Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm, cũng như các vấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân h[r]
Trang 1* NHỮNG NHÂN TỐ HÌNH THÀNH, QUYẾT ĐỊNH MỐI QUAN HỆ HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT NAM
Về các điều kiện tự nhiên, Việt Nam và Lào đều nằm ở trung tâm bán đảo Ấn-Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa Dãy Trường Sơn có thể ví như cột sống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt Nam và Lào
Về các nhân tố dân cư, xã hội, Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia của hai nước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người ở khu vực Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng Đặc điểm này đã chi phối mạnh mẽ các mối quan hệ khác trên đường biên giới quốc gia Việt Nam-Lào
Về nhân tố văn hoá và lịch sử, do quan hệ gần gũi và lâu đời nên nhân dân hai nước Việt-Lào, đặc biệt là người dân ở vùng biên giới am hiểu về nhau khá tường tận và sự giao thương
ở đây cũng khá nhộn nhịp Trong quan hệ giao thương với Đại Việt, Lào Lạn Xạng đã không
ít lần bộc lộ mối quan tâm của mình muốn hướng ra biển, trong khi Đại Việt lại tìm cơ hội để
mở rộng buôn bán vào sâu lục địa
Sự hài hoà giữa tình cảm nhân ái và tinh thần cộng đồng là một nét đặc sắc của triết lý nhân sinh người Việt cũng như người Lào Chính trong cuộc sống chan hoà này, nhân dân hai nước Việt Nam- Lào đã ngày càng hiểu nhau và bày tỏ những tình cảm rất đổi chân thành với nhau
Về nhân tố lịch sử, theo các thư tịch cổ nổi tiếng của Việt Nam thì mối quan hệ Việt-Lào bắt đầu từ những năm 550 dưới thời Vạn Xuân của nhà tiền Lý Tiếp đến vào giữa thế kỷ XIV (năm 1353) những quy ước hoà bình đầu tiên về biên giới quốc gia đã được xác lập giữa Đại Việt và Lạn Xạng
Cùng với các điều kiện tự nhiên, dân cư, xã hội, văn hoá, lịch sử, truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ đã làm cho mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào-Việt Nam càng gắn bó keo sơn
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt giữa Việt Nam – Lào, Lào - Việt Nam cùng với những cơ hội vẫn còn không ít thách thức Vì vậy, việc duy trì, củng cố và tăng cường mối quan hệ đặc biệt trong sáng, thuỷ chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam – Lào là nhiệm vụ hết sức quan trọng của
Đảng, chính quyền và nhân dân hai nước Việt Nam- Lào, Lào-Việt Nam
*TÌNH CẢM GẮN BÓ KEO SƠN GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO TRONG NHỮNG NĂM THÁNG CHIẾN TRANH TRƯỚC ĐÂY CŨNG NHƯ TRONG SỰ
NGHIỆP XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công
Trang 2vun đắp Một trong những nhân tố làm nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào-Việt Nam, đó chính là tình cảm gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào trong những năm tháng chiến tranh trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay
Thứ nhất: Hai dân tộc sát cánh bên nhau, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, đòan kết gắn
bó đánh giặc ngoại xâm
Nhân dân Lào cùng Việt kiều đấu tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn (1930-1939)
Nhân dân hai nước Việt Nam-Lào giúp nhau tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền thắng lợi(1939 - 1945).
Liên minh Việt Nam-Lào , Lào-Việt Nam chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
Thứ hai: Hợp tác và giúp đỡ nhau, vượt qua khó khăn cùng xây dựng chủ nghĩa xã hội,
hội nhập và phát triển
Ngày 30-4-1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết Về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới, xác định: việc tăng
cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với Lào là một trong những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân Việt Nam Từ ngày 15 đến ngày 18-7-1977, Đoàn đại biểu cao cấp Đảng
và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Lào Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm, cũng như các vấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp Trung ương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận Quan hệ giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu với nội dung thiết thực và có hiệu quả Đặc biệt, hai bên phối hợp
nghiên cứu, biên soạn công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam (1930 – 2007) nhằm tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam –
Lào, Lào – Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếp tục xây dựng
và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lên một tầm cao mới
* VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, CHỦ TỊCH CAY XỎN PHÔMVIHẢN, CHỦ TỊCH XUPHANUVÔNG VÀ CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CẤP CAO CỦA HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO - VIỆT NAM.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.
