1. Trang chủ
  2. » Tất cả

q2-pl02a-phoihon

13 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 110,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thứ ba là theo 12 cầm tinh so sánh chi năm sinh, tức tuổi cuả nam và nữ nếu tương hợp với nhau thì có thể tiến hành phối hôn; còn nếu tương hình và/hoặc tương hại thì không thể phối hô

Trang 1

PHỐI HÔN CỦA NAM NỮ

nguyên lý

thiên hợp địa hợp

ví dụ

thiên khắc địa xung

ví dụ

Bảng năm phối hôn

phối hôn theo đại mệnh

Phương hướng phối hôn

Những tiêu chí cần để ý khi xét về hôn nhân : sớm, muộn, khi nào tốt nhất ?

_ Nguyên lý :

Vạn vật và các sự việc trên thế gian tuy vô cùng phức tạp, nhưng nếu quy về khí thì chỉ

có 2 khí âm dương, quy về chất thì chỉ có 5 loại: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ Do đó, âm dương ngũ hành, không những là các vật chất cơ bản, cấu tạo thành thế giới mà còn là nguyên nhân căn bản của sự tồn tại, phát triển, hưng vượng, suy bại của vạn vật

Sự hưng vượng và suy bại của vạn vật, vạn việc trong thế gian, trong đó có con người, đều do sự sinh khắc chế hoá của âm dương, ngũ hành gây ra

Nam là dương, nữ là âm, nam nữ đều có 5 loại mệnh là kim, mộc, thuỷ, hỏa, thổ Do đó hôn nhân của nam nữ thực chất là kết quả sự sinh khắc chế hoá của âm dương, ngũ hành Từ những ví dụ của chương Hôn nhân trong sách này ta có thể thấy rõ, vì sao có những cặp vợ chồng ái ân đằm thắm, bách niên giai lão; và cũng có những cặp vợ chồng ban đầu tình sâu nghĩa nặng, đến giữa chừng lại bị chia lìa; vì sao trước hợp sau tan, trước yêu sau trở nên thù địch, tuyệt tình, tuyệt nghĩa

Gia đình là tế bào của xã hội Vấn đề phối hôn của nam nữ không những là điều kiện quan trọng để cấu tạo thành gia đình mà còn là nguồn gốc để xã hội dựa vào đó tồn tại

và phát triển Cho nên trong “Kinh Dịch “ có câu: “ Có trời đất sau đó mới có vạn vật, có vạn vật sau đó mới có nam nữ, có nam nữ sau đó mới có vợ chồng, có vợ chồng sau đó mới có cha con, có cha con sau đó mới có vua tôi, có vua tôi sau đó mới có thiên hạ, có thiên hạ sau đó mới có lễ nghĩa,…”.

Con người là cái quí nhất trong thế gian, là chủ thể của xã hội, mà người lại là sản vật của “sự hôn phối nam nữ” Cho nên vấn đề hôn nhân nam nữ không những là việc lớn trong đời sống cá nhân, mà còn là việc lớn mang tính chất xã hội Xử lý được tốt thì cá nhân, gia đình, xã hội và sự giáo dục con cái đều có lợi, còn ngược lại thì gia đình và cá nhân sẽ mang lấy những rủi ro, bất hạnh, đặc biệt là sự thương tổn tâm linh của con cái không có gì có thể bù đắp được cho tương lai chúng; và cũng gây cho xã hội rất nhiều điều phiền phức Do đó vấn đề hôn nhân cũng là một trong những đề tài quan trọng của xã hội học

Người Trung hoa xưa, để làm cho cuộc sống của mọi người được hạnh phúc, trong việc hôn nhân nam nữ đã có những nghiên cứu sâu sắc và đưa ra những cống hiến to lớn Sau khi Kinh Dịch ra đời, họ đã dùng bát quái để dự đoán hôn nhân tốt hay xấu Kế đến, thiên can và địa chi - bình dân hoá qua 12 con vật (cầm tinh) - được đưa vào tứ trụ để

