Giáo viên chưa mở rộng, nâng cao khả năng luyện viết đúng quy trình kỹ thuật, cách lia bút để viết nhanh trên cùng một mẫu chữ hay rê bút để viết sang một nét mới, giáo viên chưa sử dụng[r]
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Kính thưa tất cả các thầy cô giáo truờng Đại Học Sư Phạm Hà Nội Tôi tên Nguyễn Văn Trang là sinh viên trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội thuộc Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Tỉnh Bạc Liêu, khóa học 2006-2009
Qua 03 năm học tập được nhiều thầy cô nhiệt tình giảng dạy và hướng dẫn để tôi
có thêm vốn kiến thức quý báo về chuyên môn, nâng cao tay nghề trong việc giảng dạy ở chương trình bậc tiểu học, đặc biệt là cô Phan Phương Dung và cô Phạm Phương Liên tận tình giúp đỡ cho tôi hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ giáo viên trường tiểu học Long Điền Tiến B đã đóng góp ý kiến và tạo mọi điều kiện cho tội trong qúa trình thực hiện đề tài
Tuy đề tài đã hoàn thành nhưng thời gian nghiên cứu có hạn không tránh khỏi nhiều thiếu sót Rất mong sự góp ý nhiệt tình của thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Một đất nước muốn thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển thì đất nước ấy phải xây dựng cho sự nghiệp giáo dục phát triển theo thời đại phát triển của đất nước
Đất nước Việt Nam là đất nước đang phát triển đi theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Vì thế mọi miền của tổ quốc các tầng lớp nhân dân không ngừng tìm hiểu và nhận thức các lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ việc lao động sản xuất và học tập Đặc biệt là đội ngũ thầy, cô giáo nói chung và các giáo viên tiểu học nói riêng không ngừng học tập, nâng cao chất lượng giảng dạy để xứng đáng với nhiệm vụ “Trồng người”
Để thực hiện mục tiêu trên trường tiểu học phải dạy đủ các môn học (do Bộ Giáo Dục quy định) cho học sinh đặc biệt là môn Tiếng Việt Học sinh phải được học và biết
sử dụng Tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ
Trong những năm gần đây Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã đổi mới phương thức dạy học bằng các phương pháp như: thay sách giáo khoa, thay đổi phương pháp dạy học từ phương pháp cổ truyền sang phương pháp hiện đại nhằm nâng cao trình độ cho học sinh Nước ta từ trước đến nay sử dụng rất nhiều mẫu chữ, mỗi mẫu chữ viết đều có những ưu điểm riêng, nhưng vẫn có những khuyết điểm Có một thời gian khá dài chữ viết của học sinh đang trên đà xuống dốc, học sinh viết chữ cẩu thả không đúng quy trình Từ những hạn chế đó ngành giáo dục chú ý đến việc rèn chữ viết cho học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học Năm học 2002-2003 ngành giáo dục và đào tạo đã thống nhất mẫu chữ trên toàn quốc Nét chữ “Chân Phương” đã được nhiều người ủng hộ Đó là lý do tôi chọn đề tài này
Tiếp tục phát huy cái đẹp của chữ Việt Nam bắt nguồn từ chữ cái La tinh, người
viết còn thể hiện được cái đẹp của tâm hồn vì “nét chữ - nết người”
Giáo viên dạy lớp 2 là người rèn luyện củng cố và phát triển chữ viết cho các em học sinh lớp 2 tạo cho các em có kiến thức về chữ viết đúng, đẹp làm nền tảng học tốt các lớp cao hơn Vì vậy, ngay từ ban đầu giáo viên phải dạy cho học sinh thành thạo bốn kỹ năng: nghe-nói-đọc-viết Học sinh muốn viết chữ đẹp phải nhờ giáo viên hương dẫn tận tình từ những nét cơ bản cho đến những chữ cái, chữ viết hoa, chữ số…của Tiếng Việt
