Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về[r]
Trang 1CĐGD-ĐT LẤP VÒ
CĐCS TH BÌNH THÀNH 1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bình Thành, ngày 20 tháng 9 năm 2012
BÀI DỰ THI
Tìm hiểu pháp luật về bình đẳng giới năm 2012
Họ và tên: Nguyễn Minh Nhựt , Năm sinh: 1978 , Dân tộc: Kinh
Đơn vị: Trường TH Bình Thành 1
Câu 1: Luật Bình đẳng giới quy định bao nhiêu thuật ngữ liên quan tới bình đẳng giới? Nêu các nội dung cụ thể của từng thuật ngữ và cho 2 ví dụ để minh họa cho 2 khái niệm bất kỳ ?
Luật Bình đẳng giới quy định 9 thuật ngữ liên quan đến bình đẳng giới: Giới, Giới tính, Bình đẳng giới, Định kiến giới, Phân biệt đối xử về giới, Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Hoạt động bình đẳng giới và Chỉ số phát triển giới
Theo Điều 5 của Luật Bình đẳng các từ ngữ này được hiểu như sau:
1 Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội
2 Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ
3 Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó
4 Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ
5 Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
6 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được
7 Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan
hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh
8 Hoạt động bình đẳng giới là hoạt động do cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới
9 Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới,
Trang 2được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ
ví dụ : :Trai tài lấy năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng” ; “Trai tài không chẳng ăn mày vợ, gái trăm vạn cũng thể nhờ chồng”; chồng chúa vợ tôi”
Câu 2: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là gì? Nêu các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trên từng lĩnh vực ?
Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và
nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được
Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:
a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;
b) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới
Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:
a) Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;
b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật
Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:
a) Quy định tỷ lệ nam, nữ được tuyển dụng lao động;
b) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;
c) Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại
Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:
a) Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;
b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật
Những biện pháp khác
a) Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng;
b) Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam;
c) Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam;
d) Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam;
đ) Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;
e) Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;
Câu 3: Anh/chị hãy nêu những quy định về nội dung và mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động? Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, chế độ nghỉ thai sản được quy định như thế nào?
Trang 3Các hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động.
1 Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc chênh lệch về mức tiền lương, tiền công của những người lao động có cùng trình độ, năng lực
vì lý do giới tính
2 Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới hoặc đối với các nghề nghiệp đặc thù theo quy định của pháp luật;
b) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động nam hoặc lao động nữ vì lý do giới tính, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ
3 Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp đã bị xâm hại đối với hành vi quy định tại khoản 1
Chế độ nghỉ thai sản hiện hành
1- Người lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con, cộng lại từ bốn đến sáu tháng
do Chính phủ quy định, tuỳ theo điều kiện lao động, tính chất công việc nặng nhọc, độc hại và nơi xa xôi hẻo lánh Nếu sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 30 ngày
2- Hết thời gian nghỉ thai sản quy định tại khoản 1, nếu có nhu cầu, người lao động nữ
có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử dụng lao động Người lao động nữ có thể đi làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, nếu
đã nghỉ ít nhất được hai tháng sau khi sinh và có giấy của thầy thuốc chứng nhận việc trở lại làm việc sớm không có hại cho sức khoẻ và phải báo cho người sử dụng lao động biết trước Trong trường hợp này, người lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản, ngoài tiền lương của những ngày làm việc
Câu 4: Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đặt ra mục tiêu, chỉ tiêu nào nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị? Bằng hiểu biết của mình, anh/chị hãy nêu tên đầy đủ của các vị lãnh đạo nữ cấp cao hiện nay của Đảng, Nhà nước Việt Nam (gồm: Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Chính phủ, các Bộ trưởng)?
Mục tiêu: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị
- Chỉ tiêu 1: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2016 – 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ
2011 – 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 – 2020 trên 35%
- Chỉ tiêu 2: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm 2020 đạt trên 95% Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ
Trang 4- Chỉ tiêu 3: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 70% và đến năm 2020 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
Bộ Chính trị: Đồng chí Tòng Thị Phóng
Ban Bí thư: Đồng chí Hà Thị Khiết
Quốc hội: Đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân - Phó Chủ tịch QH
Đồng chí Tòng Thị Phóng - Phó Chủ tịch QH
UBTVQH: Bà Trương Thị Mai - Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội
Bà Nguyễn Thị Nương - Trưởng Ban Công tác đại biểu
Phó Chủ tịch nước: Đồng chí Nguyễn Thị Doan
Chính phủ: Phạm Thị Hải Chuyền - Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Nguyễn Thị Kim Tiến - Bộ trưởng Bộ Y tế
Câu 5: Từ những tình huống/câu chuyện thực tế trong cuộc sống xung quanh mình, anh/chị hãy viết một bài (tối đa khoảng 1.500 từ) về tấm gương của cá nhân hoặc tập thể điển hình hoặc chia sẻ câu chuyện/sự kiện ấn tượng trong việc thực hiện bình đẳng giới ).
Tình huống: Chồng bà A cho rằng việc đi chợ nấu cơm, giặt giũ, chăm sóc con cái
là việc của phụ nữ, nam giới chỉ lo kiếm tiền và giải quyết những công việc to lớn nên
đã không làm việc nhà cùng vợ Theo bạn, chồng bà A nghĩ vậy đúng hay sai? Giả sử bạn là bà A, bạn sẽ làm gì để chồng thay đổi cách suy nghĩ và cùng tham gia công việc nhà với vợ.
Trả lời: - Chồng chị A có suy nghĩ như vậy là không đúng, vi phạm nguyên tắc nam,
nữ bình đẳng giới trong gia đình Vì theo khoản 5 điều 18 luật bình đẳng giới năm 2006 quy định quyền bình đẳng giới trong gia đình như sau “Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình” Việc “khoán trắng” các công việc gia đình cho phụ nữ sẽ tạo nên gánh nặng rất lớn về vật chất và tinh thần cho người phụ nữ vì ngoài việc lo cho gia đình, họ cũng còn phải hoàn thành những trọng trách khác về mặt xã hội như nam giới
- Để chồng cùng tham gia công việc nhà người vợ phải chọn những lúc thích hợp giải thích cho người chồng thấy được sự cần thiết của cả vợ, lẫn chồng trong việc vun vén hạnh phúc và lo cho cuộc sống của gia đình; thường xuyên tâm sự và cung cấp thông tin, tư liệu
về bình đẳng giới để cùng chồng thảo luận, trao đổi về cách nghĩ và hành động trong cuộc sống
- Thường xuyên dùng lời lẽ nhỏ nhẹ, vận động chồng cùng tham gia công việc nhà như nấu cơm, chăm sóc con… Nếu lúc đầu người chồng làm có phần vụng về cũng không nên phản ứng mà nên khen, khuyến khích, động viên và hướng dẫn chồng thực hiện công việc; dần dần người chồng sẽ thấy quen với công việc nhà và xem đó là trách nhiệm chung của cả vợ lẫn chồng
Trang 5Câu 6: Theo anh/chị, bản thân anh/chị và cơ quan, tổ chức, địa phương nơi anh chị làm việc hoặc sinh sống nên làm gì để thực hiện bình đẳng giới được tốt hơn?
Ở Việt Nam vấn đề bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu
to lớn của Đảng và nhà nước ta đã được khẳng định trong các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, trong Hiến pháp qua các thời kỳ và đã được thể chế hóa trong hầu hết các văn bản pháp luật, tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội Ngày 29/11/2006 Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 3/5/2007 về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới; Nghị định số: 70/2008/NĐ-CP ngày 4/6/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới; Nghị định số: 48/NĐ-CP ngày 19/5/2009 quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới Trong
đó quy định cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới là Bộ Lao động thương binh xã hội Quốc hội đã phân công Ủy ban các vấn đề xã hội của quốc hội là cơ quan chịu trách nhiệm thẩm định về lồng ghép giới trong các văn bản quy phạm pháp luật Công tác bình đẳng giới ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, ở tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội đã có sự tham gia của cả nam và nữ vào cơ quan quản lý, lãnh đạo các cấp trong bộ máy nhà nước Tỷ lệ thất nghiệp của lao động
nữ trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị giảm xuống còn 5,29% Tỷ lệ nhập học và tốt nghiệp của học sinh nam và nữ trong tất cả các cấp, bậc học gần như tương đương, tỷ
lệ mù chữ ở nam và nữ đã giảm đáng kể Tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, huy động mạnh mẽ các nguồn lực khác trong xã hội đã góp phần đưa tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận với các dịch vụ y tế lên hơn 90% Trên 50% số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ được vay vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia
về giảm nghèo, 45% phụ nữ được vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội đã góp phần mạnh mẽ trong thành quả giảm nghèo ở Việt nam Theo đánh giá của ngân hàng thế giới, Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là quốc gia đạt được sự thay đổi đổi nhanh chóng nhất về xóa bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á (mục tiêu thứ 3 trong 8 mục tiêu thiên niên kỷ)
Tuy nhiên với nhiều nguyên nhân khác nhau, công tác bình đẳng giới vẫn còn những hạn chế bất cập; nguyên tắc bình đẳng giới chưa được cụ thể hóa toàn diện và triệt để trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, một số quy định được ban hành nhưng thiếu chế tài, biện pháp, nguồn lực và cơ chế đủ mạnh để bảo đảm thực hiện Chênh lệch về tỷ lệ nam nữ tham gia quản lý, lãnh đạo ở các cấp, các ngành khá cao (phụ nữ chưa bằng 1/3 nam giới) Tỷ lệ nữ là lao động phổ thông và công nhân chưa qua đào tạo cao hơn nam giới 1,5 lần Lao động nữ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chỉ bằng 42% so với lao động nam Thu nhập bình quân của lao động nữ bằng khoảng 79% lao động nam Việc chăm sóc sức khỏe sinh sản chưa được quan tâm đầy đủ, công việc
Trang 6gia đình vẫn được coi là công việc không được trả công và phần lớn đều do phụ nữ đảm nhận, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn nặng nề, tình trạng ngược đãi, bạo lực, buôn bán phụ nữ và trẻ em gái vẫn tồn tại
Vì sự tiến bộ của phụ nữ, để Pháp luật nói chung, Luật bình đẳng giới nói riêng đi vào cuộc sống, trách nhiệm của cá nhân tôi và của Trường TH Bình Thành 1 nơi tôi đang công tác trong việc thúc đẩy bình đẳng giới như sau:
Phải có sự chung tay góp sức của toàn xã hội, đặc biệt là của các cấp, các ngành và các tổ chức chính trị Chúng ta cần phải vận động tuyên truyền mạnh mẽ hơn nữa để mọi người thay đổi cách nhìn thiên lệch về vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại ngày nay Nhà nước cùng các cấp các ngành cần ưu tiên tạo điều kiện cho chị em phụ nữ
có cơ hội học hành, cơ hội có công ăn việc làm, cơ hội thăng tiến và tham gia các tổ chức xã hội
Các tổ chức đoàn thể như Công đoàn, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên… cần quan tâm hơn nữa đến đời sống vật chất tinh thần, kiên quyết dẹp bỏ những tập tục lạc hậu nhằm nâng cao vai trò và vị thế của người phụ nữ Bên cạnh đó chúng ta cần phải đẩy mạnh việc trang bị thật nhiều vốn kiến thức sống cũng như kiến thức nghề nghiệp để chị
em có thể sẵn sàng đảm trách tốt nhất mọi công việc được giao Một điều không thể thiếu trong bất cứ hoàn cảnh nào đó là người phụ nữ ngày nay cần được đảm bảo tốt nhất về mặt sức khỏe để có thể vừa hoàn thành thiên chức làm vợ, làm mẹ mà vẫn đảm bảo tốt mọi trọng trách mà xã hội giao phó
Sự cố gắng tự thân của chính chị em phụ nữ Họ cần phải vượt qua những thành kiến và suy nghĩ lạc hậu là "phận liễu đào" để cố gắng vươn lên, sẵn sàng đón nhận và khẳng định vị trí, vai trò của mình trong xã hội
Bình Thành,ngày 20 tháng 9 năm 2012
Người viết Nguyễn Minh Nhựt