Đối tượng nghiên cứu của Thống kê kinh tế là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng kinh tế - xã hội số lớn diễn ra trong toàn bộ quá trình tái sản xuất xã
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2017
THS NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG THS VÕ THỊ HẢI HIỀN
THèNG K£ KINH TÕ
Trang 2THS NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG, THS VÕ THỊ HẢI HIỀN
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thống kê kinh tế là một trong những bộ phận quan trọng nhất, cấu thành khoa học thống kê, đồng thời cũng là một trong các hoạt động chính của cơ quan thống kê quốc gia với chức năng đảm bảo thông tin cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức và doanh nghiệp cũng như toàn xã hội
Môn Thống kê kinh tế là môn học trong khung chương trình đào tạo ngành
kế toán và các ngành kinh tế khác của trường Đại học Lâm Nghiệp Nhằm trang
bị cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng cơ bản về thống kê kinh tế trong nền kinh tế
Kết cấu bài giảng gồm 5 chương nhằm phục vụ công tác giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành kế toán và một số ngành kinh tế khác thuộc hệ đào tạo của trường Đại học Lâm Nghiệp
Bài giảng Thống kê kinh tế do tập thể tác giả Bộ môn Tài chính kế toán, biên soạn bao gồm:
- Thạc sỹ Nguyễn Thị Mai Hương biên soạn chương 2, chương 3;
- Thạc sỹ Võ Thị Hải Hiền biên soạn chương 1, chương 4 và chương 5; Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã cố gắng kết hợp cơ sở lý luận gắn liền với thực tiễn để đảm bảo tính thời sự và khoa học.Tuy nhiên không tránh khỏi những hạn chế còn gặp phải Do vậy, tập thể tác giả kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc để lần xuất bản tới Bài giảng được hoàn thiện hơn
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
ICOR Hệ số sinh lời vốn đầu tư
ISIC Hệ thống ngành kinh tế tiêu chuẩn quốc tế
VAT Thuế giá trị gia tăng
VSIS Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
Trang 6Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA THỐNG KÊ KINH TẾ
1.1 Những vấn đề chung về thống kê kinh tế
1.1.1.Vị trí, vai trò của thống kê kinh tế
1.1.1.1.Vị trí của thống kê kinh tế
Sản xuất xã hội phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội loài người Sản xuất càng phát triển thì sự phân công lao động xã hội càng cao, sự hợp tác và liên kết trong sản xuất càng mở rộng Sự hợp tác và liên kết trong sản xuất không chỉ diễn ra giữa các đơn vị kinh tế, các ngành, các địa phương trong nước mà còn mở rộng ra phạm vi thế giới theo các phương thức khác nhau.Trong bối cảnh đó, sự can thiệp và điều tiết của Nhà nước là hết sức quan trọng và cần thiết, nhất là trên bình diện vĩ mô Muốn quản lý và điều tiết của nhà nước nền xã hội, nhất là trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước cần nắm vững được những thông tin kinh tế cần thiết Vì thế, thống kê kinh tế - với tư cách là công cụ để nhận thức và quản lý quá trình sản xuất nói riêng, quản lý kinh tế nói chung, đã ra đời khá sớm và không ngừng phát triển
Thống kê kinh tế ra đời và phát triển theo sự phát triển của xã hội Trong các chế độ nô lệ, phong kiến, thống kê kinh tế chỉ mới tiến hành thống kê các chỉ tiêu hiện vật, đơn giản Thống kê kinh tế phát triển nhanh, phong phú cả về quy mô tổ chức cũng như phương pháp luận và hệ thống chỉ tiêu trong các nước
xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa
Hệ thống thống kê kinh tế xã hội chủ nghĩa đã phục vụ đắc lực cho công tác kế hoạch hoá, cho quản lý trong một thời gian dài và đã đạt những thành tựu đáng kể Tuy vậy, có rất nhiều hạn chế, chủ yếu tính các chỉ tiêu kinh tế trong lĩnh vực sản xuất vật chất, nặng nề về hình thái hiện vật, có nhiều khó khăn trong so sánh quốc tế Hệ thống thống kê kinh tế theo cơ chế thị trường phát triển đa dạng, xâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, quan tâm
cả hình thái hiện vật lẫn giá trị Trong điều kiện mở rộng giao lưu hợp tác kinh
tế quốc tế, đưa Việt Nam hoà nhập vào kinh tế thế giới và khu vực, việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu và phương pháp luận tính các chỉ tiêu thống kê kinh tế theo hướng so sánh được với thống kê nước ngoài và quốc tế là nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách, góp phần đưa trình độ thống kê Việt Nam dần tiến
Trang 7kịp trình độ thống kê thế giới và khu vực
Thống kê kinh tế (theo nghĩa rộng) có nhiều bộ phận (ngành) Một bộ phận đi sâu nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội diễn ra trong phạm vi doanh nghiệp gọi là Thống kê kinh tế vi mô (thống kê doanh nghiệp).Bộ phận khác nghiên cứu hiện tượng chung của nền kinh tế, phục vụ quản lý nền kinh tế trên bình diện vĩ mô Đó là thống kê kinh tế vĩ mô (thống kê kinh tế) Thống kê kinh tế vi mô và Thống kê kinh tế vĩ mô có quan hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy nhau phát triển
1.1.1.2 Vai trò của thông tin kinh tế, xã hội trong nền kinh tế
Trong hệ thống thông tin phục vụ quản lý, thông tin thống kê nói chung, thông tin thống kê kinh tế nói riêng (thông tin về nguồn lực của nền kinh tế, thị trường,liên doanh, liên kết, kết quả hoạt động sản xuất, hiệu quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế) giữ vị trí quan trọng Thống kê nói chung thống kê kinh
tế nói riêng, như Lê Nin nói, là một trong những công cụ sắc bén nhất, hùng mạnh nhất để nhận thức hiện tượng kinh tế - xã hội Chúng cung cấp những thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác để quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý nhà nước Những thông tin này nêu rõ nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa các hiện tượng, khả năng tiềm tàng của nền kinh tế Chúng cung cấp những thông tin về sự phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai (dự đoán ngắn hạn) của đất nước trong mối liên hệ với thế giới bên ngoài Đó là những thông tin cực kỳ cần thiết cho lãnh đạo và chỉ đạo nền kinh tế, làm căn cứ cho hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội Chính vì vậy, tất cả các quốc gia, các tổ chức quốc tế đều có cơ quan thống kê riêng của mình
Trong cơ chế thị trường, yêu cầu thông tin nhanh, chính xác lại càng quan trọng đối với quản lý sản xuất- kinh doanh ở tầm vi mô cũng như ở tầm vĩ mô Đặc biệt, tổ chức và quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô đòi hỏi những thông tin kinh tế-
xã hội tổng hợp, thu được từ nhiều nguồn khác nhau phục vụ hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô Chính vì vậy, thống kê kinh tế - một bộ phận của khoa học thống kê ngày càng trở nên cần thiết, quan trọng trong nền kinh tế thị trường
Trang 81.1.2 Đối tượng nghiên cứu của thống kê kinh tế
Thống kê kinh tế là một bộ phận của thống kê học - một môn khoa học xã hội, tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ với các bộ phận khác Nó vừa giống vừa khác với bộ phận khác Điều đó được thể hiện trước hết ở đối tượng và phương pháp nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của Thống kê kinh tế là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng kinh tế - xã hội số lớn diễn
ra trong toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội, trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Đặc trưng của thống kê kinh tế là nghiên cứu mặt lượng Nhưng mặt lượng và mặt chất của các hiện tượng kinh tế không tách rời nhau, trái lại giữa chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau.Thống kê kinh tế nghiên cứu mặt lượng và thông qua mặt lượng (khối lượng, quy mô, tốc độ phát triển, quan hệ tỷ lệ ) của các hiện tượng kinh tế mà nêu lên bản chất và tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu Nói Thống kê kinh tế nghiên cứu mặt lượng trong sự liên hệ mật thiết với mặt chất có nghĩa là nghiên cứu các quy luật số lượng, không nghiên cứu mặt chất, cũng không nghiên cứu mặt lượng một cách tách biệt, mà dùng con số, số lượng để biểu hiện bản chất và tính quy luật của hiện tượng Điều đó cũng có nghĩa là con số thống kê kinh tế là con số có nội dung kinh tế
cụ thể, được xác định bởi nội dung kinh tế đó Do đó, con số của thống kê kinh
tế bao giờ cũng chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội cụ thể, rõ ràng và bao giờ cũng có đơn vị tính phù hợp Để tạo ra các con số của thống kê kinh tế, các nhà thống kê cần hiểu rõ nội dung kinh tế của con số cần xác định Để sử dụng có hiệu quả con số thống kê, các nhà kinh doanh và quản trị cần hiểu đúng con số thống kê kinh tế xét về mặt nội dung kinh tế của nó Đây là điểm khác biệt giữa thống kê nói chung và các khoa học khác Quán triệt điều này để tránh việc biến hoạt động thống kê thành trò chơi con số và tạo ra các con số chính xác của một khối lượng không chính xác
Điều đáng chú ý là thống kê kinh tế phải nghiên cứu số lớn các hiện tượng
để những nhân tố không bản chất được bù trừ và triệt tiêu, mặt bản chất của hiện tượng mới được thể hiện rõ nét, tính quy luật của hiện tượng mới được khẳng định Như vậy, thống kê kinh tế nghiên cứu hiện tượng số lớn, không nghiên cứu hiện tượng cá biệt, bỏ qua các hiện tượng cá biệt, đặc thù mà có nghĩa là thống
Trang 9kê kinh tế chủ yếu nghiên cứu các hiện tượng số lớn
Thống kê kinh tế nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của số lớn các hiên tượng kinh tế - xã hội Điều này có nghĩa là thống kê kinh tế chỉ nghiên cứu hiện tượng tự nhiên và kỹ thuật Nó chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của các hiện tượng tự nhiên và kỹ thuật đến hiện tượng kinh tế - xã hội
1.1.3 Một số khái niệm cơ bản
1.1.3.1 Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể
Tổng thể thống kê là tập hợp các đơn vị (hay phần tử)thuộc hiện tượng nghiên cứu, cần quan sát, thu thập và phân tích mặt lượng của chúng theo một hoặc một số tiêu thức nào đó
Các đơn vị này gọi là đơn vị tổng thể, như vậy thực chất việc xác định tổng thể là xác định các đơn vị tổng thể Ví dụ tổng thể dân số Việt Nam, đơn vị tổng thể là mỗi công dân Việt Nam; tổng thể các doanh nghiệp công nghiệp của
Hà Nội, đơn vị tổng thể là từng doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thường trú của Hà Nội tại một thời điểm xác định nào đó
Trường hợp các đơn vị cấu thành tổng thể có thể thấy được bằng trực quan gọi là tổng thể bộc lộ.Ví dụ số lượng sinh viên K61 Kế toán, dân số của huyện Chương Mỹ…
Trường hợp các đơn vị cấu thành tổng thể không thể thấy được bằng trực quan gọi là tổng thể tiềm ẩn.Ví dụ số lượng người yêu thích bóng đá…
Tổng thể bao gồm những đơn vị giống nhau ở một số đặc điểm chủ yếu liên quan đến mục đích nghiên cứu gọi là tổng thể đồng chất, ngược lại gọi là tổng thể không đồng chất Tổng thể bao gồm tất cả các đơn vị thuộc phạm vi nghiên cứu gọi là tổng thể chung, chỉ bao gồm một bộ phận gọi là tổng thể bộ phận, tổng thể bao gồm một số đơn vị được chọn ra theo phương pháp lấy mẫu gọi là tổng thể mẫu.Tổng thể cũng có thể là hữu hạn, có thể là vô hạn, ví dụ tổng thể trẻ em sơ sinh, tổng thể khách hàng đã sử dụng sản phẩm của nhà máy…Vì vậy khi xác định tổng thể thống kê không chỉ giới hạn về thực thể (tổng thể gì)
mà còn phải giới hạn về không gian và thời gian
1.1.3.2 Tiêu thức thống kê
Tiêu thức thống kê là khái niệm dùng để chỉ các đặc điểm của đơn vị tổng thể.Ví dụ khi nghiên cứu dân số theo các tiêu thức giới tính, tuổi,khi nghiên cứu
Trang 10doanh nghiệp theo các tiêu thức vốn, lao động…
Theo đặc điểm tồn tại của hiện tượng tiêu thức thống kê chia thành hai loại: tiêu thức thời gian và tiêu thức không gian, nó phản ánh hiện tượng tồn tại bao giờ và ở đâu (của ai)
Theo thực thể tức bản chất của hiện tượng, tiêu thức thống kê chia thành hai loại: tiêu thức thuộc tính và tiêu thức số lượng
Tiêu thức thuộc tính là tiêu thức phản ánh tính chất hay loại hình của đơn
vị tổng thể, không biểu hiện trực tiếp bằng con số, ví dụ tiêu thức giới tính, nghề nghiệp… Tiêu thức thuộc tính có thể biểu hiện trực tiếp (nam, nữ) hay gián tiếp (nhân cách…)
Tiêu thức số lượng là tiêu thức biểu hiện trực tiếp bằng con số, ví dụ tuổi, chiều cao, sản lượng… Các trị số cụ thể khác nhau của tiêu thức số lượng gọi là lượng biến.Ví dụ tuổi là tiêu thức số lượng,nhưng tuổi không phải là lượng biến, lượng biến là 15 tuổi, 20 tuổi…Lượng biến có thể phân thành hai loại: lượng biến rời rạc và lượng biến liên tục Lượng biến rời rạc là lượng biến mà các giá trị của nó có thể là hữu hạn hay vô hạn và có thể đếm được bằng số nguyên, ví
dụ số lượng sinh viên nghỉ học, số vụ khủng bố… Lượng biến liên tục là lượng biến mà các giá trị của nó có thể lấp kín cả một khoảng trên trục số, ví dụ trọng lượng, chiều cao của người, năng suất lao động…
Tiêu thức thực thể khi chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau gọi là tiêu thức thay phiên, ví dụ giới tính nam, nữ
Tiêu thức giúp xác định rõ từng đơn vị tổng thể cũng như tổng thể thống
kê, nhờ đó có thể phân biệt đơn vị này với đơn vị khác, tổng thể này với tổng thể khác
1.1.3.3 Chỉ tiêu thống kê
Chỉ tiêu thống kê phản ánh lượng gắn với chất của các mặt, các tính chất cơ bản của hiện tượng số lớn trong thời gian và địa điểm cụ thể
Chỉ tiêu thống kê có hai mặt khái niệm và mức độ Khái niệm có nội dung
là định nghĩa và giới hạn về thuộc tính, thời gian và không gian Mức độ phản ánh quy mô, cường độ của hiện tượng và được đo bằng các thang đo khác nhau Chỉ tiêu thống kê thường mang tính tổng hợp, phản ánh mặt lượng của nhiều đơn vị, nhiều hiện tượng cá biệt
Căn cứ theo các tiêu thức khác nhau để phân loại thì chỉ tiêu thống kê có
Trang 11thể được phân thành các loại khác nhau
Theo nội dung có thể chia các chỉ tiêu thành hai loại chỉ tiêu khối lượng
và chỉ tiêu chất lượng Chỉ tiêu khối lượng là các chỉ tiêu biểu hiện quy mô của tổng thể, ví dụ doanh thu lợi nhuận, dân số, lao động Chỉ tiêu chất lượng là các chỉ tiêu biểu hiện tính chất, trình độ phổ biến, mối quan hệ so sánh của tổng thể,
ví dụ giá thành biểu hiện quan hệ so sánh giữa tổng chi phí sản xuất với số lượng sản phẩm, đồng thời phản ánh trình độ phổ biến về mức chi phí cho một đơn vị sản phẩm đã được sản xuất ra Chỉ tiêu chất lượng mang ý nghĩa phân tích, trị số của nó được xác định chủ yếu từ việc so sánh giữa các chỉ tiêu khối lượng Theo đặc điểm về thời gian có chỉ tiêu thời điểm và chỉ tiêu thời kỳ Chỉ tiêu thời điểm phản ánh quy mô của hiện tượng nghiên cứu tại một thời điểm Chỉ tiêu thời kỳ phản ánh quy mô của hiện tượng nghiên cứu trong một thời kỳ nhất định
Theo hình thức biểu hiện (đơn vị tính), có chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị Chỉ tiêu hiện vật biểu hiện bằng đơn vị tự nhiên, chỉ tiêu giá trị biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ Ví dụ sản lượng sản xuất của công ty A năm 2015 là 2.050 sản phẩm, doanh thu là 20 tỷ đồng
1.1.3.4 Thang đo trong thống kê
Để lượng hóa hiện tượng nghiên cứu, thống kê dùng các loại thang đo phù hợp với tính chất của dữ liệu Thống kê sử dụng 4 loại thang đo sau đây:
Thang đo định danh là mã số các biểu hiện cùng loại của tiêu thức, thường dùng cho các tiêu thức thuộc tính.Ví dụ nam 1, nữ 2, hoặc các câu trả lời trong phỏng vấn “có – không”, các con số không có quan hệ hơn kém.Thang đo này dùng để đếm tần số của biểu hiện tiêu thức
Thang đo thứ bậc là thang đo định danh nhưng giữa các biểu hiện của tiêu thức có quan hệ thứ bậc hơn kém, nhưng sự chênh lệch giữa các biểu hiện không nhất thiết phải bằng nhau.Ví dụ: huân chương hạng nhất, nhì, ba, huy chương vàng, bạc, đồng…
Thang đo khoảng là thang đo thứ bậc có khoảng cách đều nhau nhưng không có điểm gốc là 0 nên không so sánh được tỷ lệ giữa các số đo Ví dụ nhiệt
độ 32oC < 35oC và 52oC < 55oC cho phép đo chính xác sự khác nhau giữa hai khoảng bất kỳ, việc cộng trừ các con số là có ý nghĩa Khoảng cách đều là yêu
Trang 12cầu với thang đo nhưng biểu hiện của tiêu thức thì không nhất thiết phải bằng nhau Thang đo tỷ lệ là thang đo khoảng với một điểm 0 tuyệt đối (số không là điểm gốc), để có thể so sánh được tỷ lệ giữa các trị số đó Điểm 0 được coi là điểm xuất phát của số đó
1.1.4.Các đại lượng thường dùng trong thống kê
Mỗi đặc điểm cơ bản của hiện tượng kinh tế xã hội thường được biểu hiện
ở các đại lượng (mức độ) khác nhau Mức độ đầu tiên được biểu hiện trong thống kê là số tuyệt đối
Ví dụ: Số lượng sinh viên lớp nguyên lý thống kê L05 – K60 kế toán là
95người, doanh thu của công ty A năm 2015 là 150 tỷ đồng… Các con số thống
kê trên đều là số tuyệt đối
b Ý nghĩa
- Số tuyệt đối trong thống kê có ý nghĩa quan trọng cho mọi công tác nghiên cứu kinh tế, vì thông qua số tuyệt đối sẽ có một nhận thức cụ thể về quy
mô, khốilượng thực tế của hiện tượng nghiên cứu
- Nhờ số tuyệt đối có thể biết cụ thể nguồn tài nguyên, các tiềm năng của nền kinh tế quốc dân, các kết quả phát triển kinh tế, văn hoá, các thành quả lao động màmọi người đã phấn đấu đạt được
- Số tuyệt đối là cơ sở đầu tiên để tiến hành phân tích thống kê, đồng thời là
cơ sở để tính các số tương đối và số bình quân
- Số tuyệt đối trong thống kê còn là căn cứ không thể thiếu được trong việc xây dựng các chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và tổ chức chỉ đạo thực hiện chúng
Do có ý nghĩa quan trọng như vậy, thống kê học coi số tuyệt đối là loại chỉ tiêu cơ bản nhất
Trang 13c.Đặc điểm
- Mỗi số tuyệt đối trong thống kê đều bao hàm một nội dung kinh tế - xã hội cụ thể trong điều kiện thời gian và địa điểm nhất định và nó khác với các đại lượng tuyệt đối trong toán học
- Số tuyệt đối trong thống kê không phải là con số lựa chọn tùy tiện mà phải thông qua điều tra thực tế và tổng hợp một cách khoa học Cũng có khi còn phải dùng các phương pháp tính toán khác nhau mới có được số tuyệt đối
Ví dụ: Muốn có được số liệu vềnguyên vật liệu tồn kho phải căn cứ vào sổ
Trong một số trường hợpphải sử dụng đơn vị kép để tính toán như sản lượng điện (kw/h) Trong sản xuất những sản phẩm giống nhau về giá trị sử dụng nhưng khác nhau về kích thước, trọng lượng, công suất… người ta dùng đơn vị hiện vật tiêu chuẩn
Ví dụ: Máy kéo có công suất tiêu chuẩn 15 mã lực…
- Đơn vị thời gian lao động như giờ công, ngày công… thường dùng để tính lượng lao động hao phí để sản xuất ra những sản phẩm không thể tổng hợp hoặc so với nhau bằng các đơn vị tính toán khác hoặc những sản phẩm phức tạp
do nhiều người lao động thực hiện qua nhiều giai đoạn khác nhau Đơn vị này thường dùng trong công tác định mức thời gian cho sản xuất, tính năng suất lao động, quản lý thời gian lao động của đơn vị
Đơn vị tiền tệ được sử dụng để biểu hiện giá trị sản phẩm Nó giúp cho việc tổng hợp nhiều loại sản phẩm có giá trị sử dụng và đơn vị đo lường khác nhau Tuy nhiên, do giá cả hàng hóa luôn thay đổi, đơn vị tiền tệ trở nên không có tính chất so sánh được qua thời gian
Trang 14e Các loại số tuyệt đối
Tùy theo tính chất của hiện tượng nghiên cứu và khả năng thu thập tài liệu trong những điều kiện về thời gian khác nhau, có thể phân biệt 2 loại số tuyệt đối sau:
Số tuyệt đối thời điểm
- Số tuyệt đối thời điểm phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu vào một thời điểm nhất định
Ví dụ: Giá trị hàng tồn kho của doanh nghiệp vào ngày 31/12/N là 20 triệu đồng
Số tuyệt đối thời điểm chỉ phản ánh trạng thái của hiện tượng tại một thời điểm nhất định Các số tuyệt đối thời điểm không được cộng dồn vì trước và sau thời điểm nghiên cứu trạng thái của hiện tượng có thể khác
Số tuyệt đối thời kỳ
- Số tuyệt đối thời kỳ phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu trong một độ dài thời gian nhất định
Ví dụ: Sản lượng sản phẩm tiêu thụ của công ty trong năm 2015 là 2 nghìn tấn
Số tuyệt đối thời kỳ hình thành do sự tích lũy về mặt lượng của hiện tượng trong suốt thời gian nghiên cứu và có thể cộng lại được với nhau, thời gian càng dài thì trị số của chỉ tiêu (sự tích lũy về mặt lượng)càng lớn
1.1.4.2 Số tương đối
a.Khái niệm
- Số tương đối trong thống kê biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ nào đó của hiện tượng nghiên cứu Đó có thể là kết quả của việc so sánh giữa 2 mức độ cùng loại nhưng khác nhau về điều kiện thời gian và không gian hoặc giữa 2 mứcđộ khác loại nhưng có liên quan với nhau
Ví dụ: So sánh tổng doanh thu của công ty A năm 2015 với năm 2014; cơ
cấu giới tính lớp K60 kế toán là 95% nữ, 5% là nam…
b Ý nghĩa
- Trong phân tích thống kê, số tương đối được sử dụng rộng rãi để nêu lên kết cấu, quan hệ so sánh, trình độ phát triển, trình độ phổ biến của hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện lịch sử nhất định
- Số tương đối trong thống kê cũng nêu lên mặt lượng trong mối quan hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng nghiên cứu.Tuy nhiên, trong khi các số
Trang 15tuyệt đối chỉ mới khái quát được qui mô, khối lượng của hiện tượng thì số tương đối giúp ta đi sâu vào đặc điểm của hiện tượng một cách có phân tích
- Trong công tác lập kế hoạch và kiểm tra thực hiện kế hoạch, số tương đối luôn giữ vai trò quan trọng
- Hình thức biểu hiện: số lần, %, đơn vị kép (ví dụ: kg/người, người/km2 )
Căn cứ theo nội dung mà số tương đối phản ánh,có thể chia thành 5 loại sốtương đối sau đây:
d Phân loại
Số tương đối động thái
- Số tương đối động thái (tốc độ phát triển) là kết quả so sánh hai mức độ cùng loại của hiện tượng ở hai thời kỳ (hay thời điểm) khác nhau
- Số tương đối động thái biểu hiện sự biến động về mức độ của hiện tượng nghiên cứu qua một thời gian nào đó
- Số tương đối động thái được sử dụng rộng rãi trong phân tích thống kê vì
nó xác định xu hướng biến đổi, tốc độ phát triển của hiện tượng qua thời gian
- Đơn vị tính của loại hình số tương đối động thái là số lần hoặc phần trăm Công thức tính:
Trong đó:
θ(%): Số tương đối động thái;
y1: Mức độ của hiện tượng ở kì nghiên cứu;
y0: Mức độ của hiện tượng ở kì gốc;
Kỳ gốc ở đây có thể là kỳ liền trước đó (gốc liên hoàn) hoặc là một kỳ nào
Trang 16 Số tương đối kế hoạch
Số tương đối kế hoạch dùng để lập và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch vềmột chỉ tiêu kinh tế - xã hội nào đó Có 2 loại số tương đối kế hoạch
* Số tương đối nhiệm vụ kế hoạch: Là quan hệ tỷ lệ giữa mức kỳ kế hoạch (tức là mức độ cần đạt tới của chỉ tiêu nào đó trong kỳ kế hoạch)với mức độ thực tế của chỉ tiêu này đạt được ở trước kỳ kế hoạch hoặc ở một kỳ nào đó được chọn làm gốc so sánh, thường được biểu hiện bằng đơn vị phần trăm (%)
- Công thức tính:
Trong đó:
θk: Số tương đối nhiệm vụ kế hoạch;
yk : Mức độ đặt ra trong kỳ kế hoạch về chỉ tiêu nào đó;
y0 : Mức độ đạt được ở kỳ gốc (kỳ trước) về chỉ tiêu tương ứng với chỉ tiêu so sánh
Số tương đối hoàn thành kế hoạch
- Số tương đối hoàn thành kế hoạch: Là quan hệ tỷ lệ so sánh giữa mức thực tế đạt được trong kỳ nghiên cứu với mức kế hoạch đặt ra cùng kỳ của một chỉ tiêukinh tế - xã hội nào đó, thường được biểu hiện bằng đơn vị %
- Công thức tính:
Trong đó:
θT: Số tương đối thực hiện kế hoạch;
y1: Mức độ thực tế đã đạt được trong kỳ kế hoạch về chỉ tiêu nào đó;
yk : Mức độ đặt ra trong kỳ kế hoạch về chỉ tiêu nào đó
Chú ý:
- Đối với những chỉ tiêu mà kế hoạch dự kiến tăng là chiều hướng tốt thì số tương đối trên 100% là hoàn thành vượt mức kế hoạch, dưới 100% là không hoàn thành kế hoạch
- Ngược lại,những chỉ tiêu kế hoạch giảm là chiều hướng tốt như giá thành,tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm thì số tương đối dưới 100% là hoàn thànhvuợt mức, trên 100% là không hoàn thành kế hoạch
1000
y
y k k
Trang 17- Muốn tính số tương đối kế hoạch chính xác cần đảm bảo tính chất so sánh được giữa mức độ kế hoạch và mức độ thực tế (giống nhau về nội dung kinh tế,
về phương pháp tính, về chỉ tiêu, về đơn vị tính, về phạm vi độ dài và thời gian màmức độ phản ánh)
Số tương đối kết cấu
Số tương đối kết cấu xác định tỷ trọng của mỗi bộ phận cấu thành trong một tổng thể, là kết quả so sánh trị số tuyệt đối của từng bộ phận với trị số tuyệt đối của cả tổng thể, nó biểu hiện bằng đơn vị %
Trong đó:
θkc: Số tương đối kết cấu (tỷ trọng);
yi : Mức độ thực tế đã đạt được trong kỳ về chỉ tiêu nào đó;
i = (1,2,…,n) là thứ tự các bộ phận
Số tương đối cường độ
- Số tương đối cường độ biểu hiện trình độ phổ biến của hiện tượng trong điều kiện lịch sử nhất định, được xác định bằng cách so sánh mức độ của hai hiện tượng khác nhau nhưng có quan hệ với nhau
- Mức độ của hiện tượng mà ta cần nghiên cứu trình độ phổ biến của nó được đặt ở tử số, còn mức độ của hiện tượng có quan hệ được đặt ở mẫu số
- Nhìn chung, khi tính số tương đối cường độ phải tùy thuộc mục đích nghiên cứu và mối quan hệ giữa hai hiện tượng để tiến hành so sánh cho phù hợp, đơn vị tính của nó là đơn vị kép, do đơn vị của tử số và mẫu số hợp thành
Số tương đối không gian
- Phản ánh sự biến động của hiện tượng qua không gian và được tính bằng phép so sánh, đánh giá chênh lệch về mức độ giữa hai bộ phận trong một tổng thể hoặc giữa hai hiện tượng cùng loại nhưng khác nhau về điều kiện không gian
Ví dụ: So sánh giá cả của một loại hàng hoá giữa hai thị trường, so sánh
khối lượng sản phẩm giữa hai xí nghiệp trong cùng một ngành.Tác dụng của sự
so sánh này nhằm nêu lên ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau đối với mức
i kc
y y
Trang 18độ của hiện tượng nghiên cứu
- Ngoài ra, còn có thể so sánh các chỉ tiêu cùng loại của hai nước khác nhau trong so sánh quốc tế
- Khi tính đến số tương đối không gian cần tính đến tính chất so sánh được giữa các chỉ tiêu
Những chênh lệch này do nhiều nguyên nhân tác động tới Bên cạnh những nguyên nhân chung quyết định đặc điểm cơ bản của hiện tượng, còn có những nguyên nhân riêng ảnh hưởng đến từng đơn vị mà cần tìm một mức độ có tính chất đại biểu nhất, có khả năng khái quát đặc điểm chung của cả tổng thể, mức
độ đó chính là số bình quân
b Ý nghĩa
Số bình quân thông dụng trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế-xã hội như lập các chương trình, dự án, kế hoạch và kiểm tra tình hình thực hiện sản xuất kinh doanh, tính toán các chỉ tiêu kinh tế nhằm nêu lên đặc điểm điển hình của hiện tượng kinh tế - xã hội số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Thống kê học thường dùng các loại số bình quân sau:
x x x
1 2
x
Trang 19- -Số bình quân;
n - Số đơn vị tổng thể
Số bình quân cộng gia quyền
Vận dụng khi các lượng biến có tần số khác nhau Nên muốn tính số bình quân cộng, trước hết phải nhân từng lượng biến (xi) với tần số (fi) tương ứng rồi cộng lại và đem chia cho tổng số các đơn vị tổng thể (tổng các tần số) Bằng cách tính này, ta tính được số bình quân cộng gia quyền (còn gọi là số bình quân cộng có trọng số)
Số bình quân điều hòa
Số bình quân điều hòa cũng có nội dung kinh tế như số bình quân cộng, tính bằng cách đem chia tổng các lượng biến của tiêu thức cho số đơn vị tổng thể
Số bình quân điều hòa gia quyền:
f f
x f f x f x
2 2 1 1
n n n
X M M
X
M X
M X
M
M M
M X
1
1
2
2 1
1
2 1
Trang 20
Công thức:
c Số bình quân nhân
Số bình quân nhân là số bình quân của những lượng biến có quan hệ tích số
Số bình quân nhân được dùng để tính tốc độ phát triển bình quân về mức độcủa hiện tượng trong một khoảng thời gian nào đó
Sự biến động về mức độ của hiện tượng qua thời gian được thống kê xác định thông qua số tương đối động thái (còn được gọi là tốc độ phát triển) Để có được trị số biểu thị tổng quát (chung nhất) về biến động mức độ của hiện tượng, cần sử dụng chỉ tiêu bình quân Nhưng do các lượng biến (tốc độ phát triển từng kỳ)của tiêu thức nghiên cứu lại có mối quan hệ tích số với nhau nên ta không thể
sử dụng mô hình số bình quân cộng
- Tùy thuộc vào sự xuất hiện của các lượng biến trong dãy số ta có:
Trong đó:
y1: Mức độ của hiện tượng đầu tiên;
yn: Mức độ của hiện tượng thứ n;
ti: Tốc độ phát triển từng kỳ (i = 1, 2, …, n);
fi: Quyền số (Tần suất) (i = 1, 2, …, n);
t : Tốc độ phát triển bình quân
1.1.4.4 Khoảng biến thiên
Là độ lệch giữa lượng biến lớn nhất và lượng biến nhỏ nhất của tiêu thức nghiên cứu
1 1
1 1
t t t t
n f f
t t t
2 1
i
f i
t t
1
x i
Trang 21Trong đó:
R : Khoảng biến thiên;
xmax: Lượng biến lớn nhất;
xmin: Lượng biến nhỏ nhất
1.1.5 Các phương pháp thống kê thông dụng
1.1.5.1 Phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng
Liên hệ hàm số và liên hệ tương quan
2 1
2 1
2 2
x n
x n
x x
n
i i n
i i
1 2
f x
f
f x x
n
i i
n
i
i i n
i i
n
i
i i
Trang 22Xét theo trình độ chặt chẽ có thể phân thành 2 loại: liên hệ hàm số và liên
Ví dụ: Quãng đường = Vận tốc xThời gian
Liên hệ tương quan là một liên hệ không hoàn toàn chặt chẽ và được biểu hiện khi một hiện tượng biến đổi thì làm cho hiện tượng liên quan biến đổi theo nhưng không hoàn toàn quyết định sự biến đổi này.Ví dụ khi giá thành sản phẩm giảm thì làm cho giá bán giảm nhưng không hoàn toàn quyết định sự ảnh hưởng này Liên hệ tương quan thường xảy ra trong đời sống xã hội Khi nghiên cứu vấn đề này cần phải nghiên cứu trên nhiều đơn vị, tức nghiên cứu hiện tượng số lớn
Hồi quy và tương quan tuyến tính giữa hai tiêu thức số lượng
Xây dựng mô hình hồi qui tuyến tính như sau:
Trong đó:
x: Trị số của tiêu thức nguyên nhân;
: Trị số của tiêu thức kết quả y được tính theo phương trình hồi quy; a: Tham số tự do nói lên ảnh hưởng của các nguyên nhân khác ngoài x đối với y
b: Hệ số hồi qui nói lên ảnh hưởng của x đối với y, cụ thể mỗi khi x tăng 1 đơn vị thì y tăng bình quân b đơn vị
Giá trị của các tham số được tính trực tiếp bằng công thức:
- Hệ số tương quan (r): Đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan tuyến tính
bx a
y x xy b
x
2
y x
y x
b r
y x xy r
Trang 23- Tính chất của r : -1 ≤ r ≤ 1
+ r = ± 1: Giữa x và y có mối liên hệ hàm số;
+ r = 0: Giữa x và y không có mối liên hệ tương quan tuyến tính
+ r càng tiến gần tới ± 1: Mối liên hệ giữa x và y càng chặt chẽ
1.1.5.2 Phân tích xu thế biến động
Mặt lượng của các hiện tượng kinh tế xã hội thường xuyên biến động qua thời gian Để nghiên cứu sự biến động này người ta sử dụng dãy số thời gian Dãy số thời gian là dãy các số liệu thống kê (trị số của chỉ tiêu thống kê) được sắp xếp theo thứ tự thời gian
Căn cứ vào đặc điểm tồn tại của hiện tượng nghiên cứu qua thời gian, có thể phân dãy số thời gian thành dãy số thời kỳ và dãy số thời điểm
Phân tích đặc điểm biến động của hiện tượng qua thời gian cụ thể như sau:
Mức độ bình quân qua thời gian
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đại diện cho các mức độ tuyệt đối của dãy số thời gian Tùy theo dãy số thời kỳ hay thời điểm mà cách thức xác định là khác nhau
- Đối với dãy số thời điểm:
- Đối với dãy số thời kỳ:
Lượng tăng tuyệt đối
Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi về mức độ tuyệt đối giữa hai thời gian Tùy theo mục đích nghiên cứu mà có thể tính các chỉ tiêu về lượng tăng tuyệt đối sau:
- Lượng tăng tuyệt đối liên hoàn (i ):
x x x x
n n
n
x x
n
i i
Trang 24
1 2
n n
i i
Trang 25a t1
Giá trị tuyệt đối 1% của tốc độ tăng liên hoàn (g i )
Chỉ tiêu này phán ánh cứ 1% tăng của tốc độ tăng liên hoàn thì tương ứng với một qui mô cụ thể là bao nhiêu và được xác định bằng côngthức:
Dự báo dãy số theo thời gian
Có 3 phương pháp thường được sử dụng, cụ thể:
- Dự báo dựa vào lượng tăng giảm tuyệt đối bình quân
Giả thiết lượng tăng của tương lai cũng đạt ở mức trung bình của thời kỳ quá khứ, ta có:
: Lượng tăng tuyệt đối trung bình của thời kỳ quá khứ
- Dự báo dựa vào tốc độ phát triển bình quân
Giả thiết tốc độ tăng của tương lai cũng đạt ở mức trung bình của thời kỳ quá khứ, ta có:
Y : Mức độ của hiện tượng nghiên cứu của thời kỳ dự báo n + 1;
t: Tốc độ tăngbình quân của thời kỳ quá khứ
- Dự báo bằng phương pháp hồi quy tuyến tính
Thực chất của phương pháp này là xây dựng một phương trình lý thuyết
để mô phỏng quy luật phát triển của hiện tượng nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết
i
i i
x g
Y n
n Y
Y1
t Y
Trang 26thống kê toán học Phương trình có dạng:
sự khác biệt về không gian đối với hiện tượng nghiên cứu
Ví dụ: Giá trị sản xuất của công ty A năm 2015 so với năm 2014 bằng
120%
Phân loại
Căn cứ vào đặc điểm thiết lập quan hệ so sánh
- Chỉ số phát triển: Biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ của hiện tượng ở hai thời gian khác nhau
- Chỉ số kế hoạch: Biểu hiện quan hệ so sánh giữa các mức độ thực tế và kế hoạch của chỉ tiêu phân tích bao gồm chỉ số nhiệm vụ kế hoạch và chỉ số thực hiện kế hoạch
- Chỉ số không gian: Biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ của hiện
tượng ở hai điều kiện không gian khác nhau
Ví dụ: doanh số của công ty A trongquí I/2015 ở thị trường miền Trung so với thị trường miền Nam bằng 85%
Căn cứ vào phạm vi tính toán
t a a
Trang 27- Chỉ số đơn(chỉ số cá thể): Là chỉ số phản ánh biến động của từng phần tử,từng đơn vị trong một tổng thể
Ví dụ: Chỉ số sản lượng của một loại sản phẩm
- Chỉ số tổng hợp: Là chỉ số phản ánh biến động chung của một nhóm đơn
vị hoặc toàn bộ tổng thể nghiên cứu
Ví dụ: Chỉ số khối lượng sản phẩm công nghiệp
Căn cứ vào tính chất của chỉ tiêu nghiên cứu
- Chỉ số chỉ tiêu khối lượng: Được thiết lập đối với chỉ tiêu khối lượng, là những chỉ tiêu biểu hiện qui mô, khối lượng chung của hiện tượng nghiên cứu
Ví dụ: chỉ số sản lượng sản phẩm tiêu thụ
- Chỉ số chỉ tiêu chất lượng: Được thiết lập đối với chỉ tiêu chất lượng
Ví dụ: như chỉ số giá, chỉ số giá thành
Sau đây, cụ thể các loại chỉ số sau:
- Chỉ số đơn:Phản ánh biến động của từng phần tử, từng đơn vị cá biệt của
+ Chỉ số chung phản ánh sự biến động của hiện tượng chung được cấu thành bởi nhiều nhân tố
Ví dụ: Doanh thu do ảnh hưởng của giá bán và lượng bán DT = p x q + Chỉ số nhân tố phản ánh biến động của từng nhân tố và mức ảnh hưởng
0
1
x x
ix
Trang 28của nó tới hiện tượng chung
Ví dụ:- Chỉ số sản lượng = Chỉ số NSLĐ × Chỉ số qui mô lao động
- Chỉ số doanh thu = Chỉ số giá × Chỉ số lượng hàng tiêu thụ
Các bước xây dựng hệ thống chỉ số
Giả sử doanh số tiêu thụ sản phẩm (DT) chịu ảnh hưởng bởi nhân tố giá bán (p)và sản lượng sản phẩm tiêu thụ (q) Các chỉ tiêu nghiên cứu ở kỳ gốc được ký hiệulà 0 và các chỉ tiêu ở kỳ nghiên cứu ký hiệu là 1 Để thiết lập được
hệ thống chỉ sốta cần thực hiện các bước sau:
Bước 1: Phương trình kinh tế,sắp xếp các nhân tố theo thứ tự tính chất lượng giảm dần và tính số lượng tăng dần
Chọn quyền số cho chỉ tiêu tổng hợp
Quyền số của chỉ số là những đại lượng được giữ cố định trong công thức chỉ số tổng hợp Quyền số của chỉ số có 2 tác dụng sau:
- Biểu hiện vai trò quan trọng của mỗi phần tử hay bộ phận trong toàn bộ tổng thể
- Làm cho các phần tử với đại lượng biểu hiện không thể trực tiếp cộng được với nhau được chuyển về cùng một đại lượng đồng nhất và có thể tổng hợp Khi dùng chỉ số tổng hợp để nghiên cứu biến động của chỉ tiêu chất lượng thì quyền số thường là chỉ tiêu khối lượng có liên quan và cố định ở kỳ nghiên cứu Còn để nghiên cứu biến động của chỉ tiêu khối lượng thì quyền số thường
là chỉ tiêu chất lượng có liên quan và cố định ở kỳ gốc
Trang 291.2 Thống kê tài khoản quốc gia
1.2.1 Khái niệm về SNA (System of National Accounts)
SNA là một hệ thống thông tin kinh tế, bao gồm các tài khoản kinh tế, các bảng thống kê được xây dựng dựa trên những khái niệm, định nghĩa, quy tắc hạch toán thống nhất trên phạm vi toàn cầu
- SNA đáp ứng nhu cầu đo lường và so sánh quốc tế về thông tin kinh tế
xã hội tại các quốc gia
- SNA là cơ sở để đánh giá tình hình kinh tế xã hội của mỗi quốc gia
- SNA mô tả, phân tích các hiện tượng kinh tế cơ bản
- Đồng thời, là công cụ hỗ trợ đắc lực các nhà hoạch định chính sách, các nhà phân tích đưa ra những mô hình kinh tế, những chính sách điều chỉnh phù hợp và kịp thời trong quản lý kinh tế xã hội
1.2.2 Một số khái niệm trong SNA
Thống kê kinh tế nghiên cứu các hiện tượng diễn ra trong quá trình tái sản xuất xã hội Nếu như các ý kiến trên về đối tượng nghiên cứu của thống kê kinh
tế xác định nội dung phạm vi nghiên cứu của thống kê kinh tế Thống kê kinh tế nghiên cứu toàn bộ quá trình sản xuất Điều đó có nghĩa thống kê kinh tế nghiên cứu từ các yếu tố đầu vào, nguồn lực của sản xuất, sự kết hợp các yếu tố để tạo
ra sản phẩm nghiên cứu, kết quả là hiệu quả của quá trình sản xuất Nó không chỉ nghiên cứu việc tạo ra mà nghiên cứu các vấn đề trên một cách biệt lập mà đặt nó trong toàn bộ quá trình sản xuất
Sản xuất ở đây có thể được hiểu là hoạt động có mục đích của con người
(có thể làm thay được) nhằm tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ để thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân hoặc xã hội Kết quả của nó không chỉ bao gồm các hàng hoá cá nhân mà cả các hàng hoá công cộng Cần phân biệt các phạm trù sản xuất và sản xuất vật chất là phạm trù chỉ bao gồm hoạt động tạo ra sản phẩm vật chất
Sản xuất được khái niệm như sau:
Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất (hàng hóa) và dịch vụ khác Các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải
có khả năng bán trên thị trường hoặc có khả năng cung cấp cho đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền
Trang 30Như vậy, hoạt động sản xuất được xác định bởi các điểm sau đây:
- Là hoạt động có mục đích, có thể làm thay được của con người
- Bao gồm cả hoạt động sản xuất sản phẩm vật chất và hoạt động sản xuất sản phẩm dịch vụ
- Thoả mãn không chỉ yêu cầu cá nhân mà cả nhu cầu chung toàn xã hội Như trên đã nói, thống kê phải dùng con số để biểu hiện bản chất và tính quy luật Để có thể đo lường (lượng hoá) chính xác các hiện tượng phù hợp với đặc điểm của các hiện tượng và trình độ tổ chức hoạt động thống kê hiện tại, cần
có các quy định thêm, giới hạn phạm vi tính toán một cách rõ ràng Theo đó, các loại hoạt động sau đây về bản chất là hoạt động sản xuất nhưng tạm coi là không sản xuất:
- Các hoạt động sản xuất bất hợp pháp
- Các hoạt động dịch vụ tự sản tự tiêu(trừ nhà ở)
Hiểu đúng phạm trù sản xuất là vấn đề hết sức quan trọng Nó cho phép:
- Phân định hoạt động nào là sản xuất, hoạt động nào là phi sản xuất
- Chi phí nào được tính vào chi phí sản xuất (tiêu dùng trung gian) và chi phí nào được tính vào tiêu dùng cuối cùng
- Kết quả nào được tính vào kết quả sản xuất
Thứ hai, về đơn vị thể chế: Là một thực thể kinh tế có quyền sở hữu tích sản, phát sinh tiêu sản, thực hiện các hoạt động, giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác
Có hai dạng đơn vị thể chế: Hộ gia đình và tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân
Đối tượng nghiên cứu của thống kê kinh tế khẳng định nền kinh tế vừa là đối tượng phục vụ vừa là phạm vi nghiên cứu của thống kê kinh tế.Theo lãnh thổ địa lý, nền kinh tế quốc dân là tổng thể các đơn vị kinh tế thường trú và không thường trú trong phạm vị lãnh thổ nghiên cứu, tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ với nhau, thực hiện các chức năng khác nhau trong hệ thống phân công lao động
xã hội Theo lãnh thổ kinh tế, nền kinh tế quốc dân là tổng thể các đơn vị kinh
kế thường trú của lãnh thổ nghiên cứu, tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ với nhau, thực hiện các chức năng khác nhau trong hệ thống phân công lao động xã hội.Như vậy, cơ sở để phân biệt và xác định nền kinh tế quốc dân theo hai đơn
Trang 31vị thường trú hay không thường trú của quốc gia được nghiên cứu
Một đơn vị thể chế được gọi là thường trú trên lãnh thổ nghiên cứu nếu đơn vị đó có trung tâm lợi ích kinh tế là trụ sở làm việc, nơi sản xuất hoặc nhà ở, hoạt động sản xuất, giao dịch kinh tế tại đó với thời gian từ một năm trở lên Được coi là đơn vị thường trú của một quốc gia là các đơn vị thể chế:
- Có trung tâm lợi ích kinh tế trên lãnh thổ đó
- Đã thực tế hoạt động trên lãnh thổ đó từ 1 năm trở lên
-Tuân thủ luật pháp của lãnh thổ đó
- Các trường hợp ngoại lệ: Các tổ chức quân sự và ngoại giao của nước (quốc gia) A ở nước ngoài luôn là đơn vị thường trú của nước (quốc gia) A Được coi là các đơn vị không thường trú là các đơn vị kinh tế không phải
là (không được coi là) đơn vị thường trú của nước nghiên cứu Các chỉ tiêu kinh
tế thuộc hệ thống kinh tế, tức là theo các đơn vị thường trú
Lãnh thổ kinh tế của một quốc gia bao gồm lãnh thổ địa lý chịu sự quản lý của chính phủ mà ở đó dân cư, hàng hóa, vốn được tự do lưu chuyển
Lãnh thổ kinh tế của một quốc gia bao gồm:
- Vùng đất, vùng trời và mặt nước, vùng lãnh hải có đặc quyền kinh tế
- Vùng lãnh thổ nằm ở nước ngoài sử dụng cho mục đích ngoại giao, mục đích quân sự, nghiên cứu khoa học
- Các khu chế xuất hoặc kho hàng, nhà máy ở bên ngoài nhưng hoạt động chịu sự kiểm soát của hải quan nước đó cũng thuộc phần lãnh thổ kinh tế của nước này
Hàng hóa và dịch vụ có mối liên hệ mật thiết và gắn bó khác nhau.Tuy nhiên, cần phân biệt sự khác nhau giữa chúng:
Hàng hóa là kết quả sản xuất dạng hiện vật hữu hình, còn gọi là sản phẩm vật chất có đặc điểm là có quá trình sản xuất và tiêu dùng tách biệt nhau Có thể giao dịch chuyển nhượng sở hữu trên thị trường
Dịch vụ là kết quả sản xuất có sản phẩm dạng vô hình có đặc điểm là quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời không thể tách khỏi người sản xuất
để thiết lập quyền sở hữu
Bên cạnh đó, một số khái niệm về tiêu dùng, chuyển nhượng cần được lưu
ý để phục vụ cho nội dung phân tổ trong SNA
Trang 32Tiêu dùng trung gian: Là việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ làm đầu vào cho quá trình sản xuất và đã được dùng hết trong một chu kỳ kế toán
Tiêu dùng cuối cùng: Là việc sử dụng hàng hóa và dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu cuối cùng của hộ gia đình và xã hội
Chuyển nhượng là các giao dịch một chiều, bao gồm:
+ Chuyển nhượng hiện hành (Current transfer): Là chuyển nhượng liên quan tới thu nhập và tiêu dùng cuối cùng, ảnh hưởng đến mức sống dân cư + Chuyển nhượng vốn (Capital transfer): Là việc chuyển quyền sở hữu hoặc sử dụng dạng tiền hoặc hiện vật từ đơn vị thể chế này cho đơn vị thể chế khác liên quan đến sản xuất
1.2.3 Nội dung của SNA
Tài khoản thống kê quốc gia SNA (System of National Accounts) là hệ thống thông tin kinh tế bao gồm các tài khoản kinh tế, bảng thống kê, các khái niệm, các quy tắc hạch toán thống nhất trên phạm vi toàn cầu do Liên hiệp quốc xây dựng Điều đó có nghĩa là các chỉ số như GDP có định nghĩa và cách tính
- Giá trị sản xuất ( GO);
- Chi phí trung gian (IC);
- Giá trị gia tăng (VA);
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP);
- Tổng thu nhập quốc dân (GNI);
- Thu nhập quốc dân thuần (NNI);
- Thu nhập quốc dân khả dụng (NDI);
- GNI = GDP + Thu nhập thuần nhân tố sản xuất;
- Thu nhập thuần nhân tố SX = Tổng thu nhân tố SX - Tổng chi nhân tố SX;
Trang 33- NNI = GNI – ∑ Tổng khấu hao TSCĐ;
- NDI = NNI + chuyển nhượng hiện hành thuần;
- Chuyển nhượng hiện hành thuần = Thu chuyển nhượng hiện hành- Chi chuyển nhượng hiện hành;
- S = NDI – C;
Tiết kiệm = đầu tư (S = I), nên có thể tính GDP:GDP = C + I + E – M
1.2.4 Những phân tổ chính trong SNA
Phân tổ là một trong các phương pháp cơ bản của nghiên cứu thống kê Để thực hiện nhiệm vụ đo lường và phân tích kinh tế, thống kê kinh tế sử dụng rộng rãi phương pháp phân tổ.Tùy theo mục đích hay quan điểm, người ta phân chia nền kinh tế thành các tổ hay các nhóm khác nhau Phân ngành kinh tế và phân khu vực thể chế là hai phân tổ chính của thống kê kinh tế nói chung và SNA nói riêng để xây dựng hệ thống chỉ tiêu, các tài khoản và phân tích kinh tế
Cụ thể như sau:
1.2.4.1 Phân khu vực thể chế
Khái niệm: Phân tổ theo khu vực thể chế là phân chia nền kinh tế quốc dân thành các tổ chức khác nhau (gọi là các khu vực thể chế) dựa vào các đặc điểm về nguồn vốn, mục đích và lĩnh vực hoạt động của chúng
Đối tượng phân chia (tổng thể được xem xét) ở đây là nền kinh tế quốc dân Kết quả của phân chia là hình thành các khu vực thể chế Khu vực thể chế
là tập hợp các đơn vị kinh tế cơ sở có tư cách pháp nhân, có quyền ra các quyết định về kinh tế và tài chính, có nguồn vốn hoạt động, mục đích hoạt động và lĩnh vực hoạt động giống nhau
Nguyên tắc phân tổ theo khu vực thể chế:
- Các đơn vị kinh tế cơ sở phải có tư cách pháp nhân
- Phải xét xem nguồn kinh phí hoặc nguồn thu nhập để xem chỉ tiêu chính của đơn vị kinh tế cơ sở lấy từ đâu?
Căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản trên, nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia được phân chia thành khu vực thể chế sau:
- Khu vực nhà nước: Bao gồm các đơn vị và tổ chức có chức năng điều
hành, quản lý hành pháp và luật pháp, quản lý nhà nước, đảm bảo an ninh và quốc phòng…Nguồn kinh phí để chi tiêu cho các đơn vị này do Ngân sách nhà
Trang 34nước cấp phát
- Khu vực tài chính:Bao gồm các đơn vị, tổ chức có chức năng kinh doanh
tiền tệ và bảo hiểm như ngân hàng ,công ty tài chính, công ty buôn bán cổ phần, tín phiếu, kho bạc, công ty xổ số, công ty bảo hiểm…Nguồn kinh phí chủ yếu để chi tiêu của các đơn vị này dựa vào kết quả hoạt động kinh doanh tiền tệ và bảo hiểm
- Khu vực phi tài chính: Bao gồm các đơn vị là các công ty (hay doanh
nghiệp) thuộc các thành phần kinh tế, các công ty trách nhiệm hữu hạn… có chức năng sản xuất , kinh doanh sản phẩm (vật chất và dịch vụ).Nguồn kinh phí chủ yếu để chi tiêu dựa vào kết quả sản xuất kinh doanh
- Khu vực hộ: Hộ vừa là đơn vị tiêu dùng cuối cùng, vừa là đơn vị sản
xuất có chức năng sản xuất ra sản phẩm Được xếp vào khu vực hộ toàn bộ các
hộ với tư cách là đơn vị tiêu dùng và các hộ sản xuất cá thể Nguồn kinh phí chủ yếu của hộ để chi tiêu lấy từ kết quả sản xuất kinh doanh
- Khu vực vô vị lợi (các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận) gồm các
đơn vị sản xuất, tổ chức có chức năng hoạt động sản xuất ra sản phẩm dịch vụ không vì mục đích kinh doanh thu lợi nhuận mà chủ yếu làm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tín ngưỡng, nhân đạo, từ thiện…của dân cư Nguồn kinh phí chủ yếu
để chi tiêu của các tổ chức này dựa vào sự đóng góp tự nguyện của các thành viên tham gia vào quyên góp của dân cư
Phân tổ này được sử dụng khi lập bảng cân đối (tài khoản) thu nhập và chi tiêu, tài khoản vốn - tài chính, tài khoản quan hệ kinh tế với nước ngoài và bảng cân đối tổng hợp về sản xuất, phân phối lại và sử dụng cuối cùng GO và GDP của nền kinh tế quốc dân
1.2.4.2 Phân ngành kinh tế
Phân ngành kinh tế quốc dân là sự phân chia nền kinh tế quốc dân thành các tổ khác nhau (gọi là các ngành kinh tế quốc dân) dựa trên cơ sở vị trí, chức năng hoạt động của các đơn vị kinh tế hay chủ thể kinh tế trong hệ thống phân công lao động xã hội
Nền kinh tế quốc dân: Nền kinh tế quốc dân là toàn bộ các đơn vị kinh tế hay chủ thể kinh tế có chức năng hoạt động khác nhau, tồn tại trong mối liên hệ mật thiết với nhau được hình thành trong một giai đoạn lịch sử nhất định
Cần phân biệt các khái niệm nền kinh tế quốc dân và nền kinh tế toàn
Trang 35quốc (có nền kinh tế toàn quốc, kinh tế vùng địa phương) Theo khái niệm đã được trình bày, nền kinh tế quốc dân cần được hiểu không chỉ theo phạm vi toàn quốc mà còn có thể được hiểu theo phạm vi địa phương Nền kinh tế là khái niệm có tính lịch sử: Có nền kinh tế tự nhiên, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị trường
Ngành kinh tế quốc dân là tổng thể các đơn vị kinh tế hay chủ thể kinh tế cùng hoàn thành chức năng kinh tế nhất định hoặc cùng hoạt động giống nhau trong hệ thống phân công lao động xã hội
Nguyên tắc phân ngành kinh tế quốc dân: Để phân ngành kinh tế quốc dân thống nhất khoa học và đúng đắn phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau: -Phải căn cứ vào học thuyết phân công lao động xã hội và trình độ phân công lao động xã hội
-Phải căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ Phải căn cứ vào đặc trưng của các đơn vị sản xuất - kinh doanh, các tổ chức có chức năng hoạt động giống nhau hoặc gần giống nhau
-Phải đáp ứng được yêu cầu của công tác so sánh quốc tế
-Đơn vị gốc tham gia phân ngành kinh tế quốc dân là các đơn vị sản xuất - kinh doanh, các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, có tư cách pháp nhân tức là có hạch toán kinh tế độc lập hoặc dự toán
-Phải dựa vào chức năng và đặc điểm chủ yếu của các đơn vị kinh tế -Phải thường xuyên hoàn thiện hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân.Cần phân biệt phân ngành kinh tế quốc dân với phân ngành sản phẩm và phân loại quản lý; phân biệt ngành kinh tế quốc dân với ngành sản phẩm; ngành kinh tế quốc dân với bộ, sở…
Phân ngành kinh tế quốc dân thống nhất, khoa học và đúng đắn có tác dụng rất lớn trong việc nghiên cứu cơ cấu kinh tế và kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân Phân ngành kinh tế quốc dân có tác dụng rất lớn trong nghiên cứu kinh tế nói chung và nghiên cứu tổng sản phẩm trong nước (GDP) nói riêng Cụ thể, phân ngành kinh tế quốc dân là:
-Tiền đề cần thiết để hoạch định các chính sách kinh tế-xã hội hợp lý Để phân phối và điều tiết nguồn tài nguyên con người và vốn; tạo cơ cấu đầu tư và
cơ cấu kinh tế theo ngành hợp lý, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế và sự biến
Trang 36xuất của nền kinh tế quốc dân, qua đó cho phép nghiên cứu cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo ngành kinh tế và sự chuyển đổi của chúng
-Để thống nhất nội dung, phạm vi tính các chỉ tiêu kinh tế Đảm bảo việc
so sánh quốc tế các chỉ tiêu kinh tế - xã hội giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế
-Giúp cho việc xử lý thông tin trên máy vi tính được thuận lợi
-Xem xét quá trình sản xuất theo quan điểm vật chất, lập và phân tích tài khoản sản xuất
-Tạo điều kiện cho ngành thống kê thu nhập được nguồn thông tin thống
kê đầy đủ, chính xác và đỡ trùng lặp
Trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA),nền kinh tế quốc dân được chia thành 17 ngành (hoạt động) cấp I thuộc 3 nhóm (khu vực) lớn khác nhau theo quy trình và hình thức hoạt động tự nhiên Cụ thể:
-Nhóm I được gọi là nhóm ngành khai thác bao gồm các ngành khai thác -Nhóm II được gọi là nhóm ngành chế biến, bao gồm các ngành chế biến khai thác từ tự nhiên như công nghiệp chế biến; sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước; xây dựng
-Nhóm III được gọi là nhóm ngành dịch vụ, bao gồm ngành dịch vụ, bao gồm các ngành sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ (dịch vụ sản xuất và dịch vụ không sản xuất) như thương nghiệp, vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc, giáo dục và đào tạo…
Ở Việt Nam dựa vào bảng phân loại tiêu chuẩn quốc tế các hoạt động kinh
tế (ISIC) của hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), ngày 27/10/1993 Chính phủ đã
ra Nghị định số 75/CP ban hành hệ thống ngành kinh tế quốc dân gồm 20 ngành cấp I như sau:
-Ngành công nghiệp và lâm nghiệp;
-Ngành thuỷ sản;
-Ngành công nghiệp khai thác mỏ;
-Ngành công nghiệp chế biến;
-Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước;
-Ngành xây dựng;
-Ngành thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy đồ dùng cá nhân và gia đình;
Trang 37-Ngành vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc;
-Ngành khách sạn và nhà hàng;
-Ngành tài chính tín dụng;
-Ngành hoạt động khoa học công nghệ;
-Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn;
-Ngành quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc; -Ngành giáo dục và đào tạo;
-Ngành y tế và hoạt động cứu trợ xã hội;
- Hoạt động văn hoá và thể thao;
-Hoạt động Đảng, Đoàn thể và hiệp hội;
-Ngành hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng;
-Ngành hoạt động làm thuê công việc gia đình trong các hộ tư nhân;
-Ngành hoạt động của các tổ chức và đoàn thể quốc tế
1.2.4.3 Phân tổ theo ngành sản phẩm
Phân tổ theo ngành sản phẩm thực chất và chủ yếu là phân ngành kinh tế sạch (phân ngành thuần tuý) đảm bảo cho từng ngành được thuần khiết hơn so với ngành kinh tế Theo hệ thống phân loại sản phẩm ở Việt Nam-TCTK 1997 thì toàn bộ sản phẩm được phân thành 5 cấp, gồm 10 loại sản phẩm cấp I, 68cấp
II, 294 cấp III, 1047 cấp IV và 1813 cấp V
Nguyên tắc phân tổ theo ngành sản phẩm:
- Dựa vào công dụng sử dụng của sản phẩm (hoặc chức năng sản xuất chính) giống nhau, nghĩa là lấy sản phẩm (hoặc loại hoạt động) làm đơn vị gốc
để tham gia phân tổ
-Quy trình công nghệ để sản xuất ra sản phẩm giống nhau
-Dựa vào nguyên liệu, nhiên liệu,vật liệu dùng để sản xuất ra sản phẩm hoặc các hoạt động giống nhau
Tác dụng của phân tổ theo ngành sản phẩm:
-Được sử dụng để lập bảng cân đối liên ngành (IO)
-Phục vụ công tác kiểm kê đánh giá hàng hoá,vật tư, tài sản trong nền kinh tế quốc dân
Trang 38Câu hỏi ôn tập
1 Nêu đặc điểm của liên hệ hàm số và liên hệ tương quan, lấy ví dụ?
2.Tại sao khi nghiên cứu mối liên hệ tương quan cần nghiên cứu hiện tượng
số lớn?
3.Trình bày tác dụng của phương pháp phân tích hồi quy và tương quan?
4 Nêu ý nghĩa của các hệ số trong mô hình hồi quy tuyến tính giữa hai tiêu thức số lượng?
5 Nêu các tính chất của hệ số tương quan (r)?
6 Nêu khái niệm, cấu thành và phân loại dãy số thời gian?
7 Nêu các chỉ tiêu phân tích đặc điểm biến động của hiện tượng theo thời gian và mối quan hệ giữa chúng?
8.Trình bày các phương pháp dự báo dựa theo dãy số thời gian và điều kiện vận dụng các phương pháp đó?
9.Trình bày khái niệm, đặc điểm và tác dụng của chỉ số thống kê?
10 Phân tích căn cứ để lựa chọn quyền số cho chỉ số tổng hợp Liên hệ với các chỉ số kinh tế xã hội thông dụng và chỉ rõ chúng được áp dụng dựa theo chỉ số tổng hợp nào?
11 Khái niệm, cấu thành hệ thống chỉ số Nội dung thành lập hệ thống chỉ số theo phương pháp liên hoàn?
12 SNA là gì? Nêu vai trò chủ yếu của SNA trong đời sống kinh tế xã hội?
13 Lãnh thổ kinh tế là gì? Phân biệt lãnh thổ kinh tế với lãnh thổ quốc gia?
14 Đơn vị thể chế là gì? Ví dụ minh họa?
15 Trình bày khái niệm và nguyên tắc phân ngành kinh tế?
16.Nêu mối quan hệ giữa ngành kinh tế với ngành sản phẩm trong thống kê kinh tế?
Trang 39Chương 2 THỐNG KÊ NGUỒN LỰC SẢN XUẤT XÃ HỘI
Mỗi quốc gia khi hoạch định các mục tiêu, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cần đánh giá đúng năng lực, nguồn nhân lực sản xuất xã hội Nguồn lực sản xuất xã hội bao gồm nhân lực, nguồn lực về tài chính và nguồn lực về vật chất Nhân lực được thể hiện qua hai chỉ tiêu: dân số và nguồn lao
2.1.1.1 Các chỉ tiêu biểu hiện quy mô dân số
Dân số một nước, một địa phương thường được biểu hiện qua hai chỉ tiêu khác nhau: Dân số thường trú ( Stht) và dân số hiện có ( Shc) Dân số thường
trú gồm những người được coi là cư trú thường xuyên trên lãnh thổ đó Dân số hiện có gồm những người thực tế có mặt tại lãnh thổ vào thời điểm điều tra
Hai chỉ tiêu này có quan hệ với nhau qua các chỉ tiêu dân số tạm trú (Stt)
và dân số tạm vắng (Stv) Cụ thể, ta có:
Stht = ( Shc – Stt) + Stv
Và Shc = ( Stht – Stv ) + Stt
Nói cách khác, dân số thường trú gồm dân số thường trú hiện có (Shc – Stt)
và dân số thường trú tạm vắng (Stv), còn dân số hiện có gồm dân số hiện có thường trú (Stht – Stv) và dân số hiện có tạm trú (Stt)
Cũng có thể biểu hiện mối liên hệ trên theo cách khác:
S tht = S hc + ( Stv – Stt )
VàShc = Stht + (Stt – Stv)
Điều đó có nghĩa là hai chỉ tiêu biểu hiện quy mô dân số khác nhau một lượng bằng lượng biến động cơ học tạm thời
Trang 40Lưu ý: Quy mô dân số là chỉ tiêu thời điểm
Cần lưu ý điều này khi biểu hiện dân số một thời kỳ (phải tính dân số bình quân theo thời gian), khi so sánh dân số với các chỉ tiêu thời kỳ và khi lựa chọn các phương pháp nghiên cứu (điều tra, phân tích)
Chỉ tiêu số dân trung bình
Phản ánh mức độ điển hình của quy mô dân số trong 1 thời kỳ được tính theo công thức
S S S
n n
S
2.1.1.2 Các chỉ tiêu cấu thành và kết cấu dân số
Thống kê là công cụ của nhận thức hiện thực khách quan Quá trình nghiên cứu thống kê là quá trình nhận thức Để nhận thức, cần biết các tiêu thức (đặc điểm được chọn làm cơ sở để nhận thức) Biết càng nhiều tiêu thức, nhận thức càng đầy đủ và sâu sắc Phân tổ thống kê từ đó tính được các chỉ tiêu cấu thành
và kết cấu là cơ sở để biết được nhiều đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu Có thể nghiên cứu cấu thành và kết cấu dân số trên cơ sở phân tổ dân số theo các tiêu thức chủ yếu sau:
* Cấu thành và kết cấu dân số theo giới tính
Chỉ tiêu này trong thống kê kinh tế được dùng để nghiên cứu năng lực sản xuất, tính toán nhu cầu Hai tập hợp dân số có quy mô như nhau nhưng có cấu thành theo giới tính khác nhau sẽ có năng lực sản xuất và nhu cầu khác nhau
* Cấu thành và kết cấu dân số theo độ tuổi
Tương tự như cấu thành và kết cấu dân số theo giới tính, chỉ tiêu này trong thống kê kinh tế được dùng để nghiên cứu năng lực sản xuất, tính toán nhu cầu Hai tập hợp dân số có quy mô như nhau nhưng có cấu thành theo độ tuổi khác nhau sẽ có năng lực sản xuất và nhu cầu khác nhau
Người ta thường kết hợp nghiên cứu cấu thành dân số theo giới tính và độ tuổi
* Cấu thành và kết cấu dân số theo nơi cư trú:
Thực chất là việc nghiên cứu phân bố dân cư Nghiên cứu phân bố dân cư