Vẽ sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó xác định thẩm quyền ban hành pháp luật của các cơ quan nhà nước trong bộ máynhà nước.
Trang 1Vẽ sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ đó xác định thẩm quyền ban hành pháp luật của các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước
Bài làm:
Mở đầu
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước pháp quyền Pháp luật được Nhà nước ban hành thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước ta luôn coi xây dựng pháp luật là một hoạt động cơ bản và quan trọng hàng đầu
Vì thế, bài tiểu luận này muốn xác định và phân tích sơ bộ về vấn đề thẩm quyền ban hành pháp luật của các cơ quan nhà nước thông qua việc biểu thị trực quan hình ảnh sơ đồ bộ máy nhà nước Việt Nam
Nội dung
I Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam
Cái này cứ vẽ sơ đồ bộ máy nhà nước Việt Nam như slide ở trên lớp hoặc trong giáo trình là được
II Thẩm quyền ban hành pháp luật của các cơ quan nhà nước trong bộ
máy nhà nước Việt Nam.
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành pháp luật thông qua các văn bản quy phạm pháp luật Xét về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước được xem xét ở 2 góc độ: thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung
1 Thẩm quyền về hình thức:
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước hiện nay bao gồm:
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Nghị định của Chính phủ;
Lệnh, quyết định của chủ tịch nước;
Quyết định của thủ tướng chính phủ;
Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thông tư của
bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ;
Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hộ hoặc giữa Chính phủ với các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội;
Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
Trang 2ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
2 Thẩm quyền về nội dung: là giới hạn quyền lực của các chủ thể trong
quá trình giải quyết công việc do pháp luật quy định Về thực chất, đó là
“giới hạn của việc sử dụng quyền lực nhà nước mà pháp luật thực định đã đặt ra đối với từng cơ quan trong bộ máy nhà nước về mỗi loại công việc nhất định.” Cụ thể như sau:
Quốc hội: Hiến pháp nước ta quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, do đó, Quốc hội là cơ quan duy nhất
có quyền lập hiến và lập pháp Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, là cơ sở của hệ thống pháp luật Hiến pháp quy định những vấn đề
cơ bản về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phong, hình thức và bản chất của nhà nước Bên cạnh quyền thông qua luật và sửa đổi luật Luật quy định về những vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân Ngoài ra, Quốc hội còn có quyền quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; các vấn đề về ngân sách nhà nước,…
Ủy ban thường vụ Quốc hội: Với vai trò là cơ quan thường trực của
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có một vị trí rất quan trọng trong
bộ máy nhà nước Theo quy định của pháp luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội được trao quyền ban hành hai loại văn bản là Pháp lệnh và Nghị quyết Pháp lệnh được ban hành để quy định những vấn đề được Quốc hộ giao, sau một thời gian thực hiện sẽ trình Quốc hội xem xét và quyết định ban hành thành luật Bên cạnh đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội còn ban hành Nghị quyết để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa phương…
Chính phủ: Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật 2008, số lượng các loại văn bản quy phạm pháp luật có sự thay đổi theo hướng thu hẹp lại so với quy định trước đây Do đó, để đảm bảo thẩm quyền của các chủ thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật cũng được mở rộng hơn Theo quy định tại Điều 14, Luật Ban hành văn bản pháp luật 2008, Nghị định của
Trang 3Chính phủ được ban hành để quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước Nghị định quy định nhiệm vụ, quyền hàn, tổ chức
bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các
cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ Nghị định của Chính phủ còn quy định những vấn đề thuộc Nghị quyết trước đây: những biện pháp
cụ thể để thực hiện chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ cán bộ, công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân,… Khi có những vấn đề phát sinh cần thiết phải giải quyết nhưng chưa được luật hoặc pháp lệnh quy định thì Chính phủ có thể ban hành Nghị định để giải quyết vấn đề đó
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Trong hệ thống cơ
quan tư pháp, chỉ có Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là có thẩm quyền độc lập trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật Nội dung Nghị quyết do Hội đồng thẩm phán Tòa an nhân dân tối cao ban hành theo quy định của pháp luật hiện nay đã thu hẹp hơn, không còn nội dung tổng kết kinh nghiệm xét xử mà Nghị quyết được ban hành chỉ nhằm hướng dẫn các Tòa án thống nhất áp dụng pháp luật
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Trong hệ thống cơ
quan tư pháp, chỉ có Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là có thẩm quyền độc lập trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật Nghị quyết do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành theo quy định của pháp luật hiện nay đã thu hẹp hơn, không còn nội dung tổng kết kinh nghiệm xét xử mà Nghị quyết được ban hành chỉ nhằm hướng dẫn các Tòa án thống nhất áp dụng pháp luật
Các văn bản liên tịch: Để hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện
một cách hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội, đặc biệt là trong việc giải quyết các vấn đề liên quan tới nhiều bộ, ngành đòi hỏi sự phối hợp của các cơ quan trong việc cban hành các văn bản quy phạm pháp luật Nghị quyết liên tịch được ban hành bởi ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với các cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị
- xã hội nhằm hướng dẫn thi hành những vấn đề khi tổ chức chính trị - xã hội đó tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước Thông tư liên tịch là văn bản được ban hành giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
Trang 4kiểm sát nhân dân tối cao để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó
Lời kết
Về cơ bản, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là 1 nhà nước Pháp quyền với Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, thể hiện ở việc ban hành Hiến Pháp, Luật pháp, thảo luận, quyết định các vấn đề của quốc gia trong nhiều lĩnh vực Bài luận tập trung vào xác định thẩm quyền của các cơ quan ban hành luật pháp tuy nhiên do thời lượng hạn hẹp nên không thể đi sâu phân tích mà chỉ có thể là 1 bài luận sơ bộ Trong quá trình tổng hợp phân tích đưa ra luận điểm ý kiến không tránh khỏi thiếu sót, rất mong được thầy cô và các bạn bổ sung
Bài tiểu luận có sử dụng tài liệu tham khảo từ
-Giáo trình Pháp luật đại cương, nxb ĐHBK Hà Nội
-Giáo trình Lý luận, nxb Chính trị quốc gia sự thật