãy đến khám ngay lập tức nếu như có những triệu chứng sau:
• Xuất hiện những triệu chứng của đái tháo đường Điều này có nghĩa là mức đường huyết của bạn đang không được kiểm soát dù đang điều trị
• Nồng độ đường huyết cao hơn 200 mg/dL Nồng độ đường huyết cao kéo dài là nguồn gốc của tất cả những biến chứng do đái tháo đường
Trang 7• Nồng độ đường huyết của bệnh nhân thấp (dưới 60 mg/dL) Điều này có nghĩa là bệnh nhân đã được điều trị quá mức cần thiết Nó cũng có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng hoặc những stress khác của hệ thống như suy thận, suy gan, suy tuyến thượng thận, hoặc do tác dụng của những loại thuốc khác đang được sử dụng cùng lúc.
• Bệnh nhân bị vết thương ở bàn hay cẳng chân, dù nhỏ Ngay cả một vết cắt nhỏ nhất hay một vết bỏng cũng có thể trở nên rất nghiêm trọng ở những bệnh nhân đái tháo đường Chẩn đoán và điều trị sớm cùng với chăm sóc chân tốt là yêu cầu cần thiết để bảo tồn chức năng của chân và tránh cho bệnh nhân khỏi phải bị cắt cụt chân
• Bệnh nhân bị sốt nhẹ (thấp hơn 38.5°C) Sốt là dấu hiệu của nhiễm trùng Ở những bệnh nhân đái tháo đường, những nhiễm trùng thông thường có thể sẽ trở nên nguy hiểm hơn so với những người bình thường Lưu ý đến bất kỳ triệu chứng nào, chẳng hạn như tiểu rát, đỏ hay sưng phồng da, đau bụng, đau ngực, hay ho, đó có thể là những dấu hiệu chỉ điểm vị trí của nhiễm trùng
• Bệnh nhân bị nôn, hoặc buồn nôn nhưng cố gượng lại được Nôn ói kéo dài có thể
là dấu hiệu của nhiễm ceton acid, một tình trạng đe dọa đến tính mạng, cũng có thể
là triệu chứng của một số bệnh nặng nề khác
• Bệnh nhân có một vết loét ở bàn hay cẳng chân Bất kỳ một vết loét nào ở bàn hay cẳng chân của người bị đái tháo đường cũng cần phải được đưa đến khám ngay lập tức Một vết loét ngắn hơn 2.5 cm, không chảy mủ và không để lộ những mô bên dưới hoặc xương ra ngoài có thể được đánh giá một cách an toàn bởi bác sĩ nếu bệnh nhân không bị sốt và đường huyết vẫn được kiểm soát tốt
Khi đến khám bệnh, hãy nói với bác sĩ rằng bạn đang bị đái tháo đường hoặc đang nghi ngờ về điều đó
• Có thể bạn sẽ được đưa đến chỗ một y tá và người này sẽ hỏi bạn một số câu hỏi vàcho bạn một số lời khuyên về những việc nên làm
• Hãy chuẩn bị tốt cho cuộc trao đổi này Lập ra một danh sách những loại thuốc bạn đang uống, những vấn đề về sức khỏe mà bạn gặp phải, những loại thuốc bạn bị dị ứng, và nồng độ đường huyết bạn đo được hằng ngày
• Y tá có thể sẽ cần một số hoặc tất cả những thông tin trên để quyết định xem mức
độ nguy cấp của bệnh và cách giải quyết tốt nhất cho vấn đề của bạn
Những tình trạng cấp cứu
• Bệnh nhân bị biến chứng nặng do đái tháo đường cần phải được đưa đến phòng cấpcứu ngay lập tức
• Nên để một người đi theo để trao đổi với bác sĩ nếu bệnh nhân không thể nói được
• Mang kèm một danh sách những loại thuốc đang uống, những vấn đề về sức khỏe gặp phải, những loại thuốc bị dị ứng, và nồng độ đường huyết đo được hằng ngày của người bệnh theo đến phòng cấp cứu Những thông tin này sẽ giúp các bác sĩ chẩn đoán được bệnh và điều trị đúng
Dưới đây là những tình trạng cần phải đến phòng cấp cứu ngay lập tức:
• Thay đổi trạng thái tâm thần: ngủ mê, lo âu, hay quên, hoặc là những hành động
lạ cũng có thể là biểu hiện của mức đường huyết xuống quá thấp hay lên quá cao
o Nếu đã biết người bệnh bị đái tháo đường, thử cho người bệnh ăn trái cây (khoảng 170 gr) hoặc bánh nếu bệnh nhân đủ tính táo để nuốt thức ăn bình thường mà không bị nghẹn Tránh cho bệnh nhân ăn những thức ăn cứng
Trang 8như kẹo do nó có thể nằm lại bên trong cổ họng Bác sĩ có thể sẽ cho ăn những loại bánh đường có thể tan được dưới lưỡi.
o Nếu bệnh nhân không thể tỉnh dậy và có ý thức bình thường được trong vòng 15 phút, hãy gọi cấp cứu
o Nếu không biết người bệnh có bị đái tháo đường hay không, những triệu chứng trên có thể là dấu hiệu của đột quỵ, ngộ độc thuốc, ngộ độc rượu, thiếu oxy và một số tình trạng nguy hiểm khác, hãy gọi cấp cứu ngay lập tức
• Buồn nôn hoặc nôn : nếu bệnh nhân không thể nuốt thức ăn, thuốc, các chất lỏng
xuống dạ dày, có thể đây là dấu hiệu của nhiễm ceton acid, hội chứng tăng áp lực thẩm thấu, hoặc những biến chứng khác của đái tháo đường
o Nếu bệnh nhân đã được dùng liều insulin hoặc thuốc điều trị đái tháo đường đủ, không nên cho thêm mà không có ý kiến của bác sĩ
o Nếu bệnh nhân bị hạ đường huyết, cho thêm liều insulin hoặc thuốc đái tháo đường sẽ chỉ làm cho mức đường huyết hạ xuống thấp hơn nữa, có thể
là xuống đến mức nguy hiểm
• Sốt cao hơn 38.5°C: đưa bệnh nhân đái tháo đường đến phòng cấp cứu nếu bị sốt
cao Lưu ý bất kỳ một triệu chứng nào khác, chẳng hạn như ho, tiểu rát, đau bụng hoặc đau ngực
• Mức đường huyết tăng cao: khi mức đường huyết tăng lên cao quá 400 mg/dL
Mức đường huyết tăng quá cao có thể là dấu hiệu của nhiễm ceton acid do đái tháo đường hoặc hội chứng tăng áp lực thẩm thấu, tùy thuộc vào type đái tháo đường nào mà bạn bị Cả hai tình trạng trên đều có thể gây tử vong nếu không được điều trị đúng cách
• Vết loét lớn ở bàn chân hay cẳng chân: nếu bệnh nhân bị đái tháo đường có vết
loét với đường kính lớn hơn 2.5 cm có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng chi dưới
o Những dấu hiệu và triệu chứng khác cần phải được cấp cứu là những vết thương lộ xương và mô bên dưới, một khu vực lớn xung quanh bị đỏ tấy, nóng, sưng và đau nhiều ở bàn hay cẳng chân
o Nếu không điều trị thì có thể sẽ buộc phải cắt cụt chi dưới
• Vết cắt hay vết đứt: bất kỳ một vết cắt nào làm xuyên thủng tất cả các lớp da, đặc
biệt là ở cẳng chân đều có khả năng gây nguy hiểm cho bệnh nhân đái tháo đường Chăm sóc vết thương tốt đặc biệt quan trọng đối với bệnh nhân bị đái tháo đường
để bảo đảm vết thương có thể lành tốt
• Đau ngực : nếu bệnh nhân đái tháo đường bị đau ngực nặng nề, đặc biệt là ở giữa
hoặc ở ngực trái, hãy đến khám bệnh ngay lập tức
o Bệnh nhân bị đái tháo đường dễ bị cơn suy tim cấp hơn là những người bình thường, có thể có đau ngực hoặc không
o Nhịp tim bất thường hoặc nhịp thở ngắn không rõ nguyên nhân cũng có thể
là dấu hiệu của cơn suy tim cấp
• Đau bụng nặng nề : tùy thuộc vào vị trí đau, đây có thể là dấu hiệu của cơn suy tim
cấp, phình động mạch chủ bụng, nhiễm ceton acid, máu không đến được ruột
o Tất cả những tình trạng trên thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường hơn ở người bình thường và có khả năng đe dọa mạng sống
o Những người bị đái tháo đường cũng có thể bị đau bụng do những nguyên nhân hay gặp khác như viêm ruột thừa, loét thủng, viêm và nhiễm trùng túi mật, sỏi niệu, tắc ruột
o Đau nặng ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể cũng đều là dấu hiệu báo động cần phải đi khám bệnh
LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG
Trang 9Bác sĩ có thể cho những xét nghiệm đặc hiệu trong chẩn đoán đái tháo đường và cũng có thể kiểm tra mức độ kiểm soát đường huyết ở những bệnh nhân đái tháo đường.