Trang 3Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc, với lòng yêu nước nồng nàn
và nghị lực phi thường, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đã tự mình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa và các dân tộc thuộc địa, nhằm phát hiện chân lý cứu nước Người tiếp nhận và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Đông Dương để xác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia theo con đường cách mạng vô sản
Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản Đông Dương còn
đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ Đảng và phong trào cách mạng Đông Dương cũng như tăng cường sự quan hệ mật thiết, nương dựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam và Lào trên hành trình đấu tranh giành tự do, độc lập cho mỗi dân tộc Đây chính là nền móng vững chắc của quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc
là kiến trúc sư vĩ đại của tình đoàn kết đặc biệt đó
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.
Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Hoàng thân Xuphanuvông đang ở Vinh ra Hà Nội và tiếp Hoàng thân Cuộc gặp gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trong việc chọn lựa con đường làm cách mạng Ngày 3-10-1945, tại cuộc mít tinh của hàng vạn nhân dân tỉnh Savẳnnakhệt đón chào Hoàng thân
Xuphanuvông trở về tham gia chính phủ Lào, Hoàng thân tuyên bố: “Quan hệ Lào - Việt từ nay
sẽ mở ra một kỷ nguyên mới ” Hình ảnh, uy tín, quyết tâm làm cách mạng, cứu nước và những
lời nói tốt đẹp của Hoàng thân về quan hệ Lào - Việt đã tác động lớn lao đến sự hưởng ứng, tham gia cách mạng của các tầng lớp nhân dân Lào, càng tạo thêm chất keo gắn kết tình cảm của nhân dân Lào với Việt kiều cũng như với Việt Nam Chính phủ Lào Ítxalạ (Lào tự do) vừa
được thành lập cũng đã chủ trương: “Nhân dân Lào thân thiện với nhân dân Việt Nam và quyết tâm cùng nhân dân Việt Nam đánh đuổi bọn thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương” Thủ tướng Khăm Mạo tuyên bố với Việt kiều: “mong rằng ba nước Việt, Miên, Lào bắt tay nhau để kiến thiết quốc gia” Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào – Việt ) và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào - Việt ), đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt - Lào
Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu dài, tạo cơ sở chính trị
và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam
Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia là một biểu hiện tốt đẹp của việc giải quyết vấn
đề lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, là mẫu mực về chính sách láng giềng hữu nghị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Trang 4Từ khi hai nước tiến hành đổi mới vào năm 1986,lãnh đạo cấp cao hai Đảng hai Nhà nước càng tăng cường cũng cố quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào -Việt Nam quý báu và thiêng liêng đã được Chủ tịch
Hồ Chí Minh vĩ đại đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:
"Thương nhau mấy núi cũng trèo, Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
Việt - Lào, hai nước chúng ta, Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long".
Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: "Trong lịch sử cách mạng thế giới, đã có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ, có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt Nam"; "Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt Nam mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông"
* NHỮNG THÀNH TỰU CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM
Kể từ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành Đảng cộng sản Việt Nam vào tháng 2-1930 và sau đó đổi tên thành Đảng cộng sản Đông Dương (tháng 10-1930), mối quan hệ truyền thống, lâu đời của hai dân tộc được nâng lên thành quan hệ đặc biệt, không ngừng được hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước vun đắp và đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng
1 Hai dân tộc Việt Nam, Lào sát cánh bên nhau cùng tiến hành khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, giành độc lập dân tộc
Đó là kỳ tích đầu tiên của hai nước Việt Nam Lào, của quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào - Việt Nam, đặt nền tảng vững chắc cho mối quan hệ phát triển rực rỡ trong giai đoạn sau
2 Việt Nam, Lào đoàn kết, liên minh chiến đấu chống đế quốc xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai:
Hai dân tộc Việt Nam, Lào vừa giành được quyền độc lập, đã phải đối phó ngay với thực dân Pháp quay trở lại xâm lược
Sau cách mạng tháng Tám, Việt Nam đứng trước những thử thách hết sức nghiêm trọng Song Chủ tịch tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Đông Dương đã phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thực thi chính sách đối nội, đối ngoại đúng đắn, đưa cách mạng vượt qua thác ghềnh, bảo vệ thành quả cách mạng tháng Tám, bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược:
21 năm chống Mỹ cứu nước là một chặng đường kế tục, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đã trở thành giá trị thiêng liêng của hai dân tộc Hoạt động phối hợp đấu tranh của các cơ quan lãnh đạo cùng quân và dân Việt Nam, Lào đều xuất phát từ tình cảm sâu đậm, trách nhiệm cao cả của hai phía Việt Nam, Lào dành cho nhau, tạo nên những
Trang 5nguồn lực mới, những nấc thang phát triển mới của nội lực từng dân tộc, của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung và mở đường đi tới toàn thắng
3 Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiếp tục phát triển trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc của hai dân tộc Việt Nam, Lào (từ 1976 đến nay)
Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao:
Sau khi hai dân tộc kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, vào ngày
18-7-1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào đã được ký kết, là sự kiện mở đầu cho quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn cách mạng mới Đây là văn kiện mang tính chính trị, pháp lý cơ bản, bền vững lâu dài trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng Điển hình của tinh thần hợp tác, hữu nghị của hai Đảng, hai Nhà nước, hai dân tộc là cùng thống nhất quan điểm trong việc giải quyết vấn đề Campuchia, cùng đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của Việt Nam trên diễn đàn quốc tế và khu vực
Hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, đào tạo cán bộ:
Trên lĩnh vực kinh tế, hai bên chấp hành nguyên tắc hợp tác là bình đẳng, tôn trọng chủ quyền quốc gia, cùng có lợi và hết lòng giúp đỡ nhau; đồng thời, căn cứ vào tình hình cụ thể của mỗi nước mà dành ưu tiên, ưu đãi cho nhau
Từ sau năm 1975, Việt Nam giúp bạn đào tạo cán bộ đạt trình độ đại học và trên đại học Theo đó, hàng năm có hơn 1.000 cán bộ, sinh viên Lào được bồi dưỡng, học tập tại nhiều học viện, trường đại học Việt Nam Về phía Việt Nam, hàng năm có từ 15-20 lưu học sinh sang học tại đại học Quốc gia Lào
Hợp tác giữa các địa phương và ngoại giao nhân dân
Đi đôi với mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước, các bộ, ngành Trung ương, còn có mối quan hệ kết nghĩa giữa toàn bộ các tỉnh có chung đường biên giới cũng như các tỉnh không có chung biên giới giữa hai nước với nhau Các địa phương đã phối hợp chặt chẽ về trao đổi đoàn tham quan, cùng giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cũng như cùng tháo gỡ những khó khăn giữa hai nước Các Hội hữu nghị Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam tại Lào đã có nhiều đóng góp đáng kể trong vai trò làm cầu nối quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam
Tình đoàn kết, sự phối hợp chiến đấu giữa Quảng Trị và Savẳnnakhệt, Xalavăn trong chống Mỹ cứu nước được thể hiện trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, nhưng sự kiện lớn nhất đã đi vào lịch sử dân tộc đó là sự cưu mang, đùm bọc, giúp nhau chỗ đứng chân, xây dựng hậu cứ, đảm bảo huyết mạch giao thông trên tuyến đường 559 - con đường vận tải chiến lược Bắc - Nam Sự kiện đó đã đi vào lịch sử dân tộc như một thiên anh hùng ca tuyệt đẹp, góp phần quan trọng làm nên chiến thắng vang dội, kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
* NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC VỀ TÌNH ĐOÀN KẾT, HỮU NGHỊ GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM- LÀO TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN
Trang 6TỘC TRƯỚC ĐÂY CŨNG NHƯ TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC NGÀY NAY
Từ khi Đảng Nhân dân cách mạng Lào được thành lập năm 1955, dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam càng được phát huy mạnh mẽ và biểu hiện hết sức sinh động trên tất cả các lĩnh vực, không ngừng nâng cao theo sự phát triển của phong trào cách mạng của hai nước Trong những lúc cam go, gian khổ nhất, cán