Vì thế tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kỹ năng viết chữ cho học sinh lớp 2” Qua
đề tài này tôi mong mình được góp phần vào việc rèn luyện các kỹ năng viết chữ cho học sinh tiểu học nhằm giúp các em viết chữ ngày càng đẹp hơn
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Môn tập viết là một trong những môn học quan trọng nhất của chương trình tiểu học, nhất là đối với lớp 1, lớp 2 Môn tập viết trang bị cho học sinh bộ mã mới (mã chữ viết) và những yêu cầu kỹ thuật để sử dụng bộ mã này trong học tập và giao tiếp
Với ý nghĩa này môn tập viết cung cấp cho học sinh một công cụ để các em sử dụng suốt đời tập viết có liên quan mật thiết tới chất lượng các môn học khác Nếu chữ viết rõ ràng,
Trang 3đúng mẫu, tốc độ viết nhanh thì học sinh có điều kiện ghi chép bài nhanh, nhờ vậy kết qủa học tập sẽ tốt hơn Ngược lại, chữ viết kém, tốc độ chậm sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em
Tập viết còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như: tính cẩn thận, tính kỷ luật, óc thẩm mỹ Thủ tướng Phạm Văn Đồng
có nói: “chữ viết là một biểu hiện của nết người” Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần giáo dục cho các em thể hiện nết người
Môn tập viết ở tiểu học truyền thụ cho học sinh những kiến thức cơ bản về chữ viết và kỹ thuật viết chữ trong các tiết tập viết học sinh được hướng dẫn về kỹ năng viết các chữ cái viết thường, chữ số, nắm vững quy trình viết chữ Yêu cầu cơ bản ở lớp 2 là học sinh nắm được hình dáng và viết đúng các chữ viết hoa, đồng thời nâng cao kỹ năng viết liền mạch giữa các chữ cái viết thường với nhau và các chữ viết hoa với chữ viết thường
Tập viết là phân mô có tính chất thực hành Trong chương trình không có tiết học
lý thuyết, chỉ có các tiết rèn kỹ năng Tính chất thực hành có mục đích của việc dạy tập viết góp phần khẳng định vị trí quan trọng của phân môn này ở trường tiểu học
III.GIỚI HẠN ĐỀ TÀI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1 Giới hạn đề tài
-Đối tượng nghiên cứu:
Phân môn tập viết ở tiểu học góp phần quan trọng quyết định về mặt chất lượng học tập của học sinh Nó yêu cầu học sinh phải có tính cẩn thận, tính kỹ luật và óc thẩm
mĩ Ở lớp 2 kiến thức cơ bản của phân môn này học sinh phải nắm được hình dáng và viết đúng các chữ hoa, đồng thời nâng cao kỹ năng viết liền mạch giữa các chữ Cho nên việc rèn luyện kỹ năng viết chữ cho học sinh lớp 2 là rất quan trọng, nó sẽ quyết định qúa trình học tập của các em lâu đài
- Phạm vi nghiên cứu:
Chương trình phân môn tập viết lớp 2
2 Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Giáo trình, sách tham khảo về dạy tập viết ở tiểu học, sách bồi dưỡng hè…
- Phương pháp quan sát, điều tra thực tế
- Phân tích, tổng kết rút kinh nghiệm và trình bày một vài ý kiến có liên quan đến việc rèn kỹ năng viết chữ cho học sinh lớp 2
Trang 4PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN
KỸ NĂNG VIẾT TẬP VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 2.
I CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1 Cơ sở ngôn ngữ học: Mối quan hệ giữa đọc – viết.
