1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Pho Co Hoi An

31 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 18,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ riêng trong khu vực thành phố Hội An đã phát hiện được hơn 50 địa điểm là di tích của nền văn hóa này, phần lớn tập trung ở những cồn cát ven sông Thu Bồn cũ.. [8] Đặc biệt, sự p[r]

Trang 1

PHỐ CỔ HỘI AN

NHÓM: 26  30

Trang 2

TÊN GỌI

Trang 3

Tên gọi Hội An ngày nay được hình thành từ rất lâu trong lịch

sử, nhưng thật khó có thể xác định chính xác thời điểm ra đời của nó Theo tác giả Dương Văn An trong cuốn sách

Ô Châu cận lục, vào năm 1553, huyện Điện Bàn có 66 xã, trong

đó có các xã Hoài Phô, Cẩm Phô, Lai Nghi, nhưng chưa thấy cái

tên Hội An được ghi lại Dưới thời Lê, tấm bản đồ do đại thần Đỗ

Bá vẽ in trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ có ghi lần đầu tiên các địa danh Hội An phố, Hội An đàm, Hội An kiều Trên tấm bia Phổ Đà

Linh Sơn Trung Phật tại động Hoa Nghiêm, Ngũ Hành Sơn ghi tên những người góp tiền xây dựng chùa, tên làng Hội An được nhắc tới ba lần Thời chúa Nguyễn Phúc Lan, làng Minh Hương được thành lập bên cạnh làng Hội An đã có trước đó Căn cứ vào văn bản của dinh trấn Quảng Nam thời Minh Mạng gửi trưởng bang Hoa kiều, Hội An phố gồm 6 làng: Hội An, Minh Hương, Cổ Trai, Đông An, Diêm Hộ, Hoa Phô Nhà nghiên cứu người Pháp Albert Sallet cho rằng làng Hội An là làng quan trọng nhất trong năm làng tạo nên quần cư Hội An cổ, gồm Hội An, Cẩm Phô, Phong Niên, Minh Hương và An Thọ.[2]

Trang 4

Người phương Tây xưa kia gọi Hội An bằng cái tên Faifo Xuất xứ

của cái tên này ngày nay vẫn tồn tại nhiều giả thuyết Trong cuốn

Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes in tại Roma năm

1651, chữ Hoài phô được định nghĩa: một làng trong xứ

Cochinchine mà người Nhật ở và gọi là Faifo.[3] Một giả thuyết

phổ biến cho rằng Faifo xuất phát từ tên Hội An phố, cái tên sử

sách và địa chí Trung, Việt đều nhắc tới Theo một thuyết khác, sông Thu Bồn trước kia có tên là sông Hoài, nên Hội An còn được gọi là Hoài Phố, sau Hoài Phố biến thành Phai Phố, từ đó xuất

hiện cái tên Faifo.[4] Trong những thư từ, ghi chép của những

giáo sĩ, học giả phương Tây, những cái tên Faifo, Faifoo, Fayfoo,

Faiso, Facfo từng xuất hiện nhiều lần Alexandre de Rhodes

trong bản đồ An Nam gồm Đàng Trong và Đàng Ngoài ấn hành

năm 1651 có ghi rõ tên Haifo Về sau, trên bản đồ chính thức của

chính quyền Đông Dương, người Pháp đều sử dụng tên Faifo để chỉ Hội An.[5]

Trang 5

LỊCH SỬ

Trang 6

Khu đô thị cổ Hội An nằm gần cửa sông Thu Bồn , con sông lớn

nhất của tỉnh Quảng Nam Mặc dù vậy, ngày nay từ trung tâm thành phố tới đến cửa sông cũng không còn gần lắm Hạ lưu sông Thu Bồn khi đổ ra biển Đông được chia thành nhiều nhánh Nhánh tiếp xúc với khu phố cổ mang tên sông Hội An, còn dòng chảy giữa hai cồn Cẩm Nam và Cẩm Kim là dòng chính của sông Thu Bồn [6] Trên

những bản đồ cổ thế kỷ 17, 18, Hội An nằm trên bờ Bắc của sông Thu Bồn, thông với biển Đông bẳng cửa Đại Chiêm và một dòng

sông nối với cửa Đại của Đà Nẵng, phía ngoài là một doi cát rộng Dấu vết dòng sông nối liền Hội An với biển Cửa Hàn có thể xác định

là con sông Cổ Cò - Đế Võng ngày nay Trên thủy trình cổ này đã từng tìm thấy nhiều lô tàu, mỏ neo bị chôn vùi trong lòng đất [7]

