Cung thánh nhà thờ được trang trí theo lối hoa văn của các dân tộc ít người Tây Nguyên... Khu bảo tồn Ngọc Linh:..[r]
Trang 1Câu1 Trình bày nguồn gốc tên gọi" Kon Tum" Nêu những biến đổi về địa giới quản
lý hành chính tỉnh Kon Tum từ năm 1913 đến nay
* Nguồn gốc tên gọi Kon Tum:
Theo truyền thuyết của dân tộc Bana, Kon Tum ban đầu chỉ là một làng củangười Bana Thuở ấy, vùng đồng bào dân tộc Bana (nay thuộc thành phố Kon Tum)có làng người địa phương ở gần bên dòng sông Đăkbla với tên gọi Kon Trang - OR.Lúc ấy, làng Kon Trang - OR rất thịnh vượng với dân số khá đông Bấy giờ, giữa cáclàng luôn gây chiến với nhau để chiếm đoạt của cải và bắt người về làm nô lệ Haicon trai của Ja Xi - một trong số những người đứng đầu làng Kon Trang - OR tên là
Jơ Rông và Uông không thích cảnh chiến tranh đã làm nhà ở riêng gần chỗ có hồnước, cạnh dòng Đăkbla Vùng đất này rất thuận lợi cho phương thức sống định cư,nên dần dần có nhiều người đến ở, mỗi ngày một phát triển thêm đông, lập thành làngmới có tên gọi là Kon Tum Từ đó, Kon Tum trở thành tên gọi chính thức cho mộtlàng mới lập của người Bana, cạnh dòng Đăkbla, nơi có nhiều hồ nước trũng Theotiếng Kinh, Kon Tum có nghĩa là Làng Hồ (Kon là làng, Tum là hồ, ao, bàu nước, )
Do vị trí đặc biệt, Kon Tum là vùng đất bằng, được dòng Đăkbla uốn quanhbồi đắp phù sa màu mỡ Trải qua những biến động, thăng trầm của lịch sử, vùng đấtnày có nhiều biến đổi, đồng bào các dân tộc tụ hội về đây ngày một đông NgườiKinh khi đến Tây Nguyên cũng chọn vùng đất Kon Tum làm nơi định cư Từ đó, KonTum trở thành vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc Trong đó có sự hiện diện từ rấtsớm của các dân tộc bản địa như Ba Na, Xê Đăng, Jẻ - Triêng, Gia Rai, Brâu, RơMăm…
Phát huy những thuận lợi về điều kiện tự nhiên với sự cần cù lao động của conngười, vùng đất Kon Tum ngày càng phát triển thịnh vượng, không chỉ một làng mànhiều làng, bao quát cả vùng đất đai rộng lớn Vùng đất này khi thành lập thị xã cũngmang tên gọi chính thức là Kon Tum Khi đơn vị hành chính cấp tỉnh được thành lập,Kon Tum vẫn chính thức được dùng làm tên gọi của tỉnh Đây là vùng địa lý hànhchính được hình thành sớm nhất ở Tây Nguyên
* Những biến đổi về địa giới quản lý hành chính tỉnh Kon Tum từ năm 1913
Trang 2đến nay
Kon Tum thuở xưa còn rất hoang vắng, người thưa, đất rộng Các dân tộc bảnđịa gồm Xơ Đăng, Bana, Gia Rai, Jẻ - Triêng, Brâu, Rơ Măm Mỗi dân tộc gắn vớimột vùng cư trú khác nhau Nét đặc biệt trong thiết chế xã hội cổ truyền của các dântộc ở tỉnh Kon Tum là tổ chức xã hội duy nhất chỉ có làng Làng được xem như đơnvị hành chính mang tính bao quát và cụ thể, chi phối mọi hoạt động trong đời sống xãhội Mỗi làng mang tính độc lập riêng biệt, do một chủ làng là người có uy tín nhấttrong làng đứng đầu
Trong giai đoạn khởi nghĩa Tây Sơn (1771 - 1786), ba anh em Nguyễn Nhạc,Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã xây dựng mối quan hệ đoàn kết với các dân tộc vùngnày
Năm 1840, dưới thời vua Thiệu Trị, triều đình Huế lập Bok Seam - một ngườiBana làm quan cai trị các bộ tộc Tây Nguyên, đồng thời cho phép người Kinh vàngười các dân tộc được phép tự do quan hệ mua bán, trao đổi Từ đây, những lái buônngười Kinh bắt đầu đến với Tây Nguyên để mua bán, trao đổi hàng hóa
Trong thời gian này, người Pháp cũng tìm đường đến Kon Tum để truyền đạo.Trong giai đoạn 1841 - 1850, thực dân Pháp đã đặt được cơ sở Thiên chúa giáo đầutiên ở Kon Tum
Năm 1867, thực dân Pháp bắt đầu tấn công xâm lược Kon Tum - Tây Nguyên.Bằng những thủ đoạn thâm độc nhằm chia rẽ các dân tộc trong vùng, thực dân Phápđã thôn tính Kon Tum và Tây Nguyên
Năm 1892, thực dân Pháp đặt tại Kon Tum một tòa đại lý hành chính đầu tiên
do một cố đạo người Pháp là Vialleton, còn gọi là cha Truyền cai quản
Ngày 4-7-1904, thực dân Pháp thành lập tỉnh Plei Ku Der, bao gồm hai tòa đạilý hành chính: một tòa ở Kon Tum (trước đó thuộc tỉnh Bình Định) và một tòa ởCheo Reo (trước đó thuộc tỉnh Phú Yên)
Ngày 25-4-1907, thực dân Pháp chính thức bãi bỏ tỉnh Plei Ku Der Toàn bộđất đai của tỉnh Plei Ku Der gồm hai tòa đại lý hành chính Kon Tum và Cheo Reođược sáp nhập trở lại hai tỉnh Bình Định và Phú Yên như trước đó
Trang 3Ngày 9-2-1913, thực dân Pháp chính thức thành lập tỉnh Kon Tum, bao gồmđại lý hành chính Kon Tum tách ra từ Bình Định, đại lý hành chính Cheo Reo tách ratừ Phú Yên, đại lý hành chính Buôn Ma Thuột (Buôn Ma Thuột trước đó là một tỉnhriêng, nhưng đến năm 1913 giảm từ tỉnh xuống thành đại lý hành chính, sáp nhập vàotỉnh Kon Tum).