bộ, đảng viên, quân và dân hai dân tộc vẫn sát cánh bên nhau với nghĩa tình “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng chung và vì nền độc lập tự do của mỗi nước Trong giai đoạn hoà bình với nhiều điều kiện thuận lợi, hai dân tộc cũng không ngừng vun đắp mối quan hệ đoàn kết, thủy chung, son sắt để cùng nhau tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
* MỘT SỐ BIỂU HIỆN SINH ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ ĐOÀN KẾT, GẮN BÓ, THỦY CHUNG SON SẮT CỦA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM QUA
Bài dự thi này xin nêu một số biểu hiện sinh động của mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, thủy chung son sắt của hai dân tộc Việt Nam - Lào dưới sự lãnh đạo của hai đảng, hai nhà nước trong những năm qua:
1 Dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, quân dân các dân tộc Việt Nam - Lào đoàn kết bên nhau, chung sức, chung lòng đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
2 Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là biểu hiện vô cùng sinh động mối quan hệ đoàn kết, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
Để có con đường chiến lược với hơn 20.000km, các chiến sĩ, lực lượng thanh niên xung phong và nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Lào đã đổ bao mồ hôi, xương máu, của cải và hàng ngàn người đã ngã xuống để xây dựng, bảo vệ và vận chuyển hàng hóa, nhân lực phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ của hai nước Việt - Lào
Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết chiến đấu, mối quan hệ thủy chung son sắt của hai dân tộc Việt - Lào trong trường kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc
3 Quan hệ hữu nghị đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam càng phát triển sống động trong giai đoạn hoà bình, xây dựng đất nước phồn vinh, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc
Trong thời kỳ mới, hai Đảng, hai Nhà nước đều nhận thức rõ việc củng cố, mở rộng và phát triển một cách toàn diện mối quan hệ Việt Nam - Lào là yêu cầu tất yếu Vì vậy, hai nước nhanh chóng đi đến ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác vào tháng 7-1977, đặt cơ sở pháp lý vững chắc, lâu dài cho quan hệ hai nước trong thời kỳ mới Trên tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, quan hệ Việt Nam - Lào nhanh chóng được triển khai thông qua các
tổ chức đoàn thể nhân dân và các ban, ngành, địa phương với nhiều hình thức sáng tạo, phong phú, phù hợp với đặc điểm của từng ngành, từng địa phương Ngành thông tin, tuyên truyền, báo chí xuất bản của hai nước tăng cường các hoạt động tuyên truyền nhân những ngày lễ trọng đại của hai dân tộc làm cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng, nội dung mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào trong giai đoạn mới của cách mạng
Đặc biệt mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các tỉnh ngày càng thắt chặt phát triển thành quan hệ kết nghĩa; không chỉ dừng lại ở 10 tỉnh có đường biên giới chung mà còn mở rộng ra các tỉnh, thành phố khác như thủ đô Hà Nội với Viêng Chăn Tại các tỉnh có đường biên giới chung, quan hệ kết nghĩa phát triển đến tận cơ sở, đó là kết nghĩa huyện với huyện, bản với bản trên cơ sở phát huy và duy trì mối quan hệ đoàn kết, hợp tác truyền thống láng giềng tốt đẹp,
Trang 7bảo đảm an ninh xã hội vùng biên, giải quyết tốt những vấn đề nảy sinh, chủ động phối hợp tìm kiếm hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam trên đất Lào…
* NHỮNG KINH NGHIỆM QUÝ BÁU VỀ VIỆC GÌN GIỮ, CỦNG CỐ, PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO
Để gìn giữ, củng cố và phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam Lào, Lào -Việt Nam theo tôi có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây cần phải được phát huy:
Một là: Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào được tạo dựng trên cơ sở xác định đúng đắn những quan điểm lý luận về mối quan hệ dân tộc và quốc tế trong thời đại mới nhằm thực hiện nhiệm vụ cách mạng do hai nước xác lập
Hai là: Cả hai dân tộc Việt Nam và Lào đều phải quán triệt và thực hiện tốt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “ Giúp bạn là mình tự giúp mình”
Ba là: Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng nhân dân cách mạng Lào phải luôn coi trọng thực hiện nguyên tắc tôn trọng quyền độc lập, tự chủ, bình đẳng và dân chủ của hai bên
Bốn là: Để việc gìn giữ, củng cố, phát huy truyền thống hữu nghị đặc biệt Việt Nam – Lào ngày càng tốt đẹp, hai Đảng, hai Nhà Nước cần thường xuyên thông báo cho nhau về tình hình mỗi Ðảng, mỗi nước
* TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO - VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ CỦA HAI DÂN TỘC
VÀ TRÊN NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN MỚI
Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là quan hệ đặc biệt quy định sự sống, còn của hai dân tộc trong lịch sử cũng như trên những chặng đường phát triển mới Các điều kiện tự
nhiên, địa chiến lược, địa quân sự là một trong những yếu tố chi phối quan hệ Việt Nam -Lào, Lào - Việt Nam Các yếu tố đó đặt ra yêu cầu tất yếu về sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai dân tộc trong lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam và Lào nằm
ở trung tâm bán đảo Ấn - Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa Trong phạm vi bán đảo Đông Dương Việt Nam nằm ở phía đông Trường Sơn như một bao lơn nhìn ra biển; Lào nằm ở sườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào đất liền của bán đảo Như vậy dãy Trường Sơn được ví như cột sống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiên trên đất liền giữa Việt nam và Lào Địa hình tự nhiên đã quy định hệ thống giao thông ở Việt Nam và Lào cùng chạy dài theo trục Bắc -Nam; ở Việt Nam là trục quốc lộ 1A và ở Lào là trục quốc lộ 13 Về mặt tự nhiên bên cạnh con đường 13 nối Pạc Xê - Thành Phố Hồ Chí Minh Lào có thể thông thương ra biển gần nhất bằng
hệ thống đường xương cá chạy ngang trên lãnh thổ hai nước đó là đường 6 Sầm Nưa – Thanh Hoá, đường 7 Xiêng Khoảng - Nghệ An, đường 8 Khăm Muộn - Hà Tĩnh, đường 9 Xavẳnnakhệt - Đông Hà, đường 12 Khăm Muộn - Quảng Bình
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là tài sản vô giá, là quy luật giành thắng lợi của hai dân tộc Quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là mối quan hệ giữa hai dân tộc cùng chung lý tưởng chiến đấu Đảng cộng sản Việt Nam - tiền thân của Đảng cộng sản Đông Dương thành lập, đánh dấu việc thiết lập quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Việt Nam, Lào, Cao Miên tuy là ba nước nhưng đều nằm trong một xứ, đều bị thực dân Pháp thống trị và áp bức Giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức trong ba nước muốn đánh đổ thực dân Pháp, giành lại độc lập, đánh đổ chế độ phong kiến để giải phóng cho mình
Trang 8thì không thể đấu tranh riêng lẽ được Ngay sau khi hợp nhất ba tổ chức cộng sản và lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng đã thông qua các văn kiện “Chánh cương vắn tắt của Đảng”,
“Sách lược vắn tắt của Đảng” “ Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng” “Sách lược vắn tắt” và “ Chương trình tóm tắt” chứa đựng tinh thần yêu nước chân chính kết hợp với tinh thần quốc tế trong sáng, được thể hiện ở chỗ trong khi tuyên truyền khẩu hiệu An Nam độc lập, đồng thời cũng tuyên truyền và xây dựng quan hệ đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấp
vô sản thế giới Với những văn kiện đó, nhất là “Luận cương chánh trị” của Đảng cộng sản Đông Dương sau đó đã xác định cụ thể, toàn diện về mặt lý luận cho mối quan hệ giữa phong trào cách mạng Việt nam và phong trào cách mạng Lào, đặt phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng Lào với các tổ chức Đảng trong các xứ Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam Kỳ, Ai lao, Cao Miên dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương
Đối với nhân dân hai nước Việt Nam và Lào, quan hệ đặc biệt được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruột thịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm đến chừng nào cũng không
thể chia tách được Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Việt - Lào hai nước chúng ta Tình sâu như nước Hồng Hà, Cửu Long” Chủ tịch Kaysone Phomvihane khẳng định: “ Trong lịch sử cách mạng thế giới cũng đã có những tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt lâu dài toàn diện như vậy”
Một lần nữa chúng ta khẳng định một điều rằng, giữ gìn và phát huy mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Bởi lẽ, đó là mối quan hệ đặc biệt được hai Đảng, hai Nước và nhân dân hai dân tộc thường xuyên trân trọng, vun đắp và gìn giữ qua các thời kỳ cách mạng Chúng ta tin tưởng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của hai Đảng, nhân dân hai Nước sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng cũng như kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của mình.
* NHỮNG CẢM NGHĨ VỀ NỀN VĂN HOÁ, VỀ ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI LÀO
1 Đất nước và con người Lào
Nước Lào có tổng diện tích 236.800 km2, có đường biên giới giáp 5 nước: Phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây bắc giáp My-an-ma, phía tây giáp Thái Lan, phía nam giáp Căm-Pu-Chia
và phía đông giáp Việt Nam Lào có 17 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, trong đó có 10 tỉnh chung đường biên giới với Việt Nam với chiều dài 2067 km (Riêng đường biên giới chung với Quảng Trị là 206 km, gồm 2 tỉnh Savằnnkhet và Salavan)
Rừng núi chiếm 3/4 diện tích, có nhiều lâm sản, động vật và khoáng sản quý hiếm Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Có dòng Mê-công chảy từ bắc xuống nam dài 1865 km Có núi Phu-bia cao 2820m so với mặt nước biển, là đỉnh cao nhất nước Lào Có cố đô Luông-pha-ra-băng là di sản văn hoá thế giới, hàng năm thu hút rất nhiều khách du lịch
Sau hơn 30 năm ròng rã đấu tranh, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân Lào đã kết thúc thắng lợi trọn vẹn Việc khai sinh nước Cộng hoà
Trang 9Dân chủ Nhân dân Lào (02/12/1975) đã kết thúc vẻ vang cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các bộ tộc Lào kéo dài suốt 197 năm kể từ khi phong kiến Xiêm đặt ách thống trị Lào vào năm 1778 Đây là một thắng lợi oanh liệt nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của nhân dân các bộ tộc Lào Với thắng lợi này, nhân dân các bộ tộc Lào bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, hòa bình và tiến bộ
2 Nền văn hoá Lào:
Nước Lào, trước đây còn gọi là Vương quốc Lạn Xạng, “Lạn” tiếng Lào là triệu, “xạng”
là voi Lạn Xạng có nghĩa là “Triệu Voi” Được mệnh danh là “Miền đất Triệu voi”- Lào nằm ở nơi giao hội của hai nền văn minh vĩ đại và hùng mạnh nhất châu Á là Ấn Độ và Trung Hoa, người dân Lào đã hấp thụ những phong tục và tín ngưỡng của hai nền văn minh ấy để hình thành nên một nền văn hóa đặc sắc của riêng mình hết sức độc đáo
Nền văn hóa Lào là nền văn hóa Phật giáo Đạo Phật đã ăn sâu vào tư tưởng của người Lào, ảnh hưởng này được phản ánh trong ngôn ngữ và nghệ thuật, tạo nên một dân tộc Lào rất riêng
Lào là đất nước của bốn mùa lễ hội
Lào có tết cổ truyền Bunpimay (có nghĩa là mừng năm mới), hay còn gọi là Tết té nước diễn ra từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 4 hàng năm Vì đạo phật ở Lào có tự lâu đời phát triển mạnh trở thành quốc đạo, các nhà chiêm tinh học tính ngày tháng theo phật lịch, nên năm mới
hàng năm bắt đầu vào tháng tư dương lịch Người Lào gọi tết là vui tết chứ không gọi là ăn tết,
tất cả các cuộc vui được chuẩn bị theo truyền thống tôn giáo, phù hợp với phong tục tập quán của người Lào
Âm nhạc của Lào ảnh hưởng lớn của các nhạc cụ dân tộc như khèn (một dạng của ống tre Một dàn nhạc điển hình bao gồm người thổi khèn cùng với biểu diễn múa bởi nghệ sĩ khác
Múa Lăm vông (Lam saravane) là thể loại phổ biến nhất của âm nhạc Lào, những người Lào ở Thái Lan đã phát triển và phổ biến rộng rãi trên thế giới gọi là mor lam sing Khi được mời
cùng múa Lăm Vông với người khác giới, hai người đi song song nhưng không va chạm vào người phụ nữ
Phong tục ăn mặc ở Lào, phụ nữ phải mặc “Phaa sin”, một kiểu váy dài có các mảng hoa văn đặc trưng, mặc dù nhóm các bộ tộc thường có trang phục riêng của họ Đàn ông thì mặc
“phaa biang sash” vào những dịp lễ hội Ngày nay phụ nữ thường mặc trang phục kiểu phương Tây, nhưng “phaa sin” vẫn là trang phục bắt buộc
Đất nước Lào có nhiều công trình lịch sử văn hoá, có thiên nhiên tươi đẹp, có nhiều cảnh quan kỳ thú như Thạt Luổng (Viêng Chăn), cố đô Luông Phra-băng (di sản văn hoá thế giới), chùa Vạtxixun (Luông pha băng), Núi phú Xỉ, Cánh Đồng Chum huyền bí (Xiêng Khoảng), thác Khôn, thác Quang Xi, Hang Thẳm tình.v.v