Trang 2

dự đoán, thì sự nghiên cứu về hôn nhân càng đạt được kết quả nhiều hơn, đã để lại cho chúng ta những di sản văn hóa quý báu

Từ trong Chu dịch ta có thể thấy người Trung hoa từ rất sớm đã nghiên cứu và coi trọng vấn đề hôn nhân Có rất nhiều quẻ đã bàn về hôn nhân, nếu nam nữ hôn phối hợp cách thì trưởng nam phối trưởng nữ, trung nam phối trung nữ, thiếu nam phối thiếu nữ “Hai khí âm dương cảm ứng phải tương đương” thì hôn nhân mới tốt đẹp, bách niên giai lão Ví dụ :

Quẻ “trạch sơn hàm” là nam nữ chính phối (Cấn - thiếu nam, phối với Ðoài - thiếu nữ) ;

Quẻ “thiên phong cấu” có câu “vật dụng thủ nữ” (1 âm phối với 5 dương; nữ là thứ dữ, đừng cưới làm vợ ! ) ;

Quẻ “tiểu súc” có câu “phu thê phản mục” là vì lão nam (Càn) phối với trưởng nữ

(Tốn), vừa không chính phối, lại vừa 2 khí âm dương tương khắc nhau, cho nên phát sinh “phu thê phản mục”

Nhưng chúng ta đừng quên hôn nhân là vấn đề phức tạp, ngoài 2 khí âm dương của Kinh Dịch, còn có các yếu tố tâm lý, xã hội… nữa

Ngoài Kinh Dịch, sự nghiên cứu về phối hôn qua các thời đại còn dựa trên sự tương sinh tương khắc của vận năm, và theo các thuộc tính trong tổ hợp tứ trụ của 2 người nam -

nữ, đại để được chia làm ba loại :

- Thứ nhất là theo âm dương ngũ hành, lấy “năm mệnh” (đại mệnh) tương sinh tương khắc làm chính Ví dụ : nam mệnh kim, nữ mệnh thổ, vì thổ-kim tương sinh cho nên phối hôn là tốt

- Thứ hai là lấy 8 chữ của nam nữ phối hợp nhau để cân bằng ngũ hành Ví dụ nếu tứ trụ của nữ có thương quan nhiều (tức khắc chồng) thì nên phối với nam tứ trụ tỷ kiếp nhiều (tức khắc vợ) để đề phòng nữ khắc nam, vì bên tám lạng người nửa cân ! Cho nên đời xưa khi đính hôn thường phải nhờ thầy hợp tứ trụ của nam nữ là có căn cứ khoa học, có cơ sở lý luận

- Thứ ba là theo 12 cầm tinh (so sánh chi năm sinh, tức tuổi cuả nam và nữ) nếu tương hợp với nhau thì có thể tiến hành phối hôn; còn nếu tương hình và/hoặc tương hại thì không thể phối hôn

Những phương pháp phối hôn như thế vào thời đó đã có 1 tác dụng to lớn để làm cho các cuộc hôn nhân được mỹ mãn, xây dựng gia đình hạnh phúc, có giá trị rất thiết thực, nên cho đến nay vẫn còn được coi trọng

Ngoài ra, gần đây, nhà Dịch học đại sư Trung quốc là TVH còn phát hiện ảnh hưởng của trục phương hướng nối nơi sinh của nam nữ trong sự phối hôn Chúng ta dành cho nó một mục riêng dưới đây

Vì sự phối hôn nam nữ theo các tiêu chuẳn trên có tính khoa học rất sâu sắc và huyền diệu, nhưng do xã hội không coi trọng nó, không nghiên cứu vì cho là mê tín dị đoan, cho nên vấn đề phối hôn nam nữ đã không được giải quyết tốt đẹp Mặt khác còn vì trong phối hôn người ta không làm theo tinh thần khoa học, mà chỉ dựa vào cảm tính

Trang 3

bồng bột, nên đã dẫn đến bi kịch khắc vợ chồng, gây ra thảm kịch hôn nhân và tỉ lệ ly hôn ngày càng cao Trong nhiều dự đoán về hôn nhân, và theo thống kê, người ta thấy

có khoảng 80% các cuộc hôn nhân đều không suông sẻ

Chết vì hôn nhân và ly hôn là những nan đề, nó làm tan nát gia đình , tạo cho xã hội