Năm 1917, thực dân Pháp thành lập tòa đại lý hành chính An Khê, gồm huyệnTân An và khu vực người dân tộc thiểu số đặt dưới quyền cai trị của công sứ tỉnhKon Tum
Ngày 2-7-1923, đại lý Buôn Ma Thuột được tách khỏi tỉnh Kon Tum để thànhlập tỉnh Đắk Lắk
Ngày 3-12-1929, thành lập thành phố Kon Tum (thực tế lúc đó chỉ là thị trấn,gồm tổng Tân Hương và một số làng dân tộc thiểu số phụ cận)
Ngày 25-5-1932, tách đại lý Pleiku ra khỏi tỉnh Kon Tum, thành lập tỉnh Pleiku(nay thuộc tỉnh Gia Lai) Đến ngày 9-8-1943, đại lý hành chính An Khê được táchkhỏi tỉnh Kon Tum, sáp nhập vào tỉnh Pleiku Tỉnh Kon Tum lúc bấy giờ chỉ còn lạitổng Tân Hương và toàn bộ đất đai vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Tổng Tân Hương là tên gọi tiền thân của thành phố Kon Tum hiện nay TổngTân Hương là nơi hội tụ của các làng người Kinh lên lập nghiệp tại Kon Tum Theothứ tự, các làng của tổng Tân Hương được thành lập theo thời gian và tên gọi nhưsau: Tân Hương (năm 1874); Phương Nghĩa (năm 1882); Phương Quý (năm 1887);Phương Hòa (năm 1892); Trung Lương (năm 1914); Phụng Sơn (năm 1924); NgôThạnh (năm 1925); Ngô Trang (năm 1925); Phước Cần (năm 1927); Lương Khế(năm1927)
Ngày 3-2-1929, theo nghị định của Khâm sứ Trung Kỳ, tổng Tân Hương đượclập thành thị trấn Kon Tum, từ đó thị trấn Kon Tum trở thành trung tâm chính trị -kinh tế - xã hội của tỉnh Kon Tum Theo thời gian, mảnh đất nơi đây không ngừngđược mở rộng và phát triển Ngoài các làng của người Kinh lập nên, về sau có thêmnhiều làng của người dân tộc thiểu số vùng ven như các làng Kon Rbàng, KonM'nai,ChưHreng, cũng nằm trong phạm vi quản lý hành chính của thị trấn Kon Tum
Tháng 8-1945, cùng với cả nước, ngày 25-8-1945, nhân dân Kon Tum đã nổidậy giành chính quyền Chính quyền cách mạng tổ chức lại tỉnh Kon Tum thành 4đơn vị hành chính gồm các huyện Đăk Glei, Đăk Tô, Konplong và thành phố KonTum Chính quyền cách mạng lâm thời tỉnh Kon Tum được thành lập đóng trụ sở tạithành phố Kon Tum để lãnh đạo nhân dân bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới
Ngày 26-6-1946, thực dân Pháp tấn công và chiếm lại Kon Tum, thiết lập trởlại bộ máy cai trị vùng này So với trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bộ máythống trị và chính sách cai trị của Pháp từ tỉnh tới làng không mấy thay đổi Đứng đầubộ máy hành chính cấp tỉnh là một công sứ người Pháp, bên dưới có các huyệnthường do tên đồn trưởng người Pháp nắm giữ rồi đến làng Thực dân Pháp đã tậphợp bọn tay sai người địa phương, đặc biệt là dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo các chủ làngđể nắm giữ bộ máy quyền lực ở cơ sở
Về phía cách mạng, sau khi thực dân Pháp tái chiếm Kon Tum, chính quyềncách mạng lâm thời tan rã, tổ chức Đảng bị phân tán, thất lạc Trong thời gian này,
Trang 4tỉnh Kon Tum chịu sự quản lý chỉ đạo về hành chính của xứ ủy Trung Kỳ và Phânban vận động quốc dân thiểu số Nam Trung Bộ.
Tháng 1-1947, thành lập Phân khu 15, trong đó nòng cốt là tỉnh Kon Tum vàcác huyện miền Tây của hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi Trên thực tế, tổ chứchành chính của Kon Tum vẫn giữ nguyên, nhưng chịu sự quản lý và chi phối củaPhân khu 15 về hoạt động quân sự Tháng 8-1947, Khu 15 Tây Nguyên được thànhlập, tỉnh Kon Tum là một trong những đơn vị hành chính trực thuộc Khu 15 Tháng3-1950, theo chủ trương của Liên Khu ủy V, tỉnh Kon Tum và tỉnh Gia Lai được sápnhập thành tỉnh Gia - Kon Ban cán sự Gia - Kon ra quyết định thành lập 7 khu(huyện) Địa bàn tỉnh Kon Tum tổ chức thành 3 khu: khu 1 (Đăk Glei); khu 2 (ĐăkTô); khu 3 (Konplong)
Tháng 10-1951, theo quyết định của Liên Khu uỷ V, tỉnh Kon Tum và cáchuyện phía tây Quảng Ngãi hợp nhất thành Mặt trận miền Tây
Tháng 2-1954, Kon Tum là tỉnh đầu tiên và duy nhất ở Tây Nguyên được hoàntoàn giải phóng Một thời gian sau, Mặt trận miền Tây cũng được giải thể Theo tinhthần Hiệp định Giơnevơ ký ngày 20-7-1954, tỉnh Kon Tum bước vào thời kỳ lịch sửmới
Về phía địch, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ - ngụy tiếp quản
Kon Tum Năm 1958, chúng chia bộ máy hành chính tỉnh Kon Tum thành tòa hànhchính Kon Tum - bộ máy hành chính cấp tỉnh, bên dưới gồm các quận Kon Tum, Đăk
Tô, Konplong và Đăk Sút
Năm 1958, nguỵ quyền thành lập quận Toumơrông Năm 1959, nguỵ quyềnthành lập thêm quận Chương Nghĩa Năm 1960, quận Konplong bị xóa bỏ Như vậy,thực tế quận Toumơrông và quận Chương Nghĩa chiếm gần trọn diện tích của quậnKonplong trước đó Một phần đất còn lại của quận Konplong không thuộc phạm vicủa hai quận mới này được sáp nhập về quận Kon Tum
Năm 1961, quận Chương Nghĩa bao gồm phần đất phía đông sông Đăk Nghé,giáp với Ba Tơ (Quảng Ngãi) được cắt về tỉnh Quảng Ngãi Tỉnh Kon Tum còn lại 4đơn vị hành chính cấp quận: Kon Tum, Đăk Tô, Đăk Sút, Toumơrông
Sau năm 1965, phân cấp hành chính của Nguỵ quyền Sài Gòn tại Kon Tum có
sự thay đổi Đối với khu vực thị xã, thị trấn đông dân, chúng vẫn giữ nguyên cấpquận; những nơi xa xôi, ít dân cư hơn, chúng giảm quận đặt thành phái viên hànhchính
Năm 1970, bộ máy hành chính của địch ngoài tòa hành chính và các ty, sở ởtỉnh, bên dưới có các cấp sau: quận Kon Tum, quận Đăk Tô, phái viên hành chínhĐăk Sút, phái viên hành chính Măng Buk, phái viên hành chính Chương Nghĩa (quậnChương Nghĩa chuyển về Quảng Ngãi một thời gian sau đó được nhập trở lại tỉnhKon Tum)
Năm 1972, nguỵ quyền cải danh chi khu Đăk Pét thành quận Đăk Sút để mởrộng chức năng về hành chính
Sau chiến dịch xuân - hè năm 1972, quân cách mạng giải phóng Đăk Tô - TânCảnh và đại bộ phận các vùng nông thôn, vùng kiểm soát của địch bị thu hẹp đángkể; quận lỵ Đăk Tô của địch phải lưu vong về đèo Sao Mai (đông nam thành phố Kon
Trang 5Tum); các chi khu Đăk Pét, Măng Đen, Măng Buk bị cô lập giữa vùng giải phóng của
ta Địch chỉ còn co cụm phần lớn tại khu vực thành phố Kon Tum
Năm 1974, quân ta tấn công tiêu diệt hoàn toàn các chi khu Đăk Pét, MăngĐen, Măng Buk Tận dụng thời cơ thắng lớn ở Buôn Ma Thuột, ngày 17-3-1975,quân và dân trong tỉnh đã nổi dậy tấn công vào đầu não của địch ở nội thị, giải phóngthành phố và toàn tỉnh Kon Tum
Về phía ta, đầu năm 1955, toàn tỉnh đuợc chia thành 6 khu nông thôn
(tương đương huyện) và một thành phố
Khu 1: lúc đầu là vùng đông và bắc thành phố Kon Tum, từ bờ sông Pô Kô (phía tây) đến bờ sông Đăk Nghé (phía đông)
Khu 2: bao gồm toàn huyện Konplong ngày nay
Khu 3: gồm một số vùng thuộc huyện Đăk Glei và một số vùng của Đăk Tô (nay thuộc huyện Đăk Hà) giáp với khu 6 và giáp với huyện Konplong ngày nay
Khu 4: vùng tây huyện Đăk Glei từ giáp Quảng Nam đến Đăk Nây Pui, phíatây giáp biên giới Lào
Khu 5: được hình thành và giải thể trước khi có hiệp định Giơnevơ nên khôngcòn Một phần khu 5 nhập vào khu 4, phần còn lại nhập vào khu 6
Khu 6: từ Vơmơna, phía đông giáp Măng Buk đến vùng Kayong giáp biên giớiLào, phía bắc giáp vùng Đăk Hà, phía nam đến Konplong
Khu 7: thuộc huyện Sa Thầy ngày nay
Cuối năm 1956, đầu năm 1957, các khu vực được sắp xếp lại và chuyển đổithành huyện: cắt một phần khu 3 giáp khu 6 thành khu 8; cắt một phần nam khu 2thành khu 9; giải thể khu 6 Hình thành nên các huyện: khu 1 và một phần khu 6 sápnhập thành huyện H16; khu 2 và khu 9 sáp nhập thành huyện H29; khu 3 chuyểnthành huyện H30; khu 8 và một phần khu 6 sáp nhập thành huyện H80; khu 4 thànhhuyện H40; khu 7 và một phần khu 6 sáp nhập thành huyện H67
Trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, các huyện trong tỉnh Kon Tumđều được gọi theo tên mật danh như: H16, H29, H30, H40, H67, H80 Riêng thànhphố Kon Tum lúc đó mang mật danh là H5 Vùng KonHring (nay thuộc huyện ĐăkHà) mang mật danh H9, ứng với mỗi mật danh có tên gọi cụ thể là: H16 (Konpraih);H29 (Konplong); H80 (Đăk Tô); H5 (thành phố Kon Tum); H30 (phía đông ĐăkGlei); H40 (phía tây Đăk Glei); H67 (Sa Thầy); H9 (Kon Hring)
Sau khi tỉnh Kon Tum được giải phóng (17-3-1975), toàn tỉnh có thànhphố Kon Tum và 6 huyện là H30, H40, H16, H29, H80, H67
Tháng 101975, tỉnh Kon Tum sáp nhập với tỉnh Gia Lai thành tỉnh Gia Lai Kon Tum, trên địa bàn tỉnh có các huyện: huyện Konplong (H16 + H29), huyện ĐăkGlei (H30 + H40), thành phố Kon Tum (H5 + H9), huyện Đăk Tô (H80) Năm 1979,thành lập huyện Sa Thầy trên cơ sở phần đất của H67 cũ
-Tháng 10-1991, tỉnh Kon Tum được tái lập trên cơ sở chia tách tỉnh Gia Lai
- Kon Tum Theo đó, một số huyện mới được thành lập như Ngọc Hồi (năm 1992);Đăk Hà (năm 1994), huyện Kon Rẫy (năm 2002), huyện Tu Mơ Rông (năm 2005)
Trang 6Đến năm 2005, tỉnh Kon Tum có 01 thành phố và 8 huyện Trong đó, thànhphố Kon Tum là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh.
Câu 2: Hiện nay, tỉnh Kon Tum có bao nhiêu Di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh cấp quốc gia và cấp tỉnh? Hãy nêu sơ lược về nội dung các di tích?
Hiện nay Kon Tum có 6 di tích lịch sử cách mạng, văn hoá và 6 danh lamthắng cảnh cấp quốc gia và cấp tỉnh
*Các di tích lịch sử cách mạng, văn hóa:
1 Nhà tù Kon Tum ( Ngục Kon Tum):
Vị trí: Nhà tù Kon Tum nằm ở phía tây thị xã Kon Tum
Nhà ngục Kon Tum được Pháp xây dựng năm 1930, nằm ở phía Bắc sông Đắk Bla,thuộc địa phận tỉnh Kon Tum (nay là thành phố Kon Tum) Tại ngục Kon Tum,tháng 9-1930, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Kon Tum được thành lập, dođồng chí Ngô Đức Đệ làm bí thư
Ngục Kon Tum là nơi giam giữ tù chính trị bị địch đưa từ Nghệ An, Hà Tĩnh,Thừa Thiên - Huế về, đồng thời cũng là nơi cung cấp nhân công khai phá miền caonguyên, mở đường 14 Tại ngục Kon Tum đã từng nổ ra nhiều cuộc biểu tình của cácchiến sĩ cộng sản, điển hình là cuộc biểu tình ngày 12-12-1931 để phản đối việc bắt tùnhân đi làm đường ở Đắk Pok trong điều kiện vô cùng cực khổ Cuộc biểu tình đã bịđàn áp làm 8 người chết, 8 người bị thương Đến 16-12-1931, cuộc biểu tình chuyểnsang biểu tình tuyệt thực buộc thực dân Pháp phải thay đổi chính sách cai trị tại đây
Trang 7
Pháp với tù chính trị trưng bày trong Ngục Kon Tum
Ngày nay trước những ngôi mộ của những chiến sỹ vô danh, nhà ngục, các vậtchứng tàn bạo của nhà ngục, những dấu tích của nó được thể hiện ngay trước mắtchúng ta, về một minh chứng hùng hồn về một cuộc đấu tranh đầy đau thương và mấtmát, hy sinh nhưng vô cùng kiên cường, anh dũng của dân tộc ta trên con đường giảiphóng dân tộc thống nhất đất nước.Ngày 16-11-1988, nhà ngục Kon Tum được Bộ
Văn hóa - Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia.
2 Di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh:
Di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh nằm trên một quả đồi có độ cao
600 m, cách thị trấn Đăk Tô 1 km về hướng Tây Nam Di tích nằm trên quốc lộ 14đoạn từ Đăk Tô đi Ngọc Hồi Đây là chiến trường ác liệt nhất của khu vực TâyNguyên, là căn cứ mạnh nhất của Mỹ và quân nguỵ Sài Gòn ở Bắc Tây Nguyên đượcgiải phóng tháng 4 năm 1972
Hiện nay di tích lịch sử chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh đã được xếp hạng ditích lịch sử Quốc gia, du khách đến thăm quan sẽ thấy sừng sững giữa trung tâm thịtrấn Đăk Tô đài tưởng niệm chiến thắng thể hiện sự đoàn kết, chung sức chung lòngcủa nhân dân các dân tộc Tây Nguyên với đảng, là nơi tưởng niệm các chiến sỹ cáchmạng đã hy sinh tại nơi này, từ trung tâm thị trấn du khách sẽ nhìn thấy tấm bia lớn
Trang 8ghi lại chiến tích lẫy lừng của chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh, sân bay PhượngHoàng được Mỹ xây dựng trải dài trên 2 km theo đường đi huyện Ngọc Hồi.
Với các dữ liệu lịch sử sinh động, hấp dẫn hiện đang được huyện Đăk Tô tôntạo, bảo quản sẽ giúp rất nhiều cho các du khách muốn tìm hiểu về chiến trường TâyNguyên, về truyền thống đấu tranh, truyền thống văn hoá của nhân dân các dân tộctỉnh Kon Tum và đặc biệt du khách đến thăm quan, nghiên cứu, tìm hiểu còn đượcthăm quan nét đặc trưng văn hoá của dân tộc Tây Nguyên (nhà Rông, các lễ hội, vănhoá, văn nghệ dân gian ) và nghỉ ngơi, thư giãn tại suối nước nóng Đăk Tô, ThácĐăk Lung thuộc địa phận xã Kon Đào
4 Di tích khảo cổ học Lung Leng:
Trang 9
Toàn cảnh khu di tích khảo cổ học Lung Leng
Di chỉ khảo cổ học Lung Leng nằm ở thôn Lung Leng, xã Sa Bình, huyện SaThầy, tỉnh Kon Tum Lung Leng đã cung cấp một hệ thống di tích và hiện vật vôcùng phong phú Bước đầu, một xã hội Tây Nguyên thời tiền sử đã tái hiện Qua khai quật, người ta thấy Lung Leng là di chỉ có tầng văn hóa nguyên vẹn phảnánh các giai đoạn phát triển cơ bản từ thời đại đá cũ đến thời đá mới, qua thời kì kimkhí, thậm chí cả thời kì trung đại Đây là nơi tập trung với mật độ cao nhiều loạihình di vật, di tích như rìu bôn đá mài toàn thân, bàn mài, hòn ghè, hòn nghiền, đồ
Qua khai quật hàng loạt, phát hiện mới được ghi nhận, đặc biệt là di cốt và dấuvết vỏ trấu, cho thấy tục táng người chết của cư dân cổ, đồng thời xác nhận nghềtrồng lúa đã xuất hiện rất sớm tại Tây Nguyên
Những phát hiện bước đầu ở Di chỉ khảo cổ học Lung Leng đã được giới thiệunghiên cứu, khảo cổ đánh giá cao Mới đây, thủ tướng chính phủ đã có quyết địnhgiao cho trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quốc gia phối hợp với bộkhoa học - công nghệ và bộ văn hóa - thông tin tiếp tục triển khai thực lên giai đoạn
2 (đánh giá, phân loại, bảo quản di vật và hồ sơ khoa học) dự án “Khai quật di chỉLung Leng (Kon Tum)” thuộc dự án “Thủy điện YaLy”
Di chỉ khảo cổ học Lung Leng là một trong những di sản văn hóa lớn của cả nước Qua di chỉ văn hóa này, chứng tỏ người tiền sử đã có mặt, sinh sống ở đây từ
trước một vạn năm
Khuyên tai đường kính 50cm Các loại rìu Bát đồng
Trang 115 Nhà mồ Tây Nguyên:
Nhà mồ - nét văn hóa truyền thống của Tây Nguyên
Nhà Mồ, và Tượng Mồ, là mảng đặc sắc của văn hóa cổ truyền TâyNguyên (Nam Trung bộ, Việt Nam) Trong thời gian gần đây, truyền thống dựng nhàmồ-tượng mồ chỉ còn thấy tập trung ở các dân tộc Ba na, Ê đê, Gia rai, Mnông, XơĐăng
Nhà mồ được xây trùm trên nấm mộ và là trung tâm của lễ bỏ mả Nhà mồ có nhiềuloại khác nhau Trang trí nhà mồ thường sử dụng 3 màu: đen, đỏ và trắng
Tượng mồ là loại tác phẩm điêu khắc độc đáo bậc nhất của vùng đất này, trong đótượng mồ Gia rai, Ba na phong phú và đặc sắc hơn cả
Nhà mồ là cách ứng xử của cộng đồng người sống Tây Nguyên đối với ngườichết bao gồm nghi lễ ma chay Họ tin rằng linh hồn người chết không thể từ thế giớibên kia trở về thế giới bên này để họp mặt cùng con cháu đang sống, cùng con cháuchia sẻ bữa cơm gia đình dưới một mái nhà
Hay nói cách khác họ không có hình thức thờ phụng tổ tiên như người Kinh Mà họchỉ “quan hệ” với người đã khuất trong thời gian nhất định, từ khi người ấy trút hơithở cuối cùng cho đến lúc đi hẳn khỏi trần gian
Làng ma:
Đồng bào dân tộc Tây Nguyên phân chia khu vực cư trú của mình thành 2phần: Làng chính cống, tức khu vực của người sống còn làng phụ là khu vực cư trúcủa người chết Khu vực cư trú của người chết bao giờ cũng áp sát khu vực của ngườisống về phía Tây Trục Đông Tây là con đường nối liền người sống với thế giới củathần linh, là mặt phẳng của trần gian, là ranh giới giữa cái sống – chết, ánh sáng vàbóng tối
Mấy chục năm trở lại đây nhà mồ và tượng mồ Tây Nguyên chỉ còn tập trung chủ yếu ở ba tộc: Bana, Êđê, Gia rai, Mnông và Xơ đăng Họ đều là những cư dân nông nghiệp canh tác lúa rẫy mỗi năm chỉ thu hoạch một mùa vào tháng 11 và 12 sau đó là thời gian nghỉ ngơi Trước khi bước sang chu kỳ trồng trọt mới bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 4 Trong thời gian nông nhàn người ta tổ
Trang 12chức ăn tết theo từng làng với nhiều lễ tục như cầu an, cúng lúa mới, đặc biệt là lễ bỏ mả thường rộ vào tháng 2, 3 Người ta gọi đây là mùa bỏ mà.
Hiện vật trong nhà mồ của người Cơtu Ảnh: nhandan.com.vn
Giai đoạn chưa bỏ mả, có thể là một năm hoặc nhiều hơn thế, tuỳ tập quán của từngtộc người Trong giai đoạn chưa bỏ mả người sống phải thường xuyên chăm sócngười mới khuất, cung cấp thức ăn hàng ngày cho người chết ngay ở mả và cộng cảmvới người chết qua cúng bái Quan trọng nhất là phải dựng một ngôi nhà che nấm mồvới những biểu hiện ngoại hình gắn với quan niệm về thế giới của tộc người, trong đóchứa đựng con đường dẫn linh hồn người chết qua thế giới bên kia
Trong áo quan được mái nhà mồ che chở, người chết nằm dài trên trục ĐôngTây, đầu về phía mặt trời mọc, chân về phía mặt trời lặn, nghĩa là mặt hướng về phíatây, phía âm u Không gian linh thiêng quanh nhà mồ được một hàng rào tượng gỗbao quanh, đây là hạn định khu vực linh thiêng cho từng ngôi mộ được bố trí thànhmột hình chữ nhật theo hướng Đông Tây và lối ra vào bao giờ cũng ở mặt Đông củahình chữ nhật
Tại lối ra vào mặt Đông của từng nhà mả có hai pho tượng hoàn toàn khácnhau, một nam và một nữ đứng cạnh hai bên lối đi, ngó mặt vào nhau ở một tư thếsinh động nhất Vào lúc bình minh trong những ngôi nhà mồ, mặt trời mọc lên, cáctia sáng ban mai đầu tiên dọi vào không gian linh thiêng, soi sáng cả đôi nam nữ Cólẽ phải sống những giây phút tương tự như thế người ta mới nhận ra được, mới cảmđược cái linh của những nghi lễ ma chay ngay giữa nhà mồ Những con người chưakịp thoát khỏi thân cây, khỏi lòng thiên nhiên vốn chứa sự sống bỗng đọng lại khi gặptrời đất, ánh sáng, trong những tư thế chưa kịp nói lên một hành động rõ nghĩa nào,những đường viền đơn sơ, những khối mộc mạc, tuy có lúc thô ráp nhưng tổng hoàlại thành một bố cục khá độc đáo Sự sống và cái chết mặc dù đối lập nhau nhưngkhông phản bác nhau, trái lại bổ sung cho nhau, nối tiếp nhau, cái này sinh thành cáikia
Trong nghĩa địa của làng, mỗi người chết thường được chôn một mộ riêng, íttrường hợp chôn 2 đến 3 người nhưng tộc Gia rai lại có tục chôn kế tiếp từ 3 đến 4người trong một quan tài, nhiều quan tài chôn vào một mộ bởi vậy có những mộ 30-
Trang 1340 người Theo quan niệm của họ, kể từ khi tử thi được chôn cất, ma trú ngụ ngay tạinhà mồ trong nghĩa địa Về sau nó sẽ hành trình tới sống với tổ tiên ở thế giới ma -thế giới của người chết ở một nơi xa xôi, mơ hồ Người ta tin rằng ma sẽ không ở mãithế giới đó, về sau nó sẽ trở lại làm người bằng cách nhập vào một đứa trẻ mới sinhthuộc dòng họ người quá cố.
Lễ bỏ mả chính là để tiễn biệt ma sang thế giới bên kia- thế giới của ma Sau khi làmlễ bỏ mả, người vợ hoặc người chồng goá sẽ hết giai đoạn tang chế đồng thời cũngchấm dứt quan hệ vợ chồng với người đã chết Thời gian này thường sau mai táng 3năm hoặc lâu hơn Ỏ các làng Gia Rai nhiều trường hợp kéo dài tới 10 năm
Tang gia tổ chức việc bỏ mả một cách chu đáo, trọng thể theo phong tục cổtruyền Lễ bỏ mả diễn ra sôi động ngay trong nghĩa địa, đây thực sự là lễ hội lớn nhất,quan trọng nhất của người dân trong làng Trước kia, mỗi cuộc bỏ mả thường kéo dài5- 7 ngày đêm, ngày nay khoảng 3 ngày đêm Để tổ chức bỏ mả, tang gia phải ủ sẵnnhiều rượu cần, trâu bò lợn gạo đồng thời có sự tham gia giúp đỡ như một tập tục củatoàn thể dân làng và bà con gần xa Tuỳ theo mỗi gia đình, lễ bỏ mả thường đông tớimấy trăm người, giết thịt hàng chục con trâu con bò, rượu cần hàng trăm ché Nếungười chết thuộc dạng khá giả có vị thế trong làng, thì lễ bỏ mả còn lớn và linh đìnhhơn
Trung tâm của lễ bỏ mả là ngôi nhà mồ mới bao quanh và trùm lên mộ Nóđược nghệ nhân trong làng làm và trang trí công phu, giành nhiều thời gian công sứcvà tài nghệ để tạo dựng ngôi nhà mới thật đẹp cho người chết Nhà mồ với nhữngtượng mồ được dựng lên ngay trước lễ bỏ mả và chỉ để phục vụ mấy ngày lễ bỏ mảcòn sau đó người ta bỏ cho mưa nắng dãi dầu và nó sẽ bị huỷ hoại dần theo nămtháng, ngay cả ngôi mộ cũng không được thăm nom như trước kia
Kiến trúc của người chết:
Kiến trúc của nhà mồ không hoàn toàn giống nhau có loại đơn giản có loại cầukỳ với nhiều hoa văn Nó nổi bật từ xa, trên nóc phô ra nhiều hoa văn vẽ hoặc đan.Các mép mái thường có thanh gỗ ốp, chúng tạo thành từng đôi, bắt chéo nhau tại nóc.Theo truyền thống Tây Nguyên, người ta thường dùng ba màu trang trí nhà mồ làđen, đỏ và trắng Mỗi nhà mồ kiểu cổ truyền là một công trình nghệ thuật đích thựctuy mộc mạc thô sơ nhưng hài hoà và đặc sắc
Tượng mồ là một trong những tác phẩm điêu khắc độc đáo và phong phú: cótượng người cả nam cả nữ ở những tư thế và tình huống khác nhau, có tượng con vật,tượng đồ vật trong đó những tượng liên quan đến chủ đề sinh thành chiếm số lượngđáng kể
Mái nhà của nhà mồ có cơ cấu phát triển theo chiều cao, trong đa số các trườnghợp làm bằng tre đan Tuỳ theo mỗi dân tộc trang trí theo hình thù riêng Mái nhà củangười Ba Na mang hoa văn hình học với hai mặt phẳng chính còn của người Gia Raimang hoa văn hiện thực với các loại cây, động vật Mỗi một loại hoa văn với cách sắpxếp khác nhau là một gợi ý về vũ trụ luận Có thể đó là biểu tượng của mặt trời, mặttrăng và các thiên thể Người Ba Na gọi cột là Klao mà họ quan niệm là đường dẫn
Trang 14linh hồn người chết lên trời, họ còn gọi các vật trang trí bên ngoài là mặt Nar (mặttrời), mặt Khei (mặt trăng).
Cùng với những chuyển biến trong cuộc sống của các dân tộc, nhà mồ vàtượng mồ có khá nhiều thay đổi Ở nhiều nơi đã thấy phổ biến những nhà mồ làmtheo hướng đơn giản, ít trang trí hơn và sử dụng những vật liệu mới như lợp bằng tôn,ngói hoặc phủ vải trắng thay vì mái cỏ tranh hay ván với phên nan tre, xây tườnggạch và quét vôi ve thay vì dựng vách nhà và hàng rào bằng gỗ tròn đồng thời người
ta cũng thêm vào những màu mới dùng sơn công nghiệp để tô vẽ, còn tượng thì ít dần
đi nhưng ngày một phong phú về đề tài Bên cạnh những dạng tượng quen thuộc cổtruyền, người ta cũng đưa hình ảnh cuộc sống đương thời vào thế giới tượng mồ như:người lính phương Tây, cô y tá, thợ chụp ảnh, học sinh, bộ đội,… Nhưng họ vẫn làmtất cả chỉ bằng chiếc rìu, con dao, cái đục
Nhà mồ Tây Nguyên là một phần vô cùng quan trọng và rất đặc sắc trong vănhoá cổ truyền của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên Nó vừa là văn hoá vật thể, vừalà văn hoá phi vật thể, vừa có giá trị nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, lại vừa có ýnghĩa về dân tộc, tôn giáo Gắn liền với nhà mồ và tượng mồ là hàng loạt các yếu tốvăn hoá của cư dân Tây Nguyên
6 Nhà thờ gỗ Kon Tum:
Trang 15
Nhà thờ nằm trên đường Nguyễn Huệ - thành phố Kon Tum, được xây dựngnăm 1913, là một công trình được kiến trúc toàn bằng gỗ, đẹp theo lối Roman Từ xa,tháp chuông cao ngất, sừng sững trên nền trời Bên trong, cột và các giàn gỗ được lắpghép một cách tinh xảo và khéo léo Cung thánh nhà thờ được trang trí theo lối hoavăn của các dân tộc ít người Tây Nguyên Nhà thờ là nơi các giáo dân cùng nhau đi lễtạo nên những nét trang nghiêm và tôn kính của giáo đường
Nhà thờ Gỗ Kon Tum được xây dựng gần 90 năm Công trình là sự kết hợpgiữa phong cách châu Âu và nét văn hóa Tây Nguyên
Nhà thờ Chánh tòa Kon Tum, người dân gọi gần gũi là nhà thờ Gỗ, được xâydựng ở trung tâm thị xã từ năm 1913, tới năm 1918 thì hoàn thành Nhà thờ được làmhoàn toàn bằng gỗ cà chít, theo phong cách Roman kết hợp với kiến trúc nhà sàn củangười Ba Na, là một công trình khép kín gồm: giáo đường, nhà tiếp khách, nhà trưngbày các sản phẩm dân tộc và tôn giáo, nhà rông Ngoài ra, trong khuôn viên nhà thờcòn có cô nhi viện, cơ sở thủ công mỹ nghệ của đồng bào dân tộc Tuy gồm nhiềucông trình nhưng do sắp xếp hài hòa nên bố cục tổng thể nhà thờ không bị phá vỡ,ngược lại thánh đường còn được tôn thêm vẻ đẹp nhờ khu hoa viên với nhà rông caovút, điểm xuyết các bức tượng làm bằng rễ cây có tính mỹ thuật cao
Với hệ thống cột gỗ, rui mè trong nhà thờ tuy không chạm khắc tỉ mỉ, công phunhư ở các nhà rường cổ của người Kinh nhưng chính những hoa văn có đường nétphóng khoáng đã thể hiện được cái chất của người Tây Nguyên, hồn nhiên và khỏemạnh Thánh đường có rất nhiều khung cửa piarô kính mầu vẽ các điển tích trongkinh thánh, các khung cửa này vừa có tác dụng lấy ánh sáng vừa tạo thêm vẻ rực rỡ,tráng lệ cho giáo đường Không bêtông cốt thép, không một chút vôi vữa, nét độc đáocủa ấn tích này là tất cả các bức tường đều được xây bằng đất trộn rơm - kiểu làm nhàcủa người miền trung, dù gần một thế kỷ trôi qua vẫn vững vàng, bền đẹp
Một vị linh mục cho biết, nhà thờ Gỗ được dựng lên hoàn toàn bằng phươngpháp thủ công, bàn tay tài hoa của các nghệ nhân người Kinh từ Bình Định, Quảng
Trang 16Nam và cả từ miền bắc vào đã làm nên điều kỳ diệu đó Đến với nhà thờ Gỗ KonTum, du khách được ngắm một công trình nghệ thuật đã tồn tại cả trăm năm.
Cầu có chiều dài 292m, rộng 4,5m, xây dựng vào ngày 3/2/1993 và hoàn thànhngày 1/5/1994, có màu vàng cam thật nổi bật trong cái nắng vàng oi ả Dòng sôngĐăk Bla mùa nắng trơ ra những hòn đá cuội bên lòng sông êm ả, hài hòa, bóng chiếccầu uy nghi in dưới dòng nước phẳng lặng Dưới cái nắng chiều tà từng đoàn xe bòchở đầy ắp những củ khoai mì vừa mới đươc thu hoạch trong ngày, những ngườinông dân vội vã trở về nhà sau một ngày lao động vất vả và bọn trẻ đang nô đùa tronglàn nước mát lạnh, trong lành, tạo ra một không khí thanh bình của núi rừng TâyNguyên hùng vĩ
Bao quanh Kon Klor là những ngọn núi được bao phủ bởi những nương dâuxanh rì của người dân nơi đây Cầu Kon Klor đã bắt nhịp đôi bờ sông đưa mọi ngườiđến gần nhau hơn, chiếc cầu được đưa vào sử dụng thì cũng chấm dứt luôn nhữngchuyến đò ngang bằng xuồng độc mộc đã từng bao năm qua lại đôi bờ
Đến đây, du khách có thể ghé thăm làng dân tộc Bah Nar - Kon Klor ở hữungạn dòng sông, uống với họ can rượu cần rồi lên đường vượt dòng sông qua cầu treođể đến một vùng đất phù sa trù phú Đó là những vườn chuối, vườn cà phê và các loạicây ăn quả Vượt con đường quanh co khoảng 6km, du khách đến làng KonKơtu, mộtlàng dân tộc Bah Nar còn giữ nguyên được những nét sinh hoạt và cảnh vật thiênnhiên hoang sơ
2 Khu bảo tồn Ngọc Linh: