CƠ SỞ LÝ THUYẾT MÁY NÂNG CHUYỂN
Giới thiệu chung về thiết bị nâng chuyển
Máy nâng chuyển là thiết bị chuyên dụng để di chuyển các vật thể bằng cách sử dụng các công cụ như móc treo, gầu ngoạm, nam châm điện, băng tải và gầu.
Máy trục là thiết bị nâng và vận chuyển quan trọng trong quá trình cơ giới hóa sản xuất, đặc biệt trong ngành công nghiệp và xây dựng Tại các nước phát triển, ngành máy nâng chuyển đã trở thành một lĩnh vực công nghiệp tiên tiến, với sự chú trọng vào cải tiến thiết bị nâng Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đòi hỏi nâng cao năng suất lao động, dẫn đến nhu cầu không ngừng cải tiến kỹ thuật của máy nâng và vận chuyển.
Trong ngành công nghiệp mỏ, việc sử dụng các loại thang tải và xe kíp băng tải là rất cần thiết Bên cạnh đó, ngành luyện kim cũng cần những cần trục nặng để phục vụ cho kho chứa quặng và nhiên liệu.
Máy nâng và vận chuyển được sử dụng rộng rãi trong các công trình nhà ở, nhà công cộng, cửa hiệu lớn và ga tàu điện ngầm, bao gồm thang máy, thang điện cao tốc cho nhà cao tầng, buồng chở người và thang điện liên tục Đặc biệt, siêu thị sử dụng nhiều cầu thang cuốn để phục vụ nhu cầu di chuyển của khách hàng.
Trong các nhà máy và phân xưởng cơ khí, việc sử dụng máy nâng chuyển di động như cần trục, cầu trục và cổng trục là rất phổ biến Những thiết bị này, hoạt động bằng điện, khí nén hoặc thủy lực, có năng suất cao và được thiết kế để di chuyển các chi tiết máy hoặc máy móc một cách hiệu quả.
Ngành máy nâng và vận chuyển hiện đại đang thúc đẩy cơ giới hoá quá trình vận chuyển trong các lĩnh vực công nghiệp và kinh tế quốc dân Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế, kỹ thuật nâng – vận chuyển cần cải tiến máy móc, giảm trọng lượng và giá thành, đồng thời nâng cao chất lượng sử dụng, tăng sản lượng, đơn giản hoá và tự động hoá quy trình điều khiển và chế tạo máy móc hiệu quả hơn.
Tại Việt Nam, máy nâng và vận chuyển đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như xếp dỡ hàng hóa tại các bến cảng, nhà ga và đường sắt Chúng đóng vai trò quan trọng trong ngành xây dựng nhà ở, sản xuất công nghiệp, luyện kim, lâm nghiệp và quốc phòng Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, nhu cầu sử dụng máy nâng và vận chuyển ngày càng trở nên cấp bách do yêu cầu sản xuất ngày càng tăng cao.
1.2 Các thông số cơ bản của máy nâng
1.2.1 Tải trọng nâng và tải trọng tính toán
Các tải trọng dùng trong cơ sở thiết kế máy nâng gồm có:
Tải trọng nâng danh nghĩa
Tải trọng nâng của máy nâng là trọng lượng danh nghĩa của vật nâng mà máy có thể nâng hạ được theo tính toán thiết kế
Q = Qv + Qmt (1.1) Trong đó: Qv – trọng lượng vật nâng, N;
Qmt – trọng lượng bộ phận mang tải, N
Tải trọng từ trọng lượng bản thân máy
Trọng lượng bản thân máy bao gồm trọng lượng các cơ cấu, trọng lượng phần kết cấu thép và trọng lượng các chi tiết phụ trợ
Máy nâng có chiều cao lớn, như cần trục cảng và cần trục xây dựng, cần phải tính toán tải trọng do gió gây ra Tải trọng gió ảnh hưởng đến độ bền của các bộ phận và chi tiết máy nâng, cũng như độ ổn định khi hoạt động Cường độ tải trọng gió thay đổi theo chiều cao, cấp gió, điều kiện thời tiết của từng khu vực và diện tích chắn gió của các bộ phận máy nâng.
Khi thiết kế kết cấu thép cho máy nâng, cần xem xét tải trọng gió trong hai tình huống: đầu tiên là khi máy nâng đang hoạt động, nhằm xác định áp lực gió lớn nhất mà máy có thể chịu đựng trong quá trình làm việc.
Để đảm bảo máy nâng hoạt động hiệu quả, cần xác định áp lực gió lớn nhất tác động lên máy Thông tin này là cơ sở quan trọng để tính toán và thiết kế bộ phận khoá hãm của máy trên đường ray.
Tải trọng động là lực tác động khi máy hoạt động thực tế Để xác định tải trọng động, cần xây dựng mô hình động lực học của máy nâng và giải các phương trình chuyển động dựa trên sơ đồ một, hai hoặc nhiều khối lượng.
Khẩu độ máy nâng : là khoảng cách tâm giữa hai đường ray của bánh xe di chuyển máy, được ký hiệu là L, m
Khoảng cách hai cầu : là khoảng cách tâm trục bánh trước và bánh sau của máy, ký hiệu là a, m
Tầm vươn : là khoảng cách nằm ngang từ tâm quay của máy đến tâm vật nâng, ký hiệu là L1, m Tầm vươn chỉ có ở các máy cẩu có tay cần
Chiều cao nâng : là khoảng cách thẳng đứng từ vị trí thấp nhất đến vị trí cao nhất của cơ cấu mang vật khi làm việc, ký hiệu là H, m
1.2.2 Các thông số động học
Vận tốc nâng, ký hiệu Vn (m/s) hoặc (m/ph), là tốc độ nâng danh nghĩa của máy nâng Tốc độ này phụ thuộc vào tải trọng nâng, tính chất công việc mà máy phục vụ, cùng với nhiều yếu tố khác.
Vận tốc di chuyển, ký hiệu là Vd (m/s) hoặc (m/ph), là tốc độ di chuyển danh nghĩa của máy nâng hoặc xe con trên máy nâng Vận tốc này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trọng lượng máy, tải trọng nâng và tính chất công việc.
Tốc độ quay của các máy nâng như cần trục xây dựng, ôtô cẩu và cần trục nổi thường được giới hạn từ 1 đến 3,5 vòng/phút Giới hạn này giúp giảm thiểu tải trọng quán tính khi di chuyển vật nâng đến các vị trí khác nhau xung quanh.
Các cơ cấu máy nâng hoạt động theo chế độ ngắt đoạn, với sự luân phiên giữa các thời kỳ làm việc và không làm việc Để đảm bảo tính kỹ thuật và kinh tế, việc lựa chọn và thiết kế máy nâng phải phù hợp với chế độ làm việc Chế độ làm việc danh nghĩa của một cơ cấu hoặc toàn bộ máy nâng được xác định dựa trên điều kiện sử dụng và mức độ chịu tải theo thời gian, với các thông số đặc trưng rõ ràng.
+ Hệ số sử dụng cơ cấu theo tải trọng:
Trong đó: Qtb - trọng lượng trung bình của vật nâng
Q - tải trọng danh nghĩa của cơ cấu
+ Hệ số sử dụng cơ cấu trong ngày
+ Hệ số sử dụng cơ cấu trong năm
+ Cường độ làm việc của động cơ
Trong đó: To - thời gian làm việc của động cơ trong một chu kì hoạt động của máy:
T – toàn bộ thời gian hoạt động của cơ cấu trong một chu kì:
∑tm: tổng thời gian mở máy
∑tv : tổng thời gian chuyển động với tốc độ ổn định
∑tp : tổng thời gian phanh
∑td : tổng thời gian dừng máy
PHÂN LOẠI MÁY NÂNG CHUYỂN VÀ TÌM HIỂU CHUNG VỀ CỔNG TRỤC
Dựa theo cấu tạo và nguyên lý làm việc máy nâng được phần thành các loại:
Cầu trục là thiết bị quan trọng được sử dụng trong các phân xưởng và nhà kho để nâng hạ và vận chuyển hàng hóa với lưu lượng lớn, đặc biệt phổ biến trong ngành công nghiệp chế tạo máy và luyện kim Cầu trục được phân loại theo kết cấu thành cầu trục một dầm và cầu trục hai dầm, phục vụ cho các nhu cầu vận chuyển vật liệu chuyên dụng.
Hình 2.1 Cầu trục tại nhà xưởng
+ Cổng trục: củng như cầu trục cổng trục được sử dụng rộng rãi trong các nhà kho, phân xưởng và vận chuyển hàng hóa
+ Bán cổng trục: có cấu tạo như cổng trục nhưng có một đầu giàn thép lắp chân cổng, đầu kia đặt lên cao như cầu trục
Cần trục là thiết bị quan trọng trong xây dựng và bốc dỡ hàng hóa, với nhiều loại khác nhau bao gồm cần trục tháp, cần trục tháp quay di động, cần trục buồm, cần trục chân đế, cần trục nối và cần trục cáp.
Hình 2.4: Cần trục trong xây dựng
2.2 Tìm hiểu chung về cổng trục
Cổng trục là một loại máy nâng có dạng cổng, có thể di chuyển được trên hai đường ray đặt trên mặt đất hoặc lắp đặt cố định
Cổng trục bao gồm các thành phần chính như kết cấu thép, cơ cấu nâng, cơ cấu di chuyển xe con, cơ cấu di chuyển cầu, cơ cấu điều khiển và cơ cấu an toàn.
Cổng trục là thiết bị phổ biến nhất để bốc dỡ và vận chuyển hàng khối, vật liệu rời tại các kho bãi, bến cảng và nhà ga Thiết bị này được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như xây dựng dân dụng, công nghiệp, thủy lợi, thủy điện, quốc phòng và xây dựng dầm cầu.