1 loạt vấn đề nan giải, làm cho nhà nước (của bất kỳ nước nào) cũng phải chú ý đến những mặt có liên quan đến hôn nhân, và cũng lo lắng xử lý thận trọng đối với hôn nhân

Tuy chết do hôn nhân, hoặc ly hôn có rất nhiều nguyên nhân, nhưng không phải hoàn toàn do mệnh năm tương khắc, hoặc các cầm tinh tương hình tương hại nhau,

mà dù cho mệnh năm tương sinh, cầm tinh tương hợp cũng vẫn có sự khắc vợ khắc chồng Tỷ lệ lớn nhất là do hung thần ác sát trong tứ trụ, và can chi trụ năm của vợ chồng phạm thiên khắc địa xung là chính

Ta sẽ lần lượt xét dưới đây những tiêu chí này

Thiên điạ tương sinh ; thiên sinh điạ hợp

thiên hợp địa hợp

Có những cặp vợ chồng tương thân tương ái với nhau từ đầu đến cuối, hoặc dù có sự tranh cãi nhưng vẫn chung sống với nhau đến già (đời xưa cho rằng sau 60 tuổi mà hôn nhân tan vỡ thì không phải là khắc hại nữa), trong đó chủ yếu nhất và cũng là quan trọng nhất chính là trụ năm của vợ chồng tương sinh (thien địa tương sinh), tương hợp (thiên sinh điạ hợp) hay Thiên hợp, địa hợp thì không còn sợ mệnh năm tương khắc hoặc cầm tinh tương hình, tương hại, hoặc trong tứ trụ có hung sát

Vì sao ?

Đó là vì trụ năm là gốc, là rễ của cây, 2 cây ấy đã tương sinh tương hợp thì tất nhiên gốc rễ ổn định vững chắc, không dễ chia ly, không sợ khắc hại

Ngược lại, nếu trụ năm của vợ chồng phạm thiên khắc điạ xung thì cho dù mệnh năm tương sinh, và trong tứ trụ ít có sát tinh, nhưng vì rễ cây đã bị tổn thất, tất nhiên

là rễ khô, cây chết, dẫn đến bi kịch về hôn nhân

VD1 Nam: Thực Thương Nhật nguyên Thực

Nhâm tý quý mão canh thân nhâm ngọ

TS Nữ: giáp dần

Mệnh Nam quý thuỷ thương quan ở đất trường sinh, thực thần xuất hiện 2 lần (thực thần nhiều là thương), can chi trụ ngày giống nhau; đó là những tiêu chí khắc vợ rất nặng Nhưng vì trụ năm vợ chồng thiên điạ tương sinh cho nên vợ chồng trừơng thọ

Trang 4

VD2 Nam: Kiếp Quan Nhật nguyên Tài

Đinh sửu quý sửu bính thân canh dần

Mộ Nữ: ất dậu

Mệnh Nam thê tinh ở mộ địa (ở lệnh tháng/ Canh mộ ở Sửu) mà cung thê lại còn bị (can ngày = Thân) khắc , ngày giờ tương xung nhau ; đó là những tiêu chí (tượng) khắc

vợ, phải lấy vợ lần thứ 2 Nhưng vì trụ năm của vợ chồng thiên địa tương sinh tương hợp (Sửu-Dậu bán hơp) nên vợ chồng vẫn ân ái đằm thắm

VD3 Nam: Sát Thương Nhật nguyên Thương

Canh thìn đinh hợi giáp tuất đinh mão

Tài Nữ: ất dậu

Xem Tháng 10-1991

Trong tứ trụ thương quan nhiều, ngày là giáp tuất khắc vợ rất nặng, đó là những tiêu chí của người khắc vợ, phải lấy vợ lần thứ 2 Năm ông 40 tuổi gặp đại vận là thìn, năm