Nếu bệnh nhân có triệu chứng nghi ngờ nhưng chưa được chẩn đoán là đái tháo đường lần nào thì luôn cần phải đánh giá một cách đầy đủ bằng cách hỏi bệnh sử và thăm khám lâm sàng Bác sĩ sẽ đánh giá bệnh nhân về những triệu chứng, yếu tố nguy cơ đối với đái tháo đường, những bệnh đã bị trước đây, những loại thuốc hiện đang dùng, các thuốc bị dị ứng, gia đình có ai bị đái tháo đường hay không và những vấn đề về sức khỏe khác chẳng hạn như cholesterol cao hoặc bệnh tim mạch, và thói quen cá nhân cùng với lối sống
Một số xét nghiệm có thể được sử dụng để xác định chẩn đoán
Thử đường huyết trên ngón tay: đây là một xét nghiệm dùng để tầm soát nhanh và có thể
thực hiện được ở bất kỳ đâu
• Xét nghiệm này không cho kết quả chính xác bằng cách thử máu bệnh nhân ở phòng xét nghiệm nhưng dễ thực hiện và cho kết quả ngay lập tức
• Xét nghiệm được thực hiện bằng cách đâm vào ngón tay của bệnh nhân để lấy mẫu máu, sau đó đặt vào một que thử, đưa que thử vào máy để đọc kết quả đường huyết Máy thử chỉ cho kết quả chính xác trong khoảng 10% so với giá trị thực được đo ở phòng xét nghiệm
• Xét nghiệm này có thể cho kết quả thiếu chính xác hoặc quá cao hoặc quá thấp, do
đó nó chỉ được dùng trong những nghiên cứu tầm soát sơ bộ Đây là cách mà hầu hết những bệnh nhân bị đái tháo đường dùng để theo dõi đường huyết tại nhà
Trang 10Thử đường huyết lúc đói: bệnh nhân được yêu cầu không được ăn uống bất kỳ thứ gì
trong vòng 8 giờ trước khi lấy máu (thường là vào đầu buổi sáng) Nếu nồng độ đường huyết bằng hoặc cao hơn 126 mg/dL mà không ăn uống gì, có thể bệnh nhân đã bị đái tháo đường
• Nếu kết quả bất thường, xét nghiệm này sẽ được thực hiện lại vào một ngày khác
để khẳng định lại kết quả, hoặc bệnh nhân sẽ được cho thử test dung nạp glucose qua đường uống hoặc cho đo glycosylated hemoglobin (còn được gọi là
hemoglobin A1c) để xác định chẩn đoán
• Nếu kết quả đường huyết cao hơn 100 nhưng thấp hơn 126 mg/dL, bệnh nhân đượcchẩn đoán là rối loạn đường huyết lúc đói (IFG - impaired fasting glucose) Đây được xem là giai đoạn tiền đái tháo đường Bệnh nhân không bị đái tháo đường nhưng có nguy cơ cao tiến triển thành đái tháo đường trong một tương lai gần
Test dung nạp glucose qua đường uống: cách thực hiện bao gồm: lấy máu để thử đường
huyết lúc đói, sau đó lấy máu lần thứ hai 2 giờ sau khi uống nước có chứa 75 gr đường
• Nếu đường huyết sau khi uống nước đường cao hơn hoặc bằng 200 mg/dL thì có thể kết luận bệnh nhân bị đái tháo đường
• Nếu đường huyết nằm trong khoảng 140 - 199, thì bệnh nhân được chẩn đoán là giảm dung nạp glucose (IGT - Impaired glucose tolerance), đây cũng được xem là giai đoạn tiền đái tháo đường
Glycosylated hemoglobin hoặc hemoglobin A1c : đây là xét nghiệm đo nồng độ đường
trong máu trong vòng 120 ngày trước đó (dựa vào đời sống trung bình của hồng cầu)
Trang 11• Glucose thừa trong máu bị gắn vào hemoglobin trong hồng cầu và nằm ở đó trong suốt giai đoạn sống của hồng cầu.
• Người ta có thể đo được tỷ lệ hemoglobin có gắn glucose thừa trong máu Xét nghiệm này cũng cần phải lấy một ít máu làm mẫu thử
• Xét nghiệm hemoglobin A1c (HbA1c) là phương pháp tốt nhất để kiểm tra mức độ kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân bị đái tháo đường HbA1c cho kết quả bằng hoặc thấp hơn 7% có nghĩa là đường huyết được kiểm soát tốt Nếu kết quả bằng hoặc cao hơn 8% cho biết đường huyết đã tăng quá cao trong thời gian dài
• HbA1c có ích trong theo dõi bệnh hơn là trong chẩn đoán bệnh Mặc dù vậy, HbA1c cho kết quả cao hơn 6.1% gợi ý nhiều đến đái tháo đường Thông thường thì trong trường hợp đó cần phải thực hiện một xét nghiệm khác có tính xác nhận trước khi có thể chẩn đoán là bệnh nhân đã bị đái tháo đường
• Thường xét nghiệm này sẽ được thực hiện mỗi 3 đến 6 tháng ở những bệnh nhân đái tháo đường và nó được thực hiện thường xuyên hơn đối với những người gặp khó khăn trong kiểm soát đường huyết
• Xét nghiệm này không được dùng cho những người không bị đái tháo đường hoặc không bị gia tăng nguy cơ đái tháo đường
• Giá trị bình thường của xét nghiệm này thay đổi tùy theo các phòng xét nghiệm mặc dù đã có sự nỗ lực để chuẩn hóa các phương thức thực hiện
Chẩn đoán các biến chứng của đái tháo đường
Bệnh nhân bị đái tháo đường cần phải được kiểm tra thường xuyên để phát hiện ra những dấu hiệu sớm của biến chứng và đôi khi cũng cần phải có sự tham gia của các bác sĩ chuyên khoa
• Bệnh nhân nên được khám mắt định kỳ ít nhất 1 lần mỗi năm bởi bác sĩ nhãn khoa
để tầm soát bệnh lý võng mạc do đái tháo đường có thể dẫn đến mù
• Cần phải thử nước tiểu để tìm protein (microalbumin) ít nhất một hoặc 2 lần mỗi năm Sự xuất hiện của protein trong nước tiểu là dấu hiệu sớm của bệnh lý về thận của đái tháo đường, có thể gây ra suy thận
• Cũng cần nên kiểm tra cảm giác chân thường xuyên bằng âm thoa hoặc bằng một dây đơn Bệnh lý thần kinh do đái tháo đường có thể gây loét ở chi dưới và thường dẫn đến việc phải cắt cụt bàn hoặc cẳng chân
• Bác sĩ cũng sẽ kiểm tra bàn chân, phần dưới cẳng chân để phát hiện ra những vết đứt, vết xước, vết phỏng hoặc những tổn thương khác có thể bị nhiễm trùng
• Bệnh nhân cũng sẽ được tầm soát thường xuyên những tình trạng có thể dẫn đến bệnh lý tim mạch như cao huyết áp, tăng cholesterol
ĐIỀU TRỊ
Tại nhà
Nếu bạn bị đái tháo đường, cần phải chọn một lối sống có lợi cho sức khỏe ở chế độ ăn, luyện tập thể dục và những thói quen sức khỏe khác Chúng sẽ giúp bạn cải thiện khả năng kiểm soát đường huyết và ngăn ngừa hoặc làm giảm thiểu các biến chứng do đái tháo đường
Chế độ ăn: một chế độ ăn lành mạnh là bí quyết để kiểm soát đường huyết và ngăn ngừa
biến chứng
Trang 12• Nếu bệnh nhân bị béo phì và gặp khó khăn trong chuyện tự giảm cân, hãy nói chuyện với bác sĩ để được giới thiệu đến một chuyên gia về dinh dưỡng hoặc một chế độ giảm cân có thể giúp bệnh nhân đạt được mục đích.
• Ăn một bữa ăn cân bằng, thường xuyên và giàu chất xơ, ít chất béo bão hõa, ít đường
• Chế độ ăn đều đặn có cùng một lượng calori, cùng một thời điểm trong ngày vào mỗi ngày giúp cho bác sĩ có thể kê toa thuốc điều trị đái tháo đường hoặc insulin với một liều lượng chính xác
• Nó cũng giúp giữ đường huyết ở mức bình thường và tránh làm đường huyết hạ xuống quá thấp hoặc tăng quá cao có thể gây nguy hiểm hoặc thậm chí là đe dọa tính mạng
Tập thể dục: luyện tập thể dục thường xuyên, bất kỳ hình thức nào đều có thể làm giảm
nguy cơ bị đái tháo đường Các hoạt động thể lực cũng giúp là giảm nguy cơ bị các biến chứng của đái tháo đường như bệnh tim mạch, đột quỵ, suy thận, mù hoặc loét chân
• Đi bộ ít nhất 20 phút, 3 lần mỗi tuần đã được chứng minh là có hiệu quả tốt Bất kỳmột bài tập luyện nào cũng có ích, không cần thiết là phải kéo dài hay nặng nề
• Nếu bệnh nhân bị những biến chứng của đái tháo đường (mắt, thận hoặc thần kinh),
họ có thể sẽ bị giới hạn về thể loại cũng như số lượng các bài tập để bảo đảm an toàn, tránh làm tình trạng trở nên nặng nề hơn Nên đến gặp bác sĩ nhờ tư vấn trướckhi bắt đầu chương trình luyện tập
Uống rượu: hạn chế uống rượu Cố gắng uống ít hơn 7 ly mỗi tuần và không bao giờ uống
nhiều hơn 2 hay 3 ly mỗi tối với 1 ly theo tiêu chuẩn quy định là bằng 45ml rượu, 170ml rượu vang, hoặc 340ml bia Uống rượu quá nhiều được xem là yếu tố nguy cơ của đái tháo đường type 2 Uống rượu có thể gây tăng hay hạ đường huyết, đau dây thần kinh (còn được gọi là viêm dây thần kinh), tăng triglyceride vốn là một loại chất béo có trong máu
Hút thuốc: nếu bệnh nhân đái tháo đường có hút thuốc hoặc dùng bất kỳ dạng nào của
thuốc lá đều có thể tăng nguy cơ của hầu hết các biến chứng của đái tháo đường Thuốc lá
có thể làm tổn thương các mạch máu và dẫn đến bệnh tim, đột quỵ, kém tưới máu đến các chi
Tự theo dõi đường huyết: kiểm tra đường huyết thường xuyên, ít nhất là trước một bữa
ăn và vào lúc đi ngủ sau đó ghi lại vào sổ
• Cũng có thể ghi thêm vào sổ những thông tin như: liều lượng insulin và thuốc điều trị đái tháo đường mà bạn sử dụng, bạn đã ăn cái gì, vào lúc nào, bạn tập luyện lúc nào, trong bao lâu, những sự kiện quan trọng diễn ra trong ngày chẳng hạn như tăng hay giảm đường huyết và cách điều trị như thế nào
• Hiện nay đã có những thiết bị giúp thử đường huyết ít đau hơn và ít phức tạp hơn bao giờ hết Tuy nhiên, cuốn nhật ký theo dõi đường huyết mỗi ngày là không có ích đối với bác sĩ để kiểm tra xem bệnh nhân có đáp ứng với thuốc, chế độ ăn hay chế độ tập luyện hay không
Tại cơ sở y tế
Phương thức điều trị thay đổi theo từng bệnh nhân, tùy thuộc vào type đái tháo đường mà bệnh nhân đó mắc phải, những bệnh khác mà bệnh nhân đó đang bị, có bị biến chứng của đái tháo đường hay chưa, tuổi tác, tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân ở thời điểm được chẩn đoán