1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Huyền Trân doc

3 220 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài liệu Huyền Trân doc
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 148,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Huyền TrânTượng Huyền Trân Công Chúa Điện thờ Huyền Trân Công Chúa tại Huế Huyền Trân, một công chúa đời nhà Trần, là con gái của vua Trần Nhân Tông và là em gái vua Trần Anh Tông, cháu

Trang 1

Huyền Trân

Tượng Huyền Trân Công Chúa

Điện thờ Huyền Trân Công Chúa tại Huế

Huyền Trân, một công chúa đời nhà Trần, là con gái của vua Trần Nhân Tông và là em gái vua

Trần Anh Tông, cháu của công chúa An Tư thuộc nhà Trần trong lịch sử Việt NamNăm 1306, Huyền Trân được gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân (tiếng Phạn: Jaya Sinhavarman III) để đổi lấy hai châu Ô, Lý

Sử sách

Bà sinh vào năm 1287

Vào năm 1293, vua Trần Nhân Tông thoái vị, truyền ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, trở thành Thái thượng hoàng, lên tu ở núi Yên Tử Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận lời mời, du ngoạn vào Chiêm Thành, được vua Chiêm Thành Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, có ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng Khi ra về, Trần Nhân Tông có hứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất là hoàng hậu Tapasi, người Java Sau đó nhiều lần Chế Mân sai sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng triều thần nhà Trần phản đối, chỉ

có Văn Túc Vương Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành

Trang 2

Năm 1306, Chế Mân dâng hai châu Ô, Rý làm hồi môn, vua Trần Anh Tông đồng ý gả Huyền Trân cho Chế Mân Huyền Trân về Chiêm Thành, được phong làm hoàng hậu Paramecvari Một năm sau đó, khi hoàng hậu người Đại Việt vừa sinh xong hoàng tử Chế Đa Đa, thì tháng 5 năm 1307, quốc vương Chế Mân băng hà Thế tử Chiêm sai sứ sang Đại Việt báo tang Theo tục nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên dàn hỏa để tuẫn tang[1] Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân Trần Khắc Chung bày kế thành công, cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền, đưa Huyền Trân về Đại Việt bằng đường biển Cuộc hải hành này kéo dài tới một năm và theo Đại Việt Sử ký Toàn thư thì Trần Khắc Chung đã

tư thông với công chúa

Tháng 8 năm Mậu Thân (1308), Huyền Trân về đến Thăng Long Theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, công chúa đầu gia Phật giáo ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh) vào năm (1309), dưới sự ấn chứng của quốc sư Bảo Phát Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng

Cuối năm Tân Hợi (1311), Hương Tràng cùng một thị nữ trước đây, bấy giờ đã qui y đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản (nay thuộc Nam Định), lập am dưới chân núi Hổ để tu hành Sau đó, am tranh trở thành điện Phật, tức chùa Nộm Sơn hay còn gọi là Quảng Nghiêm Tự

Huyền Trân xã báo an tường ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn (1340) Dân chúng quanh vùng thương tiếc và tôn bà là "Thần Mẫu" và lập đền thờ cạnh chùa Nộn Sơn

Các triều đại sau đều sắc phong bà là thần hộ quốc Vua triều Nguyễn ban cho công chúa chiếu báu nâng bậc tăng là "Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần"

Nhận định

Trích lưu bút của bà Trương Mỹ Hoa, nguyên phó chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam lưu tại Huyền Trân Công Chúa Điện, Huế:

"Có những vấn đề của phụ nữ phải được giải quyết từ Quốc gia, có những vấn đề của Quốc gia phải giải quyết từ người phụ nữ"

Huyền Trân trong thi ca nghệ thuật

Trang 3

Bia ký tại Điện thờ Huyền Trân Công Chúa, Huế

Câu chuyện về Huyền Trân đã trở thành một đề tài trong thi ca, nghệ thuật

Trong dân gian, có lẽ vì thời đó người Việt coi người Chăm là dân tộc thấp kém nên đã có câu:

Tiếc thay cây quế giữa rừng

Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo

Một số tác phẩm có nói đến Huyền Trân như:

Âm nhạc

Trường ca Con đường Cái Quan của Phạm Duy

Tiễn biệt Huyền Trân của Phạm Duy phổ thơ Đào Tiến Luyện

Huyền Trân Công chúa của nhạc sĩ Nguyễn Hiền

Nhớ của nhạc sĩ Châu Kỳ

Tình sử Huyền Trân của Nam Lộc

Sương gió Chiêm Thanh - cổ nhạc

Thơ

Công chúa Huyền Trân của Hoàng Cao Khải

Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,

Vốn đà không mất lại thêm lời,

Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm,

Một gái Huyền Trân của mấy mươi !

Lòng đỏ khá khen lo việc nước,

Môi son phải giống mãi trên đời

Châu đi rồi lại châu về đó,

Ngơ ngẩn nhẩn nhau mấy đứa Hời

Tiễn biệt Huyền Trân của Đào Tiến Luyện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày đăng: 09/12/2013, 23:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w