1988 lưu niên cũng là thìn cùng với chi năm thìn trong tứ trụ tạo thành 3 thìn xung 1 tuất, xung đúng vào ngôi vợ (chi ngày) Do đó thọat nhìn năm đó sẽ có tai hoạ đến, nếu không ly hôn thì chết, vì có câu "ba xung một, chưa từng thấy ai không chết"

Nhưng xét kỹ vì vợ sinh năm ất dậu, trụ năm của 2 người là thiên can hợp nhau, địa chi cũng hợp nhau, gốc rễ bền vững không thể phá nổi, cho nên 2 vợ chồng qua những biến động của xã hội vẫn ý hợp tâm đầu , cuộc sống mỹ mãn

Bài học : trước khi "phán" cái gì, nhất là những tai hoạ cho người ta, bạn cần phải có cái nhìn tổng hợp toàn diện, xem nguy cơ ấy có gì cứu giải không; tuyệt đối tránh vội vã

thiên khắc địa xung

Trên kia đã nói trụ năm của năm sinh 2 vợ chồng phạm thiên khắc địa xung tức là gốc

bị thương tổn, thì cho dù mệnh năm của vợ chồng tương sinh, nhưng nếu trong tứ trụ không có cát tinh cứu trợ, và cũng không tìm được cách hoá giải, thì khi mệnh nam qua tuổi 54, nhẹ thì ly hôn hoặc vì bị bệnh mà tàn phế, nặng thì sẽ chết

Khi mệnh nam nữ ở tuổi chẵn 54 đều là cửa ải của sự sinh tử Điều đó chủ yếu là trụ năm của năm sinh ở thời điểm 54 tuổi cùng với lưu niên phạm thiên khắc địa xung, làm hại thái tuế của năm đó Đặc biệt là mệnh nam nếu trụ năm phạm thiên khắc địa xung với vợ thì năm 54 tuổi rất khó vượt qua (vì như vậy là gặp 2 thiên khắc địa xung) Năm chồng 54 tuổi lại cũng đúng là năm bản mệnh của vợ (48 tuổi – năm tuổi) cho nên về phía nữ phần nhiều là năm dễ bị chồng chết

Có những cặp vợ chồng trụ năm phạm thiên khắc đại xung, chồng lúc 54 tuổi tuy không chết nhưng vì bệnh tât hoặc tai nạn mà tàn phế Rồi đến năm 60 tuổi gặp năm bản mệnh (và là năm tuổi) của mình, còn vợ lúc đó 54 tuổi vừa đúng phạm thiên khắc địa xung với lưu niên (tức là khắc hại thái tuế), do đó chồng mất

Trang 5

VD1 Nam: sinh năm Canh ngọ, 54 tuổi gặp năm giáp tý bị bệnh

Nữ: sinh năm bính tý 54 tuổi là năm mệnh, mất chồng

VD2 Nam: sinh năm tân mùi, 54 tuổi gặp năm ất sửu bị bệnh

Nữ: sinh năm đinh sửu, năm 48 tuổi, gặp năm mệnh, mất chồng

VD3 Nam: sinh năm mậu dần năm 54 tuổi gặp năm nhâm thân, bị bệnh

Nữ: sinh năm giáp thân, năm 48 tuổi, gặp năm mệnh , mất chồng

VD4 Nam: sinh năm mậu dần, năm 54 tuổi gặp năm nhâm thân bị bệnh tàn phế

Nữ: sinh năm giáp thân, năm 48 tuổi gặp năm mệnh chồng tàn phế

VD5 Nam: sinh năm đinh sửu, năm 54 tuổi gặp năm tân mùi bị bệnh tàn phế

Nữ: sinh năm quý mùi, năm 48 tuổi gặp năm mệnh chồng tàn phế

VD6 Nam: sinh năm bính tý, năm 54 tuổi gặp năm canh ngọ 1990, đầu năm ly hôn

Nữ: sinh năm nhâm ngọ, năm 48 tuổi gặp năm mệnh, ly hôn

Ví dụ cuối cùng này vì năm 1987 đã dự đoán mệnh nam năm canh ngọ 1990 nếu không

ly hôn thì sẽ chết, không chết thì cũng bị bệnh mà tàn phế Do đoán trước nên đã tìm cách hoá giải nên cả 2 vợ chồng đều bình yên Vượt qua năm canh ngọ, từ hung trở thành cát, về sau danh lợi đều đạt được; cho đến nay vẫn khoẻ mạnh Ví dụ này chứng

tỏ một khi đã đoán được tai hoạ, nếu tìm cách hoá giải cũng sẽ vượt qua

Có những cặp vợ chồng trụ năm dù không phạm thiên khắc điạ xung, nhưng ai đến tuổi