Đất nước, con người và nền văn hoá Lào quả là đang mang trong mình nguốn sức mạnh
vô biên, ẩn chứa biết bao điều kỳ diệu, đó chính là tiềm năng và là nguồn nội lực to lớn Tiềm năng và nguồn lực to lớn đó đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào trân trọng, giữ gìn, bồi đắp và phát huy trong thời đại mới, thời đại hội nhập và phát triển
Trang 10* CẦN LÀM GÌ ĐỂ GÌN GIỮ, PHÁT HUY TÌNH CẢM HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM- LÀO
Để tăng cường hợp tác toàn diện, đưa quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam lên tầm cao mới cần bổ sung và điều chỉnh cơ chế, chính sách, chương trình và tổ chức chỉ đạo hợp tác cho phù hợp với thực tế và những đòi hỏi mới của sự hợp tác toàn diện giữa hai nước Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay và những năm tới, càng cần phải đẩy nhanh việc điều chỉnh kịp thời, linh hoạt các nội dung đã thỏa thuận bằng các văn bản hợp tác nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, đơn vị hợp tác thực hiện có hiệu quả những mục tiêu chiến lược hợp tác đã đặt ra
Thường xuyên phối hợp và cụ thể hóa quan điểm về quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào
- Việt Nam trên tinh thần các tuyên bố chung và thỏa thuận cấp cao giữa lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước vào các nội dung hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước
- Tiếp tục đầu tư và phát huy những tiềm năng, lợi thế của hai nước nhằm bổ sung nguồn lực cho nhau, phù hợp với mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước theo từng giai đoạn, góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Lào trong 10 năm tới, đưa nước Lào thoát khỏi nước kém phát triển vào năm 2020
- Tăng cường và nâng cao vai trò hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa các bộ, ngành, tổ chức, địa phương và doanh nghiệp hai nước Gắn phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, đặc biệt là các địa phương có chung đường biên giới nhằm phát triển các địa phương khu vực biên giới trở thành hậu phương chiến lược vững chắc, ổn định, hòa bình, hữu nghị, hợp tác lâu dài, tạo sự gắn bó, tin tưởng lẫn nhau lâu dài…
Trên cơ sở những kết quả to lớn của sự hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam những năm qua, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước thống nhất đặt ưu tiên cao nhất cùng
phấn đấu nâng quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam lên tầm cao mới, theo phương châm chất lượng và hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, tăng trưởng kinh tế
bền vững, hội nhập ngày càng sâu rộng và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế Tăng cường tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú, hiệu quả và thiết thực về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân hai nước, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên hôm nay và mai sau
* TẠI SAO HAI NƯỚC VIỆT NAM – LÀO PHẢI YÊU THƯƠNG GẮN BÓ CHẶT CHẺ VỚI NHAU
Hai nước Việt Nam - Lào có lịch sử gắn bó rất lâu đời với nhau trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc Trong chiều dài lịch sử ấy, nhân dân hai nước đã “chung lưng đấu cật” để xây dựng mỗi nước phát triển Là hai nước láng giềng có nhiều nét tương đồng
về văn hóa, Việt Nam và Lào đã chung tay viết nên những trang sử hào hùng của hai dân tộc Mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời Việt Nam - Lào bắt nguồn từ tình cảm láng giềng thân thiết, sự gắn bó keo sơn giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào đã trải qua muôn vàn thử thách, được nhiều thế hệ lãnh đạo hai Đảng và nhân dân hai nước, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản kính mến trực tiếp gây dựng nền móng, được các thế hệ lãnh đạo kế tục của hai Đảng, hai nước, cùng nhân dân hai nước quý