Những khái niệm về Ngân hàng điện tử, giao dịch trực tuyến, thanh toán trên mạng… đã bắt đầu trở thành xu thế phát triển và cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
Trang 2thuật ngữ này nghĩa rộng của nó, không chỉ bởi vì nó phù hợp hơn với côngnghệ mà còn bởi vì nó giúp chúng ta thấy được sự phức tạp của sự phát triểnngân hàng điện tử trong nhiều năm qua Roger Ferguson (1998), một tthànhviên của Broad of governors của Cục dự trữ liên bang HOA KỲ, phát biểurằng “ Địng nghia x ngân hàng điện tử theo cách này có nhiều thuận lợi, ítnhất nó cũng giúp chúng ta thấy được rằng ngân hàng điện tử kế tục sự pháttriển trong một khoảng thời gian Từ đó, chúng ta biết rằng điện tử trong quákhứ có thể giúp chúng ta hiểu rỏ hiện tại và tương lai
Đôi khi chúng ta rút ra được sư khác nhau giữa hệ thống thanh toán điện tử
và ngân hàng điện tử Hệ thống thanh toán điện tử liên quan đến việc thanhtoán điện tử Ngân hàng điện tử là một thuôc ngữ chung hơn và bao gồm,bên cạnh hệ thống thanh toán điện tử, những giao dịch ngân hàng điện tửkhác như là ứng dụng gởi tiền, kiểm tra tài khoản và chuyển tiền sự phânbiệt giưã hệ thống thanh toán điện tử và ngân hàng điện tử thật ra là khôngcần thiết Vi dụ, khi sử dụng chuyển tiền điện tử tại một điểm bán hàng(EFTPOS) để thanh toán tiền, tài khoản ngân hàng ( séc hay tiên tiêt kiệm)được tự động ghi nợ hệ thống thanh toán vi vậy đã gắn kết chặt chẽ đườngtruyền với ngân hàng; có nghĩa là, sự đặc trưng để phân biệt của ngân hàng
đó là phương tiện thanh toán của họ Vì vậy, trong chương này, chúng ta sẽ
sử dụng thuật ngữ “ngân hàng điện tử”bao gồm hệ thống thanh toán điện tử
Sự hiểu biết về ngân hàng điện tử và hệ thống thanh toán điện tử và sự chovay sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta biêt chúng đã phát triển như thế nào trongnhững năm qua
1.2 Sự phát triển của ngân hàng điện tử
Trang 3Việc ứng dụng công nghệ vào trong ngân hàng bắt đầu từ năm 1920 hơn 90năm trước, các tổ chức tài chính đã có sử dụng công nghệ để trủyền thôngtin , nhận thông tin và giaỉ quyết công việc chất lượng, chủng loại và giá cảcuả dịch vụ điện tử là một vũ khí quan trọng của ngân hàng để tiếp cận vớinhững khách hàng công ty và cá nhân Giao dịch ngân hàng dễ ứng dụng kỹthuật nhất Chúng có tính chất lặp lại với khối lượng nhiều, ít các bên liênquan và lưu trữ dữ liệu.
Những đặc trưng này của giao dịch ngân hàng dẫn đến nổ lực tiến hành giaodịch tự động Các tổ chức tài chính luôn đi tiên phong trong việc ứng dụngcông nghệ Nếu không có sự thúc đẩy của ngân hàng, có lẽ sự tiến bộ củacông nghệ đã không tiến bộ như ngày hôm nay
Theo Deakin và Goddard (1994), Hê thống thông tin dự trữ liên bang (FedWire) là cha đẻ của tất cả công nghệ ngân hàng, nó rốt cuộc dẫn đến việcchuyển tiền đến khách hàng mua lẻ và công ty Ngay từ năm 1920, Fed Wire
đã lập được kỷ lục có hơn 700.000 lược chuyển khoản tuy nhiên sự chuyểntiếp từ Fed Wire đến bán lẽ các giao dịch ngân hàng có sử dụng công nghệmất nhiều thời gian Deakin và Goddard chỉ rỏ rằng hệ thống ngân hàngđiện tử thời kỳ đầu có hiệu quả một cách khá hạn chế là do bốn lý do chínhsau đây
1 Công nghệ thông tin còn quá non trẻ và không đủ để theo dỏi trongvùng và toàn cầu các ngân hàng và khách hàng không thể truyền đạtthông tin trong tổ chức của họ hay thông tin với tổ chức khác trênbình diện quốc tế
2 hầu hết các công ty và các ngân hàng có hệ thống không tương thích;đôi khi các chi nhánh khác nhau trong cùng ngân hàng vẫn có hệthống khác nhau
Trang 43 các nhà sản xuất máy tính đã không thoả thuận về sự phát triển cáctiêu chuẩn kỹ thuật cho phép các hệ thống máy tính có thể trực tiếptrao đổi dữ liệu trực tiếp với nhau.