54, nếu tứ trụ của mình tổ hợp tốt, bản thân mình không bị bệnh hoặc không bị tai hoạ, thì người thân trong nhà tất nhiên sẽ gặp trắc trở khó khăn, hoặc gặp những việc không thuận Còn nếu tổ hợp tứ trụ của mình không tốt thì nhất định mình sẽ bị bệnh hoặc sự trắc trở nào đó

Nói chung, khi trụ năm sinh của bất cứ ai phạm thiên khắc địa xung với lưu niên , thì nhất định năm đó sẽ gặp tai hoạ nào đó, hoặc gặp việc trắc trở

VD1 Nam sinh năm Kỷ tị, năm quý hợi 1983 đúng năm 54 tuổi vì bị bệnh phải trải qua đại phẩu thuật, về sau mất năm kỉ tị (năm mệnh)

VD2 Nam sinh năm giáp tuất 1934, năm mậu thìn (TK ÐX) tuy bình an vô sự nhưng con ông đột nhiên bị điên

VD3 Nam sinh năm quý mão 1903, năm đinh dậu 1957 bị ghép vào tội phần tử phái hữu (ở Trung quốc)

VD4 Nữ sinh năm ất sửu (1925), năm kỷ mùi 1979 con phạm pháp bị giam

Trang 6

Còn nếu trụ năm của vợ chồng phạm thiên khắc địa xung, thì khi đến tuổi 54 nếu giữa

2 vợ chồng không bị chết hoặc ly dị thì cũng sẽ gặp những điều xấu khác

* * *

Căn cứ kinh nghiệm trụ năm 2 vợ chồng tương sinh, hay thiên địa tương hợp thì hôn nhân bền vững, ta có bảng năm hôn nhân của nam nữ sau đây:

BẢNG NĂM HÔN PHỐI CỦA NAM NỮ

Giáp tý 1984 Nhâm thân, Quý dậu, Đinh sửu

Ất sửu 1985 Nhâm thân, Quý dậu, Bính tý

Bính dần 1986 Kỉ tị, Ất hợi

Đinh mão 1987 Giáp tuất, Ất hợi

Tân mùi 1991 Nhâm thân, Quý dậu, Nhâm ngọ

Nhâm thân 1992 Giáp tuất, Đinh sửu

Quý dậu 1993 Ất hợi, Canh thìn, Tân tị

Đinh sửu 1997 Giáp thân, Ất dậu

Kỹ mão 1999 Tân Tị, Bính tuất, Đinh hợi

Canh thìn 2000 Kỉ dậu, Nhâm ngọ

Quý mùi 1943 Giáp thân, Ất dậu, Giáp ngọ

Giáp thân 1944 Bính tuất, Kỉ sửu

Bính tuất 1946 Tân mão, Giáp ngọ

Mậu tí 1948 Canh dần, Bính thân, Đinh dậu

Canh dần 1950 Mậu tuất, Kỉ hợi, Bính ngọ

Tân mão 1951 Mậu tuất, Kỉ hợi

Nhâm thìn 1952 Đinh dậu, Ất tị

Quý tị 1953 Mậu tuất, Tân sửu, Giáp thìn

Ất mùi 1955 Bính thân, Đinh dậu, Bính ngọ

Bính thân 1956 Tân sửu, Giáp thìn

Đinh dậu 1957 Giáp thìn, Ất tị

Canh tí 1960 Nhâm dần, Mậu thân, Kỉ dậu

Trang 7

Quý mão 1963 Canh tuất, Tân hợi

Giáp thìn 1964 Bính ngọ, kỉ dậu

Ất tị 1965 Đinh mùi, canh tuất, Quý sửu

Bính ngọ 1966 Giáp dần, Ất mão, Kỉ mùi

Đinh mùi 1967 Mậu thân, Kỉ dậu, Mậu ngọ

Mậu thân 1968 Canh tuất, Quý sửu, Bính thìn

Kỉ dậu 1969 Bính thìn, Đinh tị

Nhâm tý 1972 Giáp dần, Canh thân, Tân dậu

Quý sửu 1973 Canh thân, Tân dậu, Giáp tý

Ất mão 1975 Đinh tỵ, Nhâm tuất, Quý hợi

Bính thìn 1976 Mậu ngọ, Tân dậu

Đinh tị 1977 Kỉ mùi, Ất sửu, Mậu thìn

Mậu ngọ 1978 Bính dần, Đinh mão, Tân mùi

Kỷ mùi 1979 Canh thân, Tân dậu, Canh ngọ

Canh thân 1980 Nhâm tuất, Ất sửu, Mậu thìn

Nhâm tuất 1982 Đinh mão, Canh ngọ

Giải thích cách đọc bảng :

1) lấy lớn phối nhỏ, tức nam nên phối với nữ nhỏ tuổi hơn Ví dụ : nam sinh năm quí sửu nên phối với nữ sinh năm canh thân, tân dậu, giáp tý

Nếu nữ sinh năm quí sửu thì phải tìm năm sinh trong cột mệnh nữ để tra ra mệnh nam nên phối trong cột mệnh nam Ví dụ: nữ sinh năm quí sửu thì nên phối hôn với nam sinh năm ất tị hoặc mậu thân (Ta có thể lập 1 bảng riêng cho Nữ phối Nam để tra cho nhanh)

2) Đặc điểm chủ yếu là lấy trụ năm của nam nữ tương sinh tương hợp làm chính chứ không đòi hỏi mệnh của nam nữ tương sinh Nếu trụ năm của 2 bên tương sinh tương hợp, mệnh năm lại tương sinh thì tất nhiên càng tốt Ví dụ: nam giáp tuất phối với nữ kỷ mão là trụ năm thiên địa tương hợp, lại còn thêm 1 người mệnh hỏa, 1 người mệnh thổ tức mệnh năm tương sinh cho nhau

3) không những bảo đảm trụ năm tương sinh tương hợp, mà còn cố gắng tránh trường hợp chi năm thuộc 12 cầm tinh tương hại, tương hình Chú ý : tuy thìn-dậu tương hình và tương hợp, nhưng đó là trong hợp có sinh, nên lấy hợp làm chính

4) tuổi của nam nữ cách nhau ít nhất là 1 tuổi, xa nhất là 15 tuổi (đặc biệt là nam sinh năm hợi chỉ có tương sinh tương hợp với nữ nhỏ hơn 15 tuổi) Gặp trường hợp tuổi chênh lệch quá xa như thế, nếu không tìm ra người lý tưởng vẫn có thể theo cách

cổ xưa là chọn năm mệnh nam nữ tương sinh để phối hôn

Trang 8

Về mặt so tuổi, một số chuyên gia Nhật Bản cũng cho rằng nam nữ phối hôn về tuổi tác nên chênh lệch nhau khoảng 15 tuổi mới là tốt nhất, nam phải cao tuổi hơn nữ

5) chỉ ra những năm sinh phối hôn nam nữ tốt nhất, lý tưởng nhất, để đề phòng khắc chồng khắc vợ làm mục tiêu chính Nhưng những phương pháp phối hôn theo cách

cổ điển vẫn có thể dùng được Bạn có thể tuỳ ý chọn

Để tiện tra, ở đây chỉ trích ra can chi từ năm 1941 đến năm 2000 Thời gian ngoài khoảng đó có thể suy ra dễ dàng, vì cứ sau 60 năm thì trở lại như cũ

Khi sử dụng bảng trên, bạn có thể nên tra thêm "bảng nạp âm 60 hoa giáp dùng cho việc phối hôn" (để biết năm mệnh), và có thêm thêm vài ý niệm về một mệnh

PHỐI HÔN THEO NGŨ HÀNH của MỆNH

Các khoa Bói toán dựa trên Ngũ hành không xử lý việc người này có yêu thương người kia hay không, hay mức độ đam mê trong tình yêu của hai người, mà chỉ xử lý chuyện hôn nhân, tình duyên giữa nam, nữ tốt xấu theo sinh, khắc, xung, hợp, hại giữa 2 hành qua thiên can và điạ chi - cụ thể ở đây là hành của mệnh nam và mệnh nữ - và quan sát trong một thời gian dài, bao gồm cả giàu sang phú quí hay không, con cháu đông đúc và thành danh, phú túc hay không, chứ không xét đến những « coups de foudre »

Chúng ta có thể tóm tắt trong các bảng hôn nhân theo mạng như dưới đây ; nên nhớ phải luôn luôn phải lấy mệnh NAM phối với mệnh NỮ.

MẠNG HOẢ

hoả hoả chồng vợ trước nghèo khổ, sau phú quí và đông con (tốt)

Hai Hoả giúp nhau hoả thổ chồng vợ trước nghèo , sau phú quí (tốt)

Hoả - Thổ hữu duyên ; tài lộc sung túc ; con thảo cháu hiền hoả kim chồng vợ hay bất hoà, luôn luôn hay tranh cải (xấu)

Hoả Kim khắc nhau nên hay cải lẫy và kiện cáo ; gia đình không an

hoả mộc chồng vợ trước cũng như sau đều được hoàn toàn hạnh phúc

và sang giàu (tốt)

Hoả Mộc hợp duyên ; gia thất bình an ; phúc lộc kiêm toàn hoả thuỷ chồng vợ hay bất hoà, khó được lâu bền, rồi phải phân ly (rất

xấu)

Thuỷ-Hoả tương khắc ; con cháu bất lợi ; gia đạo gian nguy

MẠNG THỔ

thổ thổ chồng vợ làm ăn đủ dùng, tuy chẳng được dư giả nhưng vợ

chồng vĩnh viễn (tốt)

Trang 9

Lưỡng Thổ tương sinh ; trưóc khó sau dễ ; lắm của nhiều con (1)

thổ hoả chồng vợ trước làm ăn trung bình , từ 30 tuổi về sau thì sẽ

được phú quí vinh hoa (rất tốt)

Thổ Hoả đắc vị ; quan vị dồi dào ; con cháu đông đảo và sang giàu

thổ kim chồng vợ hoà hiệp, đặng giai lão ; nếu sinh con trai đầu lòng

thì sẽ được giàu to (tốt) ; con cháu thông minh ; tài lộc sung túc

thổ mộc chồng vợ rất xung khắc, rồi sau cũng phải phân ly (rất xấu)

Thổ Mộc bất sinh

thổ thuỷ chồng vợ khắc nhau về mạng ; hay tranh cải (rất xấu)

trước hợp sau lià ; sanh kế bất lợi

MẠNG KIM

kim thổ chồng vợ trước cũng như sau , hoà thuận, con cháu đầy đàn ,

đều đặng giai lão và giàu sang phú qúi ; lục súc bình an (rất tốt)

kim hoả chồng vợ rất xung khắc, và gặp nhiều tai hoạ (rất xấu)

sanh con khó nuôi ; nghèo túng

kim kim chồng vợ rất xung khắc, hay cải nhau, và gặp tai hoạ luôn

luôn ; sinh đẻ bất lợi rồi sau cũng phải phân ly (rất xấu), gọi là

« Lưỡng Kim, Kim khuyết », ngoại trừ trường hợp « Lưỡng Kim thành khí » (1)

kim mộc chồng vợ trước sau cũng chẳng khá, nhưng đặng bền lâu

(xấu) Kim khắc Mộc, tức khắc xuất : khổ sở, nghèo nàn ; chồng Nam

vợ Bắc

kim thuỷ Thiên duyên tác hợp ; con cháu đầy đàn ; vợ chồng hoà

thuận ; nếu sinh được con trai đầu lòng thì sẽ được giàu sang, làm ăn thịnh vượng (tốt)

MẠNG MỘC

mộc thổ Thổ Mộc tương sinh (2)(lấy ý cây phải có đất mới sống và sinh trưởng

được, và chồng có khắc được vợ thì cũng là chuyện bình thường ) ; chồng

vợ rất khá giả ; làm ăn thạnh phát ; lắm của (đại phú) nhiều con cháu (rất tốt)

mộc hoả Mộc Hoả tương sinh ; tiền tài phú túc ; con cháu đông ; chồng

vợ thuận thảo và hạnh phúc - bách niên giai lão (rất tốt) mộc kim chồng vợ trước 30 tuổi thì nghèo ; từ 30 tuổi trở lên sẽ khá

(tốt)

Trang 10

Hai mệnh khắc nhau ; trước hợp sau lià ; con cháu bất lợi mộc mộc Thông thường : chồng vợ ăn ở không bền lâu ; sau có thể chia

ly, mỗi người một ngã (rất xấu)

Cá biệt : quan lộc tốt ; con cháu đông đủ ; gia đình hoà hiệp (1)

mộc thuỷ chồng vợ được hoàn toàn hạnh phúc – bách niên giai lão, giàu

sang (rất tốt) ; Mộc Thuỷ tương sinh ; con cháu đông MẠNG THUỶ

nam nữ Có thể xãy ra

thuỷ thổ chồng vợ trước 30 tuổi thì nghèo ; từ 30 tuổi trở lên sẽ khá (tốt)

Hai mệnh khắc nhau ; vui khổ bất thường : làm việc gì cũng khó.

thuỷ hoả chồng vợ rất xung khắc ; và khắc hào con (con yểu mệnh) (rất

xấu)

Duyên tự thành ; tuy xấu mà cũng được hoà hiệp thuỷ kim chồng vợ nếu sinh con trai đầu lòng thì làm ăn phát đạt ( tốt)

Kim Thuỷ sinh Tài ; sung sướng đến già ; con cháu khá

thuỷ mộc chồng vợ thuận hoà và giàu sang phú quí (rất tốt)

Thuỷ-Mộc nhân duyên , bách niên giai lão thuỷ thuỷ chồng vợ được hạnh phúc, bền duyên và giàu sang (rất tốt)

Hai Thuỷ tuy không tốt, nhưng điền trạch được khá yên ; ăn ở nhau được

Chú ý :

(1) Để có tác dụng cộng hưởng thì hai mệnh phải cùng một loại mới được, như : Lưỡng mộc thành lâm :

Đại lâm mộc và Đại lâm mộc ;

Thạch lựu mộc và Thạch lựu mộc ;

tức là hoặc hai thứ cây lớn, hay 2 thứ cây nhỏ trồng chung với nhau thì được ; còn một lớn một nhỏ thì cây nhỏ bị cây lớn áp chế mà phải chết

Lưỡng Thổ thành sơn :

Cùng một loại đất thì tốt ; nhưng tốt nhất thì cả hai đều là Đại trạch thổ thì mới thành sơn được Đó cũng là cas « Lưỡng Kim thành khí »

Lưỡng Hoả thành Diêm : cả hai là Phúc đăng hoả (cái đèn có chụp), hai cái đèn hợp lại thì ánh sáng càng tăng thêm Nếu như một cái đèn nhỏ đối với tích lịch hoả ( cuả sấm chớp trên trời) thì ánh chớp cực mạnh sẽ át mất cái ánh sáng nhỏ của ngọn đèn đi ; như thế là tương khắc (kỵ) / cũng giống như « lưỡng Kim Kim khuyết »/ chứ không phải cộng hưởng nhau

(2) Tuy Mộc khắc Thổ , nhưng Đại lâm mộc với Đại trạch thổ không khắc lắm ; còn đối với những mạng Thổ khắc thì khắc kỵ nhiều

Ngày đăng: 08/06/2021, 17:44

w