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ người ta nảy sinh ra một ý rồi dùng ngôn ngữ đó để lồng vào ý đó phát triển thành lời Khi tiếp nhận lời nói, người ta nghe lại rút ở trong từ, trong câu nghe đựơc các ý của người ta, phải sử dụng một mật mã chung của xã hội gọi là ngôn ngữ (bao gồm các từ và những quy tắc ghép từ thành câu) lựa chọn sắp xếp các yếu
tố đó trở thành lời cụ thể Công việc vận dụng mã để lồng ý mà tạo nên lời như thế gọi là
sự mã hóa Ngược lại, khi chuyển lời thành ý từ những câu nghe được, ngừơi nghe phải rút ra nội dung chứa đựng bên trong lời nói Công việc đó chính là sự giải mã
Ngôn ngữ âm thanh là một mật mã biểu hiện dưới dạng một hệ thống tín hiệu, khi chuyển thành ngôn ngữ viết thì chữ viết lại thay thế ngôn ngữ âm thanh, làm thành hệ thống những tín hiệu, một loại mã mới dùng để truyền đạt mã ngữ âm của tự nhiên Chữ viết là mã của mã Nếu ngôn ngữ âm thanh là mã bậc 1 thì chữ viết là mã bậc 2 Khi viết thành chữ thực chất đã có sự chuyển đổi từ mã bậc 1 sang mã bậc 2 Khi đọc thì quy trình
sẽ ngược lại Đứng trước văn bản viết (sử dụng mã 2) người đọc trước hết phải chuyển lại thành lời, lúc đó sẽ thực hiện giải mã bậc 2 trước rồi sau đó từ lời mà rút ra ý, tức là tiến hành giải mã bậc 1
Từ việc xác định quan hệ thứ bậc giữa ngôn ngữ âm thanh và ngôn ngữ viết cũng như bản chất của giao tiếp bằng ngôn ngữ từ như trên có thể hình dung quy trình đọc và viết như sau:
* Quy trình viết:
Ý Mã hóa 1 Lời nói Mã hóa 2 Văn bản viết
(mã 1) (văn bản nói) (mã 2)
* Quy trình đọc:
Văn bản viết giải mã 2 lời nói giải mã 1 ý
(mã 2) (văn bản nói) (mã 1)
Mục đích của môn học vần là trang bị cho học sinh bộ mã 2 (chữ viết) và kỹ năng chuyển mã (từ mã 1 sang mã 2 hoặc ngược lại, từ mã 2 sang mã 1) Cho nên trong hai quy trình viết và đọc, đã phân tích, trọng tâm dồn chú ý là các khâu liên quan đến mã 2 tức là
mã hóa (viết) và giải mã 2 (đọc)
Tất nhiên cũng phải quan tâm đến việc hiểu ý, nhưng dù sao vấn đề cho học sinh học những lời hay ý đẹp…trong khi dạy vần trước hết phải nhường mục tiêu cho công việc này là trang bị cho các em bộ mã mới (chữ viết) và kỹ năng vận dụng bộ mã đó trong
Trang 5sự truyền mã Chữ viết có tính chất là mã của mã, là ký hiệu dùng để ghi lại ngôn ngữ âm thanh cho nên khi dạy vẫn không thể tách tập đọc (đánh vần) với tập viết được
Tổ chức dạy tập viết trong tiết học vần có tác dụng cũng cố hình ảnh về chữ viết
mà các em nắm được qua học vần
Mặt khác việc giải mã bậc 2 (đọc) và mã hóa bậc 2 (viết) chỉ là 2 mặt của qúa trình thống nhất, dạy đọc (đánh vần) với tập viết
2 Cơ sở lý luận học
2.1 Tập viết là phân môn mang tính chất thực hành, trong chương trình không có tiết học lý thuyết, chỉ có các tiết rèn luyện kỹ năng Tính chất thực hành có mục đích của việc dạy học, tập viết cũng góp phần khẳng định vị trí quan trong của phân môn này ở trường tiểu học
2.2 Phân môn tập viết ở tiểu học truyền thụ cho học sinh những kiến thức cơ bản
về chữ viết và kỹ thuật viết chữ Trong các tiết tập viết, học sinh nắm bắt được các tri thức cơ bản về cấu tạo bộ chữ La Tinh ghi âm tiếng Việt, sự thể hiện chữ cái này trên bảng, vở…đồng thời được hướng dẫn các yêu cầu kỹ thuật viết nét chữ, chữ cái, viết từ
và câu, viết văn bản (viết văn bản ở đây thực chất là viết chính tả ở các thể loại tập chép, nghe đọc và trí nhớ)
3 Cơ sở giáo dục học.
- Tập viết góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như: tính cẩn thận, tính kỹ luật và khiếu thẩm mĩ
- Dạy học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình
- Dạy học sinh các thao tác viết chữ từ đơn giản đến phức tạp, bao gồm kỹ năng viết nét, liên kết nét tạo chữ cái tạo chữ ghi tiếng Đồng thời giúp các em xác định khoảng cách, vị trí, cỡ chữ trên vở kẻ ôli để hình thành kỹ năng viết đúng mẫu, rõ ràng và cao hơn là viết nhanh và đẹp Ngoài ra tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở, cách trình bày bài viết cũng là một kỹ năng đặc thù của việc dạy tập viết mà giáo viên cần thường xuyên quan tâm
II.CƠ SỞ THỰC TIỂN.
1 Mục tiêu, chương trình và sách giáo khoa
1.1 Mục tiêu
- Về kiến thức: Cũng cố hoàn thiện biểu tượng về các chữ cái viết thường, chữ số, nắm vững quy trình viết chữ cái, chữ số Yêu cầu cơ bản ở lớp 2 là học sinh nắm được hình dáng và viết đúng các chữ viết hoa, đồng thời nâng cao kỹ năng viết liền mạch giữa các chữ cái viết thường với nhau và giữa chữ viết hoa với chữ viết thường
- Về kỹ năng: học sinh lớp 2 viết đúng chữ cái viết hoa, thể hiện rõ đặc điểm thống nhất ở các nét cơ bản trong từng nhóm chữ viết hoa, kỹ thuật viết liền mạch giữa các chữ cái thể hiện được rõ, đều Học sinh viết điều chỉnh về khoảng cách khi viết các chữ cái đứng sau chữ viết hoa không có nét móc
Trang 6- Bài kiểm tra ở cuối năm là bài tập chép Viết khoảng 50 chữ trong vòng 15 phút, không mắc quá 5 lỗi chính tả
-Rèn luyện tư thế tập viết cho học sinh như:
+ Tư thế ngồi viết: Khi ngồi viết học sinh phải ngồi ngay, lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi Hai mắt cách mặt vở từ 25cm – 30cm Cánh tay trái đặt lên mặt bàn bên trái vở, bàn tay trái tì vào mép vở giữ vở không xê dịch khi viết Cánh tay phải cũng ở trên mặt bàn Với cách để tay như vậy, khi viết, bàn tay và cánh tay phải có thể dịch chuyển thuận lợi từ trái sang phải dễ dàng
+ Cách cầm bút: Khi viết, học sinh cầm bút và điều khiển bút bằng 3 ngón tay (ngón trỏ, ngón cái, ngón giữa) của bàn tay phải Đầu ngón tay trỏ đặt ở phía trên đầu ngón tay giữa bên phải, ngón cái phía bên trái của bút 3 điểm tựa này giữ bút và điều khiển ngòi bút dịch chuyển linh hoạt Ngoài ra động tác viết cần có sự phối hợp cử động của cổ tay, khuỷu tay và cánh tay
+ Vị trí đặt vở khi viết chữ: Vở viết cần đặt nghiêng so với mặt bàn một góc khoảng 300 (nghiêng về bên phải) Sở dĩ phải đặt vở như vậy vì chiều thuận của vận động tay khi viết chữ là vận động từ trái sang phải
1.2 Chương trình:
Mỗi tuần có 02 tiết tập viết, mỗi tiết có 40 phút Mỗi tiết viết một dòng chữ to, hai dòng chữ vừa, hai dòng chữ nhỏ Củng cố kỹ năng viết các chữ viết thường kết hợp dạy viết chữ hoa trong bài Các bài tập chép xen kẻ trong các bài dạy tập viết
1.3 Sách giáo khoa.
Vở tập viết lớp 2 được cấu trúc cụ thể như sau:
Nội dung tập viết trong vở bám sát yêu cầu của bài học trong sách giáo khoa tiếng việt lớp 2; mỗi bài học được thể hiện trên hai trang vở: Trang lẻ Tập viết ở lớp, ký hiệu không, trang chẵn Tập viết ở nhà, ký hiệu ; mỗi trang đều có phần tập viết theo kiểu chữ viết đứng (bắt buộc) và kiểu chữ viết nghiêng (tự chọn) để học sinh luyện tập
Các tuần ôn tập không có tiết dạy tập viết trên lớp nhưng vẫn có nội dung luyện tập trong vở tập viết để nâng cao chất lượng viết chữ
2 Thực tế vấn đề dạy tập viết ở các trường tiểu học.
2.1 Về dạy tập viết của giáo viên
* Thuận lợi:
Trường đã trang bị đầy đủ tài liệu để phục vụ cho giảng dạy tập viết ở lớp 2 Trình độ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn
Đồ dùng dạy học đầy đủ để phục vụ cho việc giảng dạy phân môn tập viết
Giáo viên đều quan tâm đến việc dạy tập viết cho học sinh
* Khó khăn:
Trang 7Trường nằm ở địa bàn vùng sâu, vùng xa việc đi lại còn khó khăn Cơ sở hạ tầng
cũ kỹ đa số phòng học xây dựng bán kiên cố
Giáo viên chưa mở rộng, nâng cao khả năng luyện viết đúng quy trình kỹ thuật, cách lia bút để viết nhanh trên cùng một mẫu chữ hay rê bút để viết sang một nét mới, giáo viên chưa sử dụng phiếu bài tập trong tiết tập viết
Giáo viên chưa chú trọng đến vệ sinh học đường như tư thế ngồi viết, cách cầm bút, khoảng cách giữa các ngón tay và đầu bút
2.2 Về việc học tập viết của học sinh
* Thuận lợi:
Đa số học sinh học đúng độ tuổi và được học qua lớp mẫu giáo 5 tuổi và mẫu giáo
36 buổi
Học sinh ham thích học tập viết
Học sinh có đầy đủ dụng cụ học phân môn tập viết…
* Khó khăn:
- Còn một số học sinh trang bị chưa đầy đủ dụng cụ học tập viết
- Đa số học sinh viết không đúng mẫu chữ
- Học sinh ngồi viết thường không đúng tư thế
CHƯƠNG 2.
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 2.
1 Khi học sinh luyện tập viết chữ, giáo viên cần luôn luôn chú ý uốn nắn để các em cầm bút đúng và ngồi đúng tư thế, bài viết đẹp phải đi kèm với tư thế đúng
2 Giáo viên cần chú ý các hình thức luyện tập cơ bản như:
Tập viết chữ vào bảng con của học sinh
Luyện tập viết trong vở tập viết
Luyện tập viết chữ khi học các môn khác
3 Rèn cho học sinh về cách trình bày, về ý thức viết chữ và giữ gìn sách vở sạch đẹp, quan tâm đến những điều kiện cần thiết như: ánh sáng, bàn ghế, dụng cụ học tập…
4 Rèn cho học sinh viết đúng mẫu chữ viết hiện hành theo quyết định số 31/2002/QĐBGD-ĐT ngày 14 tháng 06 năm 2002 của Bộ trưởng BGDĐT
4.1 Mẫu chữ cái viết thường
- Các chữ cái: b, g, h, k, l, y được viết với chiều cao 2.5 đơn vị
- Chữ cái: t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị
- Các chữ cái: d, đ, q, p được viết với chiều cao 2 đơn vị
- Các chữ cái còn lại: o, ô, ơ, a, ă, â, e, ê, i, u, ư, c, n, m, v, x được viết với chiều cao 1 đơn vị
Trang 8- Hai chữ cái: r, s được viết với chiều cao 1,25 đơn vị
4.2 Các dấu thanh được viết trong phạm vi một ô vuông có cạnh là 0,5 đơn vị
4.3 Mẫu chữ cái viết hoa.
Chiều cao của các chữ cái viết hoa là 2,5 đơn vị, riêng hai chữ cái viết hoa Y, G được viết với chiều cao 4 đơn vị
5 Tổ chức nhắc lại:
- Nhằm củng cố về các nét cơ bản đã viết ở lớp 1
- Chú trọng việc rèn luyện và nét viết của chữ viết “chân phương”
- Ngoài các biện pháp cơ bản, người giáo viên chú trọng trong thực tiễn dạy học vần, dạy tập viết, cần lấy âm tiết làm đơn vị Xung quanh đơn vị âm tiết có thể xây dựng một số bài tập nhằm rèn kỹ năng viết chữ cho học sinh như:
- Bài tập điền chữ cái và từ
- Bài tập sử dụng thao tác thay thế bằng cách viết âm, chữ cái, vần vào tiếng, từ
- Xây dựng một số trò chơi nhằm tạo hứng thú trong học tập
GIÁO ÁN Môn: Tập viết Bài 4 Chữ hoa C
I MỤC TIÊU
1 Kiến thức.
Học sinh đọc được, viết đúng chữ hoa cờ ( C ) và câu ứng dụng “chia ngọt sẻ
bùi”
2 Kỹ năng.
- Rèn luyện, cũng có kỹ năng viết các chữ cái viết thường có trong nội dung bài viết
- Nắm được cấu tạo và rèn luyện kỹ năng viết chữ cái C viết hoa đúng quy trình
viết chữ
- Thực hiện các kỹ năng viết nối các chữ cái, trọng tâm viết nối liên kết từ C sang
“hia” khi viết chữ “ Chia” ở nội dung viết chữ ứng dụng chia ngọt sẻ bùi
- Chú ý quy trình viết liền mạch
3 Thái độ.
- Rèn chữ viết đẹp, cách cầm bút, tư thế ngồi viết Biết cách đặt tập viết và khoảng cách từ tập viết đến mắt
- Yêu thích môn tập viết, Tiếng Việt
II PHƯƠNG TIỆN
Trang 9- Giáo viên: Mẫu chữ viết phóng to, phấn màu, thước kẻ.
- Học sinh: Vở tập viết, bút, bảng con, phấn trắng, bông lau
III HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
1 Ổn định tổ chức
Hát đầu giờ chuyển tiết
2 Ki m tra bài c ể ũ
- Giáo viên gọi học sinh nhắc lại
tên bài
- Học sinh cả lớp viết lại chữ hoa
B vào bảng con
- Giáo viên nhận xét vào bảng
con
- Gọi học sinh nhắc lại câu ứng
dụng ở bài trước
- Cả lớp viết vào bảng con chữ
“B ạn”
- Giáo viên nhận xét
- Học sinh trả lời chữ hoa B
- Bạn bè sum họp
3 Bài mới.:
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
a Giới thiệu bài
Ở lớp 1 các em đã học và viết các
chữ cái viết thường đặc biệt trong đó có
chữ có C viết thường
Hôm nay thầy cùng các em tìm hiểu và
viết chữ C là chữ viết hoa C
- Giáo viên ghi tên bài lên bảng
Gọi học sinh nhắc lại tên bài “chữ hoa
C”.
- Giáo viên đính mẫu chữ lên
bảng, phóng to lên bảng
b Hướng dẫn viết chữ hoa C
Chữ hoa C
Trang 10- Giáo viên giới thiệu con chữ cái
hoa C
- Giáo viên giới thiệu khung chữ
và cấu tạo nét
- Gọi học sinh đếm ô li:
+ Chiều cao của chữ cờ hoa gồm mấy
ô li
+ Chiều rộng của chữ cờ hoa
- Cho học sinh viết bằng tay trong không
gian theo hướng dẫn của giáo viên
- Giáo viên đặt câu hỏi: Chữ cờ hoa gồm
mấy nét
- Giáo viên giới thiệu chữ C gồm một
nét kết hợp của hai nét cong cơ bản:
Cong dưới và cong trái nối liền nhau, tạo
thành vòng xoắn to ở đầu chữ
- Giáo viên hướng dẫn cách viết:
Khi viết chúng ta bắt đầu viết từ giao
điểm của đường ngang 6 và đường dọc
3, viết nét cong dưới trước, đến điểm
dừng bút của nét cong dưới thì chuyển
hướng lên trên và viết tiếp nét cong trái
Phần nối giữa nét cong dưới và nét cong
trái tạo thành vòng xoắn to ở đầu chữ
Điểm dừng bút đặt sâu trong lòng nét
cong trái ở giao giữa đường ngang 2 với
đường dọc 3
- Giáo viên viết mẫu, vừa viết vừa nhắc
lại cách viết
- Hướng dẫn học sinh viết trên bảng con
Học sinh viết chữ C 2, 3 lượt
- Giáo viên quan sát trong khi học sinh
viết để giúp đỡ và uốn nắn
- Cao 5 ô li
- Rộng 4 ô li
- 1 nét
- Học sinh nhắc lại
- Học sinh nhắc lại
- Học sinh nhắc lại
- Chia ngọt sẻ bùi
- Học sinh đọc cụm từ ứng dụng: chia ngọt