Trang 7

Tuy địa danh "Hội An" được cho rằng xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 16, nhưng vùng đất xung quanh đô thị này đã có một lịch

sử rất lâu đời Trong suốt thời kỳ "tiền Hội An", nơi đây từng tồn tại hai nền văn hóa lớn, đó là văn hóa Sa Huỳnh và

văn hóa Chăm Pa Di chỉ đầu tiên của văn hóa Sa Huỳnh là phố Sa huỳnh ở Quảng Ngãi bị cát vùi lấp, được các nhà khảo cổ người Pháp phát hiện Năm 1937, nữ học giả Madeleine Colani chính thức xác nhận đây là một nền văn hóa Chỉ riêng trong khu vực thành phố Hội An đã phát hiện được hơn 50 địa điểm là di tích của nền văn hóa này, phần lớn tập trung ở những cồn cát ven

sông Thu Bồn cũ.[8] Đặc biệt, sự phát hiện hai loại tiền đồng

Trung Quốc thời Hán, những hiện vật sắt kiểu Tây Hán đã minh chứng ngay từ đầu Công nguyên, nơi đây đã bắt đầu có những giao dịch ngoại thương.[9] Một đặc điểm khác có thể nhận thấy là khu vực Hội An không có những dấu tích của thời kỳ đầu và giữa,

[10] nhưng mảnh đất nơi đây đã từng tồn tại và có sự phát triển rực rỡ nền văn hóa Sa Huỳnh muộn.[9]

Trang 8

Tiếp sau nền văn hóa Sa Huỳnh, suốt từ thế kỷ 2 đến đến thế kỷ 15 , một dải đất miền trung Việt Nam nằm dưới sự thống trị của vương quốc Chăm Pa Những di tích đặc trưng của nền văn hóa này là các nhóm điện thờ đạo Hindu phân bổ dọc từ miền Trung tới miền Nam, và một trong những trung tâm đó nằm ở lưu vực con sông Thu Bồn Ở đây, có thể thấy một thủ phủ mang tính chính trị tại Trà Kiệu và một trung trung tâm mang tính tôn giáo nằm tại

Mỹ Sơn [11] Những dấu tích đền tháp Chăm còn lại, những giếng nước Chăm, những pho tượng Chăm, những di vật của người Đại Việt, Trung Hoa, Trung Đông thế kỷ 2 - 14 làm sáng tỏ giả thuyết nơi đây từng có một Lâm Ấp Phố với một cảng biển là Đại Chiêm phát triển hưng thịnh Nhiều thư tịch cổ ghi nhận trong một thời gian khá dài, Chiêm cảng - Lâm Ấp Phố đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự phồn vinh của kinh thành Trà Kiệu và khu di tích đền tháp Mỹ Sơn [9] Trải qua nhiều cuộc chiến tranh, vương quốc Chăm Pa bị Đại Việt đẩy dần về phía Nam Năm 1471, thủ phủ cuối cùng của Chăm Pa ở Bầu Giá, Bình Định ngày nay, bị nhà Lê chiếm Vùng đất Hội An trở thành lãnh thổ của Đại Việt từ đó, nhưng phải về sau nơi đây mới phát triển thành một khu vực thương mại Hội An được hình thành dựa trên sự kế thừa cảng biển của người Chăm và người Việt bắt đầu tới đây từ thế kỷ 15 Đó là bước chuẩn

bị trực tiếp cho sự ra đời của đô thị Hội An [11]

Trang 9

BẾN HỘI AN

Trang 10

KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ

Trang 11

KHU PHỐ CỔ

Trang 12

Khu phố cổ nằm trọn trong phường Minh An, diện tích khoảng 2 km², với những con đường ngắn và hẹp, có đoạn uốn lượn, chạy dọc ngang theo kiểu bàn cờ Nằm sát với bờ sông là đường Bạch Đằng, tiếp đó tới đường Nguyễn Thái Học rồi đường Trần Phú nối liền với Nguyễn Thị Minh Khai bởi Chùa Cầu

Do địa hình khu phố nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, các con đường ngang Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hoàng Văn Thụ và Trần Quý Cáp hơi dốc dần lên nếu đi ngược vào phía sâu trong thành phố [32] Đường Trần Phú xưa kia là con đường

chính của thị trấn, nối từ Chùa Cầu tới Hội quán Triều Châu Vào thời

Pháp thuộc, đường này được mang tên Rue du Pont Japonnais, tức Phố cầu

Nhật Bản [33] Ngày nay, đường Trần Phú rộng khoảng 5 mét với nhiều ngôi nhà không có phần hiên, kết quả của lần mở rộng khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế

kỷ 20 [34] Hai con đường Nguyễn Thái Học và Bạch Đằng hình thành muộn hơn, đều do bùn đất bồi lấp Đường Nguyễn Thái Học xuất hiện năm 1840,

sau đó được người Pháp đặt tên là Rue Cantonnais, tức Phố người Quảng

Đông Đường Bạch Đằng ra đời năm 1878, nằm sát bờ sông nên xưa kia từng

có tên gọi là Đường Bờ Sông.[33] Nằm sâu về phía thành phố, tiếp theo đường Trần Phú là đường Phan Chu Trinh, con đường mới được xây dựng thêm vào khoảng thời gian sau này [34] Trong khu phố cổ còn nhiều đường hẻm khác

nằm vuông góc với đường chính kéo dài ra đến tận bờ sông [35]

Đường Trần Phú là con đường chính, nơi tập trung nhiều nhất những công

trình kiến trúc quan trọng, cũng như những ngôi nhà cổ

Trang 13

Điển hình cho kiến trúc Hội An Nổi bật nhất trong số này là các hội quán do

người Hoa xây dựng để tưởng nhớ đến quê hương của họ Nếu bắt đầu từ

Chùa Cầu , sẽ thấy năm hội quán trên đường Trần Phú, tất cả đều bên số chẵn: Hội quán Quảng Đông, Hội quán Trung Hoa, Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Quỳnh Phủ và Hội quán Triều Châu Ở góc đường Trần Phú và Nguyễn Huệ là miếu Quan Công, di tích đặc trưng cho kiến trúc đền miếu của người Minh Hương ở Việt

Nam Ngay sát miếu về phía Bắc, có thể thấy Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa Hội An, nguyên trước đây là ngôi chùa Quan Âm của dân làng Minh Hương Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh và Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch cũng nằm trên con đường này [36]

Theo đường Trần Phú, đi qua Chùa Cầu sẽ dẫn tới đường Nguyễn Thị Minh Khai Những ngôi nhà truyền thống ở đây được tu bổ và bảo tồn rất tốt, phần lối đi bộ hai bên được lát gạch đỏ, phía cuối đường là vị trí của đình Cẩm Phô [37] Phía Tây đường Nguyễn Thái Học có một dãy phố được hình thành bởi những ngôi nhà có kiến trúc mặt tiền kiểu Pháp, còn phần phía Đông là khu phố mua bán nhộn nhịp với những ngôi nhà kiểu hai tầng, diện tích lớn Bảo tàng Văn hóa Dân gian Hội

An nằm ở số 33 của con đường này là ngôi nhà cổ lớn nhất khu phố cổ, có chiều dài 57 mét, chiều ngang 9 mét Trong mùa mưa bão, đường Nguyễn Thái Học và khu vực xung quanh thường bị ngập lụt, dân cư phải sử dụng thuyền để đi mua sắm và đến các quán ăn [38] Khu phố phía Đông phố cổ từng là khu phố của

người Pháp Trên đường Phan Bội Châu, dãy phố phía Tây được xây dựng san sát những ngôi nhà với mặt đứng kiểu châu Âu, đa số một tầng Nơi đây từng là nhà ở của các công chức dưới thời Pháp thuộc [39]

Trang 14

KIẾN TRÚC TRUYỀN THỐNG

Trang 15

Kiểu nhà ở phổ biến nhất ở Hội An chính là những ngôi nhà phố một hoặc hai tầng với đặc trưng chiều ngang hẹp, chiều sâu rất dài tạo nên kiểu nhà hình ống Những vật liệu chính dùng để xây dựng nhà ở đây đều có sức chịu lực và độ bền cao do đặc điểm khí hậu khắc nghiệt và bão lụt hàng năm của vùng này Thông

thường, các ngôi nhà có kết cấu kiểu nhà khung gỗ, hai bên có tường gạch ngăn cách Khuôn viên trung bình của các ngôi nhà

có chiều ngang khoảng 4 đến 8 mét, chiều sâu khoảng 10 đến 40 mét, biến thiên theo từng tuyến phố Bố cục mặt bằng phổ biến của những ngôi nhà ở đây gồm: vỉa hè, hiên, nhà chính, nhà phụ, hiên, nhà cầu và sân trong, hiên, nhà sau ba gian, vườn sau.[40]

Thực chất, nhà phố ở Hội An bao gồm nhiều nếp nhà bố trí theo chiều sâu và cấu thành không gian kiến trúc gồm 3 phần: không gian buôn bán, không gian sinh hoạt và không gian thờ cúng.[41]

Cách phân chia này phù hợp với mặt bằng hẹp và kết hợp nhiều công năng của ngôi nhà Có thể nhận thấy đây là một sản phẩm kiến trúc mang tính văn hóa khu vực.[42]

Trang 16

MỘT GÔI NHÀ HAI TẦNG

CÓ VÁCH GỖ BAN CÔNG

Trang 17

VĂN HÓA

Trang 18

So với các đô thị khác của Việt Nam, Hội An có những đặc điểm lịch sử và địa lý nhân văn rất riêng biệt Mảnh đất nơi đây có một lịch sử lâu đời và là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều nền văn hóa Đặc điểm đầu tiên có thể nhận thấy ở văn hóa Hội An chính là tính đa dạng Những người Việt vào cư trú ở Hội An từ cuối thế

kỷ 15 chung sống hòa bình với bộ phận dân cư người Chăm vẫn định cư rất lâu từ trước đó Khi Hội An trở thành thương cảng quốc tế sầm uất, nơi đây đã tiếp nhận nhiều cư dân mới đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau.[83] Điều này giúp cho Hội An có

được một nền văn hóa nhiều tầng, nhiều lớp và đa dạng, thể

hiện ở tất cả các hình thái văn hóa phi vật thể như phong tục tập quán, văn học dân gian, ẩm thực, lễ hội Một đặc điểm nổi bật khác của văn hóa Hội An là tính bình dân Khác với Huế, kinh

thành cũ, nơi nhiều di sản văn hóa mang tính chất cung đình, hệ thống di tích của Hội An là những thiết chế văn hóa cổ truyền

của cuộc sống đời thường.[84] Ở Hội An, văn hóa phi vật thể vẫn đang sống và tương thích với hình thái văn hóa vật thể.[85]

Trang 19

TÍN NGƯỠNG

Trang 20

Tại Hội An, bên cạnh tục thờ cúng gia tiên , những người dân còn có tục thờ Ngũ tự gia đường Theo quan niệm ở đây, nước có vua nhà có chủ, thần chủ nhà chính là Ngũ tự gia đường Phần đông ý kiến cho rằng Ngũ tự gia đường

là năm vị thần trong coi cai quản và sắp đặt vận mệnh cho một gia đình, gồm thần Bếp, thần Giếng, thần Cổng, Tiên sư bổn mạng và Cửu thiên huyền Với một số ít người Hoa, Ngũ tự gia đường gồm năm vị thần Táo quân, Môn thần,

Hộ thần, Tỉnh thần và Trung Lưu thần Khám thờ Ngũ tự gia đường được đặt trang trọng ngay giữa nhà, trên bàn thờ gia tiên [86] Thực tế, trong các ngôi nhà ở Hội An, ngoài khám thờ chung, mỗi vị thần trong Ngũ tự gia đường lại

có nơi thắp hương riêng, như thần Táo được thờ ở bếp, thần Cổng được thắp nhang nơi cổng, thần Giếng có ban thờ gần giếng Đặc biệt, trong các gia

đình người Hoa, thay vì thờ Táo Quân trong bếp, họ lại đặt khám thờ Táo

Quân ở không gian sân trời, bên cạnh khám thờ thần Thiên quan tứ phước [86]

Về tôn giáo, có thể thấy ở Hội An tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau như

Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài nhưng Phật giáo vẫn chiếm đa

số nhất Nhiều gia đình ở Hội An không theo Phật giáo những vẫn thờ Phật và

ăn chay Những vị phật được thờ chủ yếu là Phật Bà Quan Âm và

Thích Ca Mâu Ni , một số gia đình còn thờ Tam thế phật, gồm Thích Ca Mâu Ni

và hai vị Quân Âm Bồ Tát, Thế Chí Bồ Tát Trong mỗi nhà, khám thờ Phật được đặt nơi trang nghiêm, thanh tịnh, thường cao hơn ban thờ gia tiên một bậc Thậm chí có những gia đình dành riêng một gian rộng để thờ Phật và làm nơi tụng niệm [87]

Trang 21

TÍN NGƯỠNG

Trang 22

1 SỐ HÌNH ẢNH

Trang 30

PHIM PHỐ CỔ HỘI AN

Trang 31

CÁM ƠN QUÝ THẦY CÔ VÀ CÁC BẠN

ĐÃ LẮNG NGHE!

Ngày đăng: 24/05/2021, 08:40

w