4 phần cứng và phần mềm máy tính quá đắc so với hiệu quả tiết kiệmchi phí sẵn có thông qua việc tự động hoá
Các ngân hàng dẫn đầu trong việt tìm kiếm tính hiệu quả và tính cực cảithiện dịch vụ (đặc biệt hết sức tích cực đối với khách hàng là công ty)bằng cách nghĩ ra phương tiện để sử dụng thời gian và tiền bạc nhanhnhất của việc tiến hành giao dịch ngân hàng Các ngân hàng Hoa Kỳ đãchiếm được vị trí dẫn đầu về công nghệ và bắt đầu tấn công các ngânhàng Châu âu, nó đã nắm giữ độc quyền các khách hàng là công ty ởChâu âu
Với sự cạch tranh ngày càng gay gắt, các ngân hàng châu âu cũng nhảyvào lĩnh vực vào ngân hàng điện tử ngân hàng Barclay đã cho ra đời máyrút tiền tự động đầu tiên phục vụ cộng đồng ở United Kingdom năm
1969 các bước tiến nữa là việc giới thiệu hệ thống bù trừ tự động trongngân hàng (BACS) năm 1971 mục đích là nhắm đến là sự leo thang chiphí của chuyển tín dụng bù trừ Năm1977, tổ chức chuyển tiền liên ngânhàng toàn cầu (SWIFT) được thiết lập, mở đầu những hoạt động thanhtoán toàn cầu Credit Ảgicole của Pháp đã giới thiệu ESTPOS năm 1979.Các ngân hàng đã tiếp tục phát triển hệ thống chuyển tiền điện tử, và hệThống trung tâm thanh toán bù trừ tự động (CHAPS) được mở ra vàotháng 2 năm 1984 Từ năm 1985, ngân hàng đã xó những bước tiến đáng
kể, được kích thích bởi hai phát triển kỷ thuật:
1 Những máy tính cá nhân được sản xuất với chi phí thấp
Trang 52 Phương pháp kỷ thuật chuyển những gói thông tin mới, nó đã làm cảithiện sự truyền đạt thông tin sẵn có và cung cấp kỹ xảo cho dòngchảy dữ liệu trong nước và quốc tế.
Deakin và Goddard (1994) cho rằng việc xảy ra tiếp theo đó như là kếtquả của những phát triển:
- Vào năm 1985, ngân hàng điện tử đã có những bước tiến đáng kể vàđược thiết lập tốt ở Mỹ
- Các ngân hàng nước Anh đã bắt đầu cạnh tranh trong phạm vi nàyvới các ngân hàng Mỹ
- Phần lớn của việc thanh toán điện tử vẫn là giữa các ngân hàngnhưng các khách hàng công ty ngày càng bị lôi cuốn vào sự giao dịchcủa ngân hàng điện tử Sự tiến bộ này đã dẫn đến việc sử dụng côngnghệ trong giao dịch ngân hàng
- Những người thủ quỹ của công ty có thể nhận và sử dụng dữ liệu trựctiếp từ ngân hàng
- Những chi tiết hằng ngày về tài khoản ngân hàng của một công ty cóthể được tập hợp thành một đơn vị trong bảng tính của người sở hữu
và sử dụng phân tích tài chính, dự đoán và tiến hành phân tích “ Cái gì
sẽ xảy ra nếu” cho việc kiểm soát dòng tiền mặt
- Hệ thống báo cáo cân đối đã bắt đầu trở nên phổ biến trong liên ngânhàng ( ngân hàng trung gian) giao dịch công ty
Trước năm 1990 đã đánh dấu được một bước ngoặc trong lịch sử cuảngân hàng điện tử Trong năm 1990, ARPANet của US Department ofDefence đã chính thức bãi nhiệm Điều này có nghĩa là internet đã đượcthực hiện mở ra sự sử dụng cho thương mại và vì vậy thương mại internet( hay thương mại điện tử) được thực hiện cho việc mua hàng hoá và dịch
vụ thông qua internet Hệ thống thanh toán điện tử sớm được mở rộng,
Trang 6nhưng nó đòi hỏi có đường dẫn đến tài khoản ngân hàng- cuối cùng, hệthống thanh toán điện tử chính thức đước mở rộng Quá trình đó chưathể hoàn thành và bước mới nhất là sự đến với mobile phone banking(hay m-banking, vì nó được thực hiện bằng cách gọi)
Dựa vào hệ thống thanh toán điện tử và giao dịch IB là những thành phầnchính của ngân hàng điện tử, chúng ta sẽ giải thích các khái niệm nàymột cách chi tiết hơn
Sự phát triển của các dich vụ Ngân hàng điện tử tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Hiện nay, Ngân hàng điện tử tồn tại dưới hai hình thức:
- Ngân hàng trực tuyến, chỉ tồn tại dựa trên môi trường mạng, cung cấp dịch vụ 100% thông qua môi trường mạng
- Mô hình kết hợp giữa hệ thống Ngân hàng thương mại truyền thống vàđiện tử hóa các dịch vụ truyền thống, tức là phân phối những sản phẩm dịch
vụ cũ trên những kênh phân phối mới Ngân hàng điện tử tại Việt Nam chủ yếu phát triển theo mô hình này
1.3.Hệ thống thanh toán điện tử: Chúng ta rất quen thuộc với những hệ
thống thanh toán truyền thống như tiền mặt hay séc Việc thanh toán nàychỉ đơn giản là chuyển tiền hay séc từ một người này sang người khác.Trong hệ thống thanh toán điện tử, không có một sự giao nhận hiện hữu(physical) xảy ra; thay vào đó, việc thanh toán này từ một chủ thể nàysang chủ thể khác được tiến hành bằng điện, trong đó, tài khoản củangười gửi tiền được ghi nợ và tài khoản của người được trả tiền ghi có.Theo Ngân hàng thanh toán quốc tế (Bank for international Settlements)
Trang 7(1999), hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt (không tính đến Séc) bao gồm hệ thống thanh toán sau đây:
Những giao dịch được thực hiện trực tiếp ( Direct entry transaction):
Thanh toán thực hiện trưcj tiếp được thực hiện thông qua mối liên lạctrực tiếp từ máy tính đến máy tính Hình thức thanh toán được thực hiệntrực tiếp này không cần phải thông qua phòng thanh toán bù trừ Giaodịch thực hiện trực tiêp có thể ghi là nợ hay có Những giao dịch ghi cóthường gặp là trả lương, phúc lợi xã hội, và lợi tức Ghi nợ trực tiếpthường gặp là việc các tổ chức tín dụng thu hồi nợ qua tài khoản Thu phíbảo hiểm định kỳ, tiền điện, tiền nước cũng có thể được thực hiện qua ghi
nợ trực tiếp
Thẻ tín dụng (Credit cards)
Thẻ nhựa (plastic cards) hay còn gọi là thẻ thanh toán được sử dụng phổbiến tại các nước phát triển và bước đầu phát triển tại Việt Nam Thẻthanh toán bao gồm 3 loại cơ bản sau: thẻ ghi nở (debit card), thẻ tíndụng ( credit card) và các thẻ khác như thẻ du lịch, thẻ giải trí, thẻ giànhcho khách hàng bán lẻ Thẻ ghi nợ cho phép chủ thẻ sử dụng tiền đang cótrong tài khoản Còn thẻ tín dụng thì cho phép khách hàng sử dụng tíndụng tuần hoàn với một hạn mức được cho phép trước để thanh toán chitrả hàng hoá và dịch vụ Cuối tháng, ngân hàng sẽ gửi cho khách hàngbảng kê chi tiết các chỉ tiêu của khách hàng và khách hàng có thời giankhoảng 7 ngày để thanh toán số tiền này
ATM: Chỉ đơn giản bằng việc đút thẻ vào các máy ATM, khách hàng có
thể tiến hành thanh toán, rút tiền mặt, nhập séc vào tài khoản hoặc
Trang 8chuyển tiền Ngày nay, máy ATM có thể thay thế cho chi nhánh ngânhàng bán lẻ.
EFTPOS: EFTPOS yêu cầu sử dụng mật khẩu cá nhân (PIN) và ghi nợ
tài khoản của khách hàng theo thời gian thực hiện (real time) Ngân hàngthực hiện giao dịch đảm bảo thanh toán cho các nhà kinh doanh cung cấpsản phẩm, dịch vụ cho khách hàng sử dụng EFTPOS
Thẻ lưu giữ giá trị (Stored value cards):
Như tên của thẻ, thẻ này có giá trị được lưu trữ Chúng có thể sử dụng
để thực hiện thanh toán trong giới hạn giá trị được lưu trữ Mỗi khi được sửdụng, nó sẽ tự trừ đi số tiền được sử dụng Một hình thức phổ biến của loạithẻ này là thẻ điện thoại trả trước được sử dụng ở các cabin điện thoại diđộng
Tiền mặt điện tử (E-cash):
Vào tháng 6 năm 1997, một ngân hàng khu vực ở Úc đã phát hành ra mộtloại Digicash (Ausatralian dollar-denominated electronic cash: tiền mặt điện
tử bằng dollar Úc) Hệ thống này yêu cầu cả khách hàng và đơn vị thươngmại có tài khoản tại cùng ngân hàng Khách hàng có thể mua tiền điện tử đểtrả cho cơ sở thương mại
Trao đổi thông tin điện tử nội bộ (Electronic Data Interchange EDI):
EDI liên quan đến sự trao đổi thông tin theo mẫu chuẩn từ máy tính nàysang máy tính khác EDI thường được sử dụng trong bán lẻ, vận chuyểnhoặc các ngành công nghiệp khác
Trang 9BPAY (Bill Payment): là dịch vụ thanh toán hoá đơn cho bên thứ ba của
ngân hàng Hệ thống này cho phép khách hàng chuyển tiền bằng điện thoạihay internet
1.4 Các loại ngân hàng điện tử
Ngân hàng điện tử có các loại cơ bản như ngân hàng tại nhà (HomeBanking: HB), ngân hàng internet (Internet Banking IB), và ngân hàng điệnthoại (Phone Banking PB)
Home Banking: Theo Weaver và Shanhan (1994), HB (cũng được biết đếnnhư PB) cho phép khách hàng sử dụng màn hình của điện thoại hay máy tính
để kiểm tra số dư tài khoản, chuyển tiền giữa các tài khoản, thanh toán hoáđơn và kiểm tra giới hạn số lượng giao dịch hiện tại Vì thế, khái niệm rộnghơn của HB là dịch vụ ngân hàng sử dụng máy tính cá nhân cũng như điệnthoại Mặc dù có một số điểm khác biệt, nhưng nhìn chung, chu trình sửdụng dịch vụ Ngân hàng tại nhà bao gồm các bước cơ bản sau:
• Bước 1: Thiết lập kết nối (khách hàng kết nối máy tính của mình với
hệ thống máy tính của Ngân hàng qua mạng Internet (dial-up, cable LAN, WAN…), sau đó truy cập vào trang Web của Ngân hàng phục vụ mình (hoặc giao diện người sử dụng của phần mềm) Sau khi kiểm tra và xác nhận khách hàng, khách hàng sẽ được thiết lập một đường truyền bảo mật (https) và đăng nhập (login) vào mạng máy tínhcủa Ngân hàng
Direct-• Bước 2: Thực hiện yêu cầu dịch vụ (khách hàng có thể sử dụng rất nhiều dịch vụ Ngân hàng điện tử phong phú và đa dạng như truy vấn
Trang 10thông tin tài khoản, chuyển tiền, hủy bỏ việc chi trả séc, thanh toán điện tử… và rất nhiều dịch vụ trực tuyến khác).
• Bước 3: Xác nhận giao dịch, kiểm tra thông tin, và thoát khỏi mạng (thông qua chữ ký điện tử, xác nhận điện tử, chứng từ điện tử…); khi giao dịch được hoàn tất, khách hàng kiểm tra lại giao dịch và thoát khỏi mạng, những thông tin chứng từ cần thiết sẽ được quản lý, lưu trữ và gửi tới khách hàng khi có yêu cầu
• Đối với các Ngân hàng khác nhau, quy trình nghiệp vụ cũng tương tự cùng với một vài đặc trưng riêng của mỗi Ngân hàng
Internet banking: Việc sử dụng phần mềm do ngân hàng cung cấp hạn chế
sự sử dụng dịch vụ ngân hàng thông qua máy tính cá nhân Khách hàng chỉ
có thể sử dụng HB khi có phần mềm mà ngân hàng cung cấp Giải pháp phùhợp để hạn chế vấn đề này là dịch vụ ngân hàng trực tuyến trên trang Webcủa ngân hàng Do internet có ở khắp nơi trên thế giới nên ngân hàng trựctuyến có thể sử dụng ở bất kỳ một vị trí nào và từ bất kỳ một máy tính cánhân nào mà không cần phải cài đặt phần mềm do ngân hàng cung cấp Một
ưu điểm lớn của IB là có thể thực hiện được giao dịch bất kỳ khi nào nếunhư có sự kết nối internet Tuy nhiên, nhược điểm của IB là cần phải có máytính Điều này cũng có nghĩa là chúng ta không thể sử dụng IB bất kỳ khinào và bất kể ở đâu PB khắc phục nhược điểm này
Mobile phone banking
Các ứng dụng thiết bị không dây ( WAP) cho phép điện thoại di động dễdàng truy cập internet và vì thế có thể sử dụng các nghiệp vụ trực tuyến củangân hàng Khách hàng của ngân hàng có thể sử dụng các giao dịch ngân
Trang 11hàng ở bất kỳ đâu thông qua một điện thoại động Tuy nhiên, nghiệp vụngân hàng qua điện thoại di động còn sơ khai và còn có thời gian để pháttriển.
2.INTERNET BANKING
2.1.Tổng quan về internet bankịng
Internet banking là những hệ thống cho phép khách hàng truy cập vàotài khoản và các thông tin chung về sản phẩm và dịch vụ của ngân hàngthông qua một máy tính cá nhân hay các công cụ thông minh khác
Sản phẩm và dịch vụ của IB có thể bao gồm những sản phẩm bánbuôn dành cho khách hàng doanh nghiệp cũng như những sản phẩm bán lẻ
và những sản phẩm tín dụng cho khách hàng Xét về bản chất, những sảnphẩm và dịch vụ này của IB có thể phản chiếu thông qua những kênh phânphối của ngân hàng
Một số ví dụ và dịch vụ bán sỉ của IB
Quản lý tiền mặt
Chuyển tiền bằng điện
Trình hoá đơn và thanh toán
Nhứng ví dụ về sản phẩm và dịch vụ bán lẻ và tín dụng bao gồm:
Xem số dư
Chuyển tiền
Tải thông tin giao dịch
Trình hoá đơn và thanh toán
Nộp đơn đề nghị vay vốn
Hoạt động đầu tư,
Những dịch vụ tạo giá trị khác
Trang 12Những dịch vụ IB khác có thể bao gồm việc cung cấp truy cập internet nhưmột cung cấp dịch vụ internet (Internet service provider ISP) OCC đã quyếtđịnh rằng một chi nhánh ngân hàng quốc gia có thể cung cấp dịch vụ ngânhàng tại nhà ( Home banking) thông qua kết nối internet với hệ thống ngânhàng tại nhà và phụ trợ cho dịch vụ này có thể cung cấp sự truy cập internetcho những khách hàng của ngân hàng sử dụng dịch vụ này Trước đây, ngânhàng sử dụng công nghệ thông tin để thực hiện những kiểm tra ( xử lý từngmục), điều khiển máy ATM (xử lý giao dịch) và đưa ra báo cáo (hệ thốngquản trị thông tin) Trong quá khứ, hệ thống máy tính thực hiện quá trìnhnày ít có sự tham gia của khách hàng Ngày nay, việc sử dụng các trang web,thư điện tử và chứng tử điện tử và hệ thống thanh toán điện tử là một hìnhthức quan trọng để ngân hàng tiếp cận với khách hàng.
2.2 Sự phát triển của IB :
Nhiều nhân tố, bao gồm chi phí cạnh tranh, và vấn đề nhân khẩu học
là động lưc thúc đẩy các ngân hàng đánh giá công nghệ và đua ra dịch vụthương mại điện tự và chiến lược IB Các chuyên gia kinh tế dự đoán sự pháttriển nhanh nhu cầu sử dụng sản phẩm và các dịch vụ ngân hàng trực tuyến.Tuy nhiên, thử thách lớn nhất của ngân hàng là phải chắc chắn rằng nguồntiết kiệm từ nguồn dịch vụ IB Chiến lược thị trường của các ngân hàngthường nhằm vào thị trường và khai thác các kênh phân phối chi phí thấp.Thông thường chiến lươc của ngân hàng bao gồm những yếu tố sau:
Sự cạnh tranh –các nghiên cứu thực nghiệm hiện nay chỉ rỏ rằng áp lực
cạnh tranh là nguyên nhân cơ bản làm(1) gia tăng sự sử dụng công nghệ IBnhư là một hình thức giữ khách hàng tiềm năng và lôi cuốn khách hàng mới
Hiệu quả chi phí- Các ngân hàmg có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng qua
internet ở mức chi phí thấp nhiều so với việc mở chi nhánh Chi phí hàngnăm để thể hiện giao dịch là khác nhau đối với các kênh phân phối được sử
Trang 13dụng Ví dụ, theo Booz, Allen & Hamilton, vào năm 1999, chi phí cung cấpcác giao dịch bằng tay tại một chi nhánh là vào khoản hơn 1$, của máyATM hoặc trung tâm giao dịch qua điện thoại là 25cent, trong khi chi phícủa một giao dịch qua internet chỉ là 1/10 cent Những chi phí giao dịch quainternet được ước đoán là tiếp tục giảm Đây là một lý do quan trọng thúcđẩy các ngân hàng phát triển dịch vụ và sản phẩm IB Tuy nhiên, các ngânhàng cần phải cẩn trọng trong các quyết định liên quan đến việc thực hiệnnhững quyết định phát triển dịch vụ và sản phẩm IB Họ cần tính đến các chiphí liên quan đến một sản phẩm hay dịch vụ mới bao gồm công nghệ,tiếpthị, bảo dưởng và những hoạt động hổ trợ khách hàng
Tiếp cận khách hàng (Geographycal Reach)- IB cho phép mở rộng sự
liên hệ với khách hàng thông qua việc gia tăng khả năng tiếp cận với kháchhàng và những kênh phân phối với chi phí thấp hơn Trên thực tế, hiện cónhiều ngân hàng thực hiện kinh doanh thông qua internet – họ không có vănphòng như những ngân hàng truyền thống và họ tiếp cận với khách hàngtrực tuyến Những tổ chức tài chính khác đang sử dụng internet như mộtkênh phân phối bổ trợ để tiếp cận khách hàng truyền thống và tiếp cận kháchhàng mới
Danh tiếng ( Branding): Xây dựng các mối quan hệ là chiến lược ưu tiên
đối với các ngân hàng Công nghệ IB và sản phẩm IB có thể cung cấp mộtphương tiện cho các ngân hàng phát triển và gin giữ các mối quan hệ vớikhách hàng thông qua việc cung cấp sự truy cập dễ dàng một danh mục sảnphẩm và dịch vụ đa dạng rộng lớn Bằng việc tư bản hoá sự nhận diện nhãnhiệu và bằng việc cung cấp một danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính rộngkhắp, các ngân hàng có thể xây dựng được sự trung thành của khách hàng,lôi cuốn khách hàng và gia tăng sự lặp lại các hoạt động kinh doanh
Trang 14Nhân khẩu học của khách hàng ( Customer Demographics) – Cho
phép các ngân hàng cung cấp nhiều sự lựa chọn cho khách hàng Một sốkhách hàng ưa thích giao tiếp trực tiếp giữa người với người và họ cảm thấyviệc sử dụng các chi nhánh ngân hàng truyền thống là thuận tiện Một sốkhác lại chấp nhận công nghệ mới ra đời hơn là các dịch vụ truyền thống
Họ sử dụng máy tính để thực hiện các giao dịch ngân hàng Nhân khẩu họccủa khách vì thế mà sẽ thay đổi Thách thức cuả ngân hàng là hiểu về nềntảng cơ bản của khách hàng và đưa ra một kênh phân phối hỗn hợp để cungcấp sản phẩm và dịch vụ có khả năng sinh lợi cho nhiều phân đoạn thịtrường của họ
2.3 Các loại dịch vụ Internet (Types of internet financial service)
Mức độ rủi ro liên quan internet liên kết trực tiếp đến các loại dịch vụđược cung cấp bởi các ngân hàng Điển hình, các dịch vụ tài chính internet
có thể được phân loại thành dịch vụ thông tin, dịch vụ trao đổi thông tintương tác và các dịch vụ giao dịch
a/ Dịch vụ thông tin (Information services):
Đây là hình thức cơ bản nhất của dịch vụ internet trực tuyến Thôngthường, ngân hàng có thông tin tiếp thị về sản phẩm và dịch vụ của ngânhàng trên một máy chủ độc lập Đây là một cách truyền thông bằng chất liệuthông tin, quảng cáo và khuyến khích để cung cấp cho khách hàng Nhữngngân hàng nhỏ chỉ chọn cung cấp thông tin trên internet bởi sự thiết lập máychủ độc lập hay việc mua không gian quảng cáo trên các website được sởhữu bởi bên thứ ba
Mặc dù các rủi ro liên kết với những dịch vụ trực tuyến là thấp, cácwebsite này thường là mục tiêu của người ăn trộm dữ liệu có chủ ý phá hoại
Trang 15và cắt xén thông tin gốc đã cung cấp Một ngân hàng có thể bị tổn hại danhtiếng do bởi các website của nó bị phá hoại và tầm thường hoá.
Nơi mà một ngân hàng mua không gian quảng cáo từ bên thứ ba,thông thường việc giám sát nên được thực hiện không chỉ qua quảng cáo củangân hàng mà còn liên kết với nội dung của người cung cấp dịch vụ Điềunguy hại ảnh hưởng đến danh tiếng có thể do nguyên nhân kết hợp một cách
vô vị quảng cáo được làm khác nhau trên các dịch vụ giống nhau
b/ Dịch vụ trao đổi thông tin tương tác (Interactive information exchange services)
Hình thức này của dịch vụ internet xuất hiện yếu hơn về ảnh hươnglẫn nhau giữa ngân hàng – khách hàng so với hình thức trước Các kháchhàng có thể liên lạc với ngân hàng, thẩm tra việc thực hiện tính toán và điềnvào các mẫu đơn có săn để bắt đầu các dịch vụ tăng them hay mua các sảnphẩm mới đã được đưa ra Các rủi ro liên quan đến các website này phụthuộc vào chúng có liên kết trực tiếp đến mạng nội bộ của ngân hàng Phạm
vi các rủi ro này từ thấp đến vừa phải tuỳ theo sự kết nối giữa internet vàmạng nội bộ và sự ứng dụng mà khách hàng có thể kết nối
c/ Dịch vụ giao dịch (Transaction service ):
Phạm trù này của dịch vụ IB cho phép khách hàng thực hiện giao dịch trựctuyến như chuyển tiền, thanh toán hoá đơn và những giao dịch tài chínhkhác
Đây là pham trù có rủi ro cao nhất mà đòi hỏi sự kiểm soát kiên quyết từgiao dịch trực tuyến thường một lần không thể huỷ bỏ được thực hiện và hệthống nội bộ của ngân hàng có thể đặt vào thế dễ bị tấn công bên ngoài nếukiểm soát không đầy đủ (không tương xứng) Một yếu tố làm tăng thêm rủi
ro đó là sự tấn công ngược lại hệ thống inernet không yêu cầu có mặtphysical tại vị trí bị tấn công