Sức nâng của cổng trục nằm trong phạm vi rất rộng từ 1 đến 500 tấn, tường hợp cá biệt có thể nâng đến 1000 tấn
Cổng trục được phân thành ba loại chính dựa trên công dụng của chúng: cổng trục dùng để xếp dỡ hàng hóa, cổng trục phục vụ lắp ráp trong xây dựng và cổng trục chuyên dụng cho các nhiệm vụ đặc biệt.
Dựa vào kết cấu thép phân thành cổng trục không có xông xôn, cổng trục có một đầu công xôn, cổng trục có hai đầu công xôn
Cổng trục không có công xôn là loại cổng trục mà phần rìa phía ngoài không tồn tại, dầm của cổng trục bằng với chân chống, cho phép di chuyển hàng hóa trong phạm vi bên trong chân chống Với độ vững cao và khả năng nâng tải trọng lớn, loại cổng trục này được thiết kế và chế tạo đơn giản, thường được lắp đặt trong các nhà xưởng có kết cấu đơn giản nhằm tiết kiệm chi phí Tuy nhiên, cổng trục này yêu cầu nhiều khoảng không gian để lắp đặt, do đó không phù hợp cho những khu vực có không gian làm việc hạn chế.
Hình 2.1: cổng trục không có công xôn
Cổng trục có công xôn được thiết kế với một hoặc hai đầu dư ra trên dầm, cho phép các bánh xe con di chuyển ra ngoài phạm vi của chân chống Điều này giúp sản phẩm có thể được di chuyển ra ngoài chân cổng trục, mang lại tính linh hoạt trong không gian làm việc hạn chế Loại cổng trục này phù hợp cho những khu vực có mặt bằng nhỏ hẹp nhưng yêu cầu tầm hoạt động rộng lớn.
Hình 2.2: Cổng trục có hai đầu công xôn
PHẦN B: PHẦN TÍNH TOÁN THIẾT KẾ
PHÂN TÍCH LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ, THÀNH LẬP SƠ ĐỒ ĐỘNG MÁY
THÀNH LẬP SƠ ĐỒ ĐỘNG MÁY
3.1 Phương án kết cấu thép
3.1.1 PA1: Dầm kết cấu có dạng chữ I
Dầm chủ được chia thành 4 đoạn và lắp ghép với nhau bằng liên kết bu lông tinh và tấm bản giằng tại công trường Các thanh giằng bằng thép chữ [ được liên kết với dầm chủ qua mối ghép hàn tại xưởng chế tạo Chân cổng cũng được kết nối với dầm chủ bằng liên kết bu lông tinh và được chế tạo từ thép định hình, sau đó được vận chuyển và lắp dựng tại công trường.
Hình 3.1: Dầm có mặt cắt là 2 thép chữ I
1 Chân cổng trục 2 Dầm chính chứ I 3 Ray
Phương pháp này có những ưu nhược điểm sau: Ưu điểm:
- Đì tốn công chế tạo, lắp ráp nhanh vì sử dụng thép định hình
- Việc bảo quản và bảo dưìng duy tu, đại tu cũng rất đơn giản
- Dễ phát hiện các hỏng hóc và sai lệch lắp ráp trong quá trình chế tạo
- Trọng lượng bản thân của dầm rất lớn nên không tiết kiệm vật liệu chế tạo
Việc tìm kiếm thép chữ I định hình cho chế tạo gặp nhiều khó khăn do yêu cầu cao về độ thẳng và độ đồng nhất của chất lượng thép.
- Ngoài ra mặt cắt của loại thép I này là rất lớn, chiều cao nó thường từ 1.000 - 1.500mm
- Giá thành chế tạo cao do vật liệu đắt
3.1.2 PA2: Dầm có kết cấu kiểu giàn
Cổng trục chế tạo bao gồm hai dàn chủ và các thanh giằng xiên, được kết nối bằng mối ghép hàn từ các thanh thép góc Dàn chủ được chia thành 4 đoạn với chiều dài khác nhau, và các đoạn này được liên kết với nhau thông qua mối ghép bulông nhờ vào các bản nối phụ bằng thép tấm.
Chân cổng được thiết kế với kết cấu dàn và liên kết với dàn chủ bằng bulông tinh Mỗi chân cổng bao gồm hai cụm bánh xe di chuyển: một cụm chủ động và một cụm bị động, và việc liên kết của cụm bánh xe với chân cổng phụ thuộc vào kết cấu của cụm bánh xe.
Mặt dàn nơi đặt palăng được hàn gia cố thêm với các thanh thép hình, trên các thanh này có khoan lỗ để bắt bulông với cụm tời
Ray được chia thành bốn đoạn dài bằng các khúc dàn chủ, được liên kết với nhau bằng bulông thông qua các tấm ghép phụ bằng