Chương 12 VẬT LIỆU BỘT12.1 Khái quát về vật liệu bột Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đòi hỏi chế tạo các chi tiết ngày càng chính xác, tinh xảo và có nhiều tính năng mà các phương ph
Trang 1Chương 12 VẬT LIỆU BỘT
12.1 Khái quát về vật liệu bột
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đòi hỏi chế tạo các chi tiết ngày càng chính xác, tinh xảo và có nhiều tính năng mà các phương pháp chế tạo vật liệu truyền thống không đáp ứng được hoặc là gặp rất nhiều khó khăn để chế tạo Sự phát triển công nghệ vật liệu bột là một trong những công nghệ mới góp phần đáp ứng được các yêu cầu đặt ra
Vật liệu bột trên cơ sở các chất vô cơ đã có từ lâu và là cơ sở để sản xuất các loại vật liệu
vô cơ trong công nghiệp Loại vật liệu bột vô cơ đã được trình bày trong chương vật liệu vô cơ.
Trong chương này chúng ta chỉ xét về vật liệu kim loại và hợp kim bột
Khác với các vật liệu kim loại và hợp kim được chế tạo theo phương pháp truyền thống là nấu chảy và đúc khuôn, vật liệu kim loại bột được chế tạo trên cơ sở các bột kim loại theo quy
trình như trình bày trong hình 12.1.
Hình 12.1 Quy trình chế tạo vật liệu bột.
Phương pháp này còn được gọi là phương pháp luyện kim bột Điểm khác biệt của phương pháp luyện kim bột so với phương pháp nấu đúc truyền thống là không có quá trình nấu chảy kim loại hoặc hợp kim Các loại kim loại và hợp kim dạng bột sau khi được chế tạo xong được đem phối hợp với tỉ lệ thích hợp và trộn đều Hỗn hợp sau đó được đem tạo hình thành các chi tiết có hình dạng, kích thước và khối lượng nhất định (thường là các hình dạng đơn
Trang 2trình nung này được gọi là sự thiêu kết Sau quá trình thiêu kết, các chi tiết được đem đi gia công cơ khí hoặc các phương pháp gia công khác để tạo ra hình dạng và kích thước mong muốn
Công nghệ vật liệu kim loại bột có một số ưu điểm sau:
- Ít hao phí vật liệu do không mất một lượng kim loại cho hệ thống rót, đậu ngót, đậu hơi…như trong phương pháp nấu đúc truyền thống
- Có khả năng tạo ra những loại vật liệu có tính năng khác hẳn vật liệu cùng loại bằng phương pháp đúc Điều khác biệt này là do đặc điểm cấu trúc của vật liệu bột
- Có khả năng tạo ra các vật liệu mà các phương pháp nấu đúc truyền thống không thể tạo
ra được Ví dụ như các hợp kim đồng – graphit, đồng – graphit – teflon, hợp kim cứng …
- Có thể điều chỉnh thành phần bột theo ý muốn với độ đồng đều rất cao
Tuy nhiên, công nghệ vật liệu bột cũng có một số nhược điểm sau:
- Khả năng sản xuất hàng khối, loạt lớn không bằng phương pháp nấu đúc truyền thống, chỉ áp dụng cho các chi tiết nhỏ và vừa
- Công nghệ vật liệu bột chỉ có ưu thế khi chế tạo vật liệu chứa lỗ xốp và vật liệu kết hợp
- Vật liệu kim loại bột có độ bền thấp hơn vật liệu truyền thống do trong tổ chức có nhiều
lỗ xốp và màng ôxýt trên biên giới hạt Độ xốp và màng ôxýt trên biên giới hạt là nguyên nhân làm cho vật liệu bột có độ bền thấp hơn và tính dòn cao hơn so với vật liệu cùng loại chế tạo bằng phương pháp nấu đúc
Một đặc điểm của vật liệu bột cần lưu ý là trong chúng lúc nào cũng có lỗ xốp Lỗ xốp có thể ảnh hưởng có lợi hay có hại tuỳ theo ứng dụng của chi tiết
12.2 Quá trình sản xuất vật liệu bột
12.2.1 Các phương pháp sản xuất bột kim lọai
12.2.1.1 Phương pháp cơ học
1 Phương pháp tạo bột bằng nghiền cơ học
Các vật liệu dòn như crôm, mangan … và các hợp chất cácbit, ôxyt, sulfit, nitrit…Có thể
được tạo bột bằng phương pháp nghiền bi hoặc nghiền búa
Kích thước hạt bột phụ thuộc vào thời gian nghiền, phương pháp nghiền và kích thước bi
nghiền Tuy nhiên không phải ta có thể tạo ra hạt bột có kích thước nhỏ tuỳ ý vì trong một số
vật liệu có quá trình tự kết hợp lại (kết tinh lại) ở nhiệt độ thường làm cho hạt phát triển về kích
thước
Trang 3Sau khi nghiền, người ta phân loại các hạt bột theo kích thước bằng rây hoặc các phương
pháp khác Phương pháp nghiền cơ học tạo ra bột có độ sạch không cao do nhiễm bẩn từ bi
nghiền, búa nghiền… và không thể nghiền được các kim loại, hợp kim có độ dẻo cao
Hình 12.2 trình bày sơ đồ phương pháp nghiền bi
Hình 12.2 Sơ đồ phương pháp nghiền bi.
2 Phương pháp tạo bột bằng hoá bột từ lỏng
Các kim loại có nhiệt độ chảy thấp như Cu, Al, Zn, Sn dễ dàng tạo bột bằng cách phun từ
thể lỏng Dòng kim loại lỏng chảy từ trên xuống bị dòng khí hoặc nước, dưới áp suất cao phân
tán tạo thành bột
Dòng khí có thể là không khí nén hoặc khí trơ Ar và hạt bột thu được có dạng hình cầu
Nếu dùng nước để phun thì hạt bột có dạng bị kéo dài Kích thước hạt bột khá nhỏ từ
10÷20µm, nếu muốn nhỏ hơn thì phải nghiền thêm
Ngoài ra có thể tạo bột từ kim loại và hợp kim lỏng bằng các cách khác như rót kim loại
lỏng vào đĩa quay, phương pháp tạo bột từ kim loại lỏng trong chân không, phương pháp quay
điện cực (kim loại cần tạo bột) với vận tốc cao…
3 Phương pháp hoá hơi ngưng tụ.
Trang 4Phương pháp này thực hiện bằng cách cho kim loại hoặc hợp kim hoá hơi bằng dòng điện
cảm ứng hoặc bằng chùm tia điện tử trong khí bảo vệ hoặc chân không rồi cho ngưng tụ trên
đĩa quay có tẩm dầu silicôn Bột kim loại chứa trong thùng chứa được sấy khô rồi đem sử dụng
12.2.1.2 Phương pháp hoá lý
1 Phương pháp hoàn nguyên.
Phương pháp hoàn nguyên có thể là hoàn nguyên kim loại từ ôxýt, hoàn nguyên từ các
hợp chất thể khí và hoàn nguyên bằng kim loại
Trong phương pháp hoàn nguyên từ ôxýt, các ôxýt kim loại sau khi nghiền nhỏ được hoàn
nguyên bằng bột than, H2, NH3, nhiệt phân, hyđrôcácbon, CO…Độ mịn của bột phụ thuộc vào
nhiệt độ hoàn nguyên Nhiệt độ hoàn nguyên càng thấp thì độ mịn càng cao Phương pháp này
dùng để chế tạo các bột Fe từ quặng ôxýt sắt và các loại cácbit, nitrit, borit, các kim loại khó
chảy từ ôxýt của chúng
Ví dụ
Fe3O4 + CO → Fe + CO2↑ ; MoO3 + H2 → Mo + H2O↑
WO3 + H2 → W + H2O↑; 2B2O3 + 7C→ B4C + 2CO↑
SiO2 + 3C → SiC + 2CO↑
Trong phương pháp hoàn nguyên từ các hợp chất thể khí, người ta dùng hyđrô hoàn
nguyên các muối clorua hoặc florua kim loại ở nhiệt độ cao tại 800 ÷1200OC trong buồng lò:
WCl6 + H2 → W + HCl↑
MoCl6 + H2 → Mo + HCl↑
Các kim loại có thể tạo bột từ các muối clorua hoặc ôxýt của nó bằng cách dùng các kim
loại có ái lực hoá học mạnh hơn để đẩy nó ra khỏi hợp chất theo kiểu phản ứng nhiệt nhôm Ví
dụ, để chế tạo bột titan hoặc ziếccôn có thể dùng manhê hoàn nguyên TiCl4 hoặc ZrCl4 (hoặc
ZrO2)
TiCl4 + Mg → Ti + MgCl2
ZrO2 + 2Ca 700O C
→ Zr + 2CaO
Trang 5ZrCl4 + Mg → Zr + MgCl2
2 Phương pháp điện phân.
Phương pháp điện phân có thể điện phân được nhiều kim loại như Fe, Cr, Mn, Cu, Sn,
Ti, Zr…, nhưng hiện nay phương pháp này chủ yếu vẫn dùng để điện phân lấy bột đồng (Cu)
Chọn chế độ điện phân thích hợp sẽ cho ta các loại bột có kích thước nhỏ mịn và độ xốp cao
3 Phương pháp nhiệt phân.
Nhiệt phân các cácbônyl kim loại nhóm chuyển tiếp (Fe, Ni, Co, W…) cho phép nhận
được bột các kim loại có độ sạch rất cao Các cacbonyl có nhiệt độ nóng chảy thấp, 43OC với
Ni (CO)4 và 107OC đối với Fe(CO)5 được tạo thành bằng cách phun khí CO dưới áp suất cao
(200 bar) vào phoi hoặc dây kim loại ở nhiệt độ 150÷250OC Sau đó các cacbonyl được nhiệt phân dưới áp suất khí quyển trong khoảng nhiệt độ 200÷300OC sẽ nhận được bột kim loại có kích thước từ 1÷50µm Bột sắt cacbonyl có dạng cầu và được sử dụng chế tạo các hợp kim từ Fe-Ni hoặc hợp kim hàn gắn thuỷ tinh Fe-Ni-Co Bột niken có dạng không đều và sản xuất khá
dễ dàng, rất phổ biến trên thị trường và được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm thiêu kết
chứa niken
12.2.2 Các phương pháp tạo hình
Bột kim loại và hợp kim sau khi phối trộn được đem đi tạo hình trước khi thiêu kết Có thể tạo hình bằng các phương pháp nén hoặc các phương pháp không cần nén
12.2.2.1 Các phương pháp nén
1 Phương pháp ép bột
Trong phương pháp này, bột kim loại được ép trong một hệ thống bao gồm các chày ép
và khuôn ép Hình 12.3 trình bày một ví dụ về phương pháp ép bột – đó là phương pháp ép một chiều
Trong ép một chiều, lực ép tác dụng vào chày trên và thực hiện công tác nén bột trong lòng khuôn ép, trong khi chày dưới được giữ cố định trong quá trình ép Sau khi ép xong mới tác dụng lực đẩy chày dưới lên để tháo sản phẩm ép ra khỏi khuôn
Phương pháp ép thường áp dụng cho các chi tiết đơn giản, các loại ống như bạc trượt, hợp kim cứng…
Trang 6Để tăng mật độ của sản phẩm ép hoặc giảm lực ép người ta có thể kết hợp ép với rung Dưới tác dụng của sự rung động, mật độ của phôi ép tăng lên hoặc mật độ không tăng nhưng lực
ép cần tạo ra nhỏ hơn khi không tác dụng rung
Người ta có thể kết hợp ép bột với nung nóng chi tiết cùng lúc gọi là quá trình ép nóng Đây là dạng kết hợp của quá trình tạo hình và quá trình thiêu kết Sản phẩm ép nóng có độ sít chặt rất cao, có thế đạt được chi tiết có độ sít chặt gần bằng 100%
Hình 12.3 Sơ đồ ép một chiều.
a) Cho bột vào khuôn; b) Ép; c) Lấy phôi.
2 Các phương pháp ép nén khác
Phương pháp ép đẳng tĩnh ở nhiệt độ thường: Bột chứa trong khuôn dạng vỏ mỏng bằng
cao su hoặc chất dẻo dưới một áp suất thuỷ tĩnh trong không gian kín chứa nước hoặc khí Tác
dụng vào chất lỏng hoặc khí một áp suất cao 200÷500MPa để nén hỗn hợp bột chứa trong khuôn Phương pháp này có thể chế tạo được các chi tiết lớn đến 1000kg với mật độ rất đồng
đều hoặc chi tiết có thành mỏng
Phương pháp cán bột: Phương pháp này dùng để chế tạo các băng, dải có kích thước lớn,
chiều dày mỏng từ 2÷6 mm bằng các bột kim loại có độ dẻo cao như đồng, latông, brông, niken…Các băng sau khi cán nguội được thiêu kết ngay và cuộn lại trong một dây chuyền liên
tục Sau đó băng vật liệu thiêu kết có thể được cán lại và ủ tiếp theo Sản phẩm tạo ra không có
lỗ và cơ tính còn cao hơn cả kim loại và hợp kim đúc
Trang 7Phương pháp ép chảy ở nhiệt độ thường (ép đùn): Phương pháp này dùng để chế tạo các
ống, thanh có chiều dài lớn từ các bột kim loại có độ dẻo cao hoặc được hoá dẻo bằng chất hữu
cơ như polyme, paraphin…Hỗn hợp bột được ép chảy qua lỗ côn dẫn hướng tạo thành vật liệu
ép như hình 12.4
Hình 12.4 Phương pháp ép đùn.
Ngoài ra, còn có nhiều phương pháp ép nén khác như rèn với tốc độ lớn, ép nổ, ép bằng
xung điện…
12.2.2.1 Các phương pháp không cần nén
Trong một số các chi tiết dạng thành mỏng được chế tạo từ bột kim loại như các bình
chứa, cốc nung, nồi nấu, lớp phủ kim loại… thì phương pháp nén, ép là không thích hợp Trong
trường hợp này có thể sử dụng các phương pháp không cần nén, ép sau đây:
Phương pháp lắng đọng: Bột kim loại và hợp kim có độ mịn cao được trộn cùng với chất
phụ gia trong nước tạo nên thể huyền phù Sau đó đổ dung dịch vào khuôn thạch cao, thạch cao
sẽ hút nước làm khô hỗn hợp Tháo khuôn và sấy khô rồi lấy chi tiết ra đem thiêu kết Phương
pháp này sử dụng để chế tạo các chi tiết có thành mỏng và các loại hợp kim cứng trên cơ sở
cácbit, nitrit, borit…(Hình 12.5)
Trang 8Hình 12.5 Chế tạo chi tiết bằng phương pháp lắng đọng
Phương pháp phun phủ: để tạo một lớp vật liệu thiêu kết mỏng trên nền một vật liệu thích
hợp có thể sử dụng một số phương pháp phun phủ sau:
- Bột kim loại được trộn với một dung dịch keo thích hợp và dùng pistole phun lên trên
vật liệu nền thích hợp Sau khi sấy có thể tháo lõi bằng cơ học và sau đó đem thiêu kết
- Bột kim loại và hợp kim được phun phủ trên lõi hoặc vật liệu nền thích hợp bằng
ngọn lửa ôxy-axêtylen hoặc trong plasma Ar-H2 theo sơ đồ hình 12.6
Hình 12.6 Phương pháp phun phủ bằng plasma
Sau khi phun phủ hình thành lớp phủ kim loại bột gồm vật liệu nền, lớp khuếch tán trung
gian và lớp vật liệu phủ Tuỳ theo công nghệ, lớp vật liệu phủ gồm các phần tử kim loại, các lỗ
xốp và các phần tử ôxyt Sau khi phun phủ vật liệu có thể được thiêu kết lại để tăng độ bám
dính Phương pháp này rất thuận lợi để chế tạo các lớp phủ mỏng với mục đích nào đó chẳng
hạn phủ vônfram lên mặt trong của ống xả tên lửa nhằm nâng cao tính chịu nóng của nó
Trang 9Phương pháp này cũng thuận tiện để chế tạo các bimetal và các lớp phủ chống mài mòn khác
nhau
12.2.3 Thiêu kết
Thiêu kết là nguyên công kế tiếp việc tạo hình bột kim loại Thiêu kết bao gồm việc nung
nóng bột kim loại ép ở gần nhiệt độ nóng chảy của cấu tử chính, giữ nhiệt một thời gian để tạo
ra mối liên kết bền vững giữa các hạt nhằm tạo ra cơ, lý, hoá tính cần thiết cho vật liệu
12.2.3.1 Các quá trình xảy ra khi thiêu kết
Quá trình thiêu kết được tiến hành ở gần nhiệt độ nóng chảy của cấu tử chính trong một
thời gian Khi thiêu kết sẽ xảy ra hai quá trình bao gồm kết tinh lại và khuếch tán các nguyên
tử
Kết tinh lại xảy ra giống như quá trình kim loại bị biến dạng dẻo Kết quả là tạo ra các hạt
tinh thể mới Khi kéo dài thời gian thiêu kết hoặc thiêu kết ở nhiệt độ quá cao, các hạt cũng có
quá trình phát triển kích thước hạt làm cho hạt lớn có thể ảnh hưởng xấu đến cơ tính
Bản thân sự kết tinh lại với sự sinh mầm và phát triển mầm các hạt tinh thể mới đã là một
quá trình khuếch tán Ở đây nói thêm tới sự khuếch tán của các nguyên tử khác loại để tạo
thành dung dịch rắn hoặc các pha liên kim loại Trong các hỗn hợp bột có nhiều cấu tử, kết quả
của sự khuếch tán có thể là các hạt kim loại xen kẽ nhau, không hoà tan vào nhau; có thể các
kim loại hoà tan vào nhau tạo thành các dung dịch rắn hoặc có thể các hạt kim loại khó chảy
nằm phân tán trên một nền gồm tổ chức các hạt của cấu tử có nhiệt độ chảy thấp hơn
12.2.3.2 Các thông số công nghệ khi thiêu kết
Các thông số công nghệ thiêu kết bao gồm nhiệt độ, thời gian và môi trường thiêu kết
1 Nhiệt độ thiêu kết
Nhiệt độ thiêu kết là một thông số quan trọng trong công nghệ chế tạo vật liệu kim loại
bột Chọn nhiệt độ thiêu kết phải đảm bảo sao cho quá trình kết tinh lại và khuếch tán xảy ra
thuận lợi đảm bảo vật liệu có cơ, lý, hoá tính cần thiết Nhiệt độ thiêu kết quá cao sẽ dẫn đến
hạt tinh thể lớn và cơ tính sẽ thấp Nhiệt độ thiêu kết thấp (nhưng vẫn cao hơn nhiệt độ kết tinh
Trang 10lại) làm quá trình kết tinh xảy ra chậm chạp và thời gian thiêu kết phải dài Thường chọn nhiệt
độ thiêu kết bằng (2/3÷3/4) nhiệt độ nóng chảy của bột kim loại cấu tử chính
2 Thời gian thiêu kết
Thời gian thiêu kết ảnh hưởng tới độ hạt tinh thể vật liệu bột Thời gian thiêu kết quá
ngắn, các quá trình khuếch tán và kết tinh lại chưa xảy ra triệt để có thể dẫn tới vật liệu không
đủ bền Thời gian thiêu kết quá dài làm cho hạt tinh thể thô to và cũng giảm độ bền Thời gian
nung khi thiêu kết phụ thuộc vào trọng lượng mẻ nung, chế độ truyền nhiệt và cách sắp xếp chi
tiết trong lò Thời gian giữ nhiệt khi thiêu kết phụ thuộc vào kích thước chi tiết, thông thường
chọn từ 1÷3 giờ
3 Môi trường thiêu kết
Các vật liệu kim loại và hợp kim rất dễ bị ôxy hoá khi nung do tiếp xúc với môi trường
nung Đặc biệt trong vật liệu bột, do ảnh hưởng của lỗ xốp nên quá trình ôxy hoá càng được
thúc đẩy mạnh hơn, có thể ôxy hoá vào tận lõi chi tiết Do đó môi trường thiêu kết thường là
môi trường khử như trong khí H2, CO2hoặc NH3 nhiệt phân Môi trường khí bảo vệ hoặc khí trơ
như Ar, N2, He cũng được sử dụng Đôi khi cũng sử dụng quá trình thiêu kết chân không
12.2.4 Gia công chi tiết sau khi thiêu kết
Sau khi thiêu kết, do sự giảm thể tích của vật liệu (quá trình kết tinh lại làm tăng mật độ
của hợp kim cộng với sự giảm thể tích các lỗ xốp bên trong vật liệu) nên chi tiết không đạt
được độ chính xác kích thước cũng như các tính chất mong muốn Do đó sau khi thiêu kết cần
phải tiến hành một số nguyên công gia công tiếp theo để tạo ra thành phẩm Các nguyên công
gia công sau thiêu kết như nhiệt luyện và hoá nhiệt luyện đã được trình bày trong chương 4 của
giáo trình này Các nguyên công gia công cơ khí được trình bày trong các giáo trình chuyên
ngành Trong phần này chúng tôi trình bày hai nguyên công là tẩm dầu bôi trơn và ép hiệu
chuẩn
2 Tẩm dầu bôi trơn
Trong các vật liệu chống mài mòn, tổ chức vật liệu tồn tại các lỗ xốp lại trở thành yếu tố
thuận lợi nếu các lỗ xốp đó được bịt bằng dầu bôi trơn hoặc các chất bôi trơn rắn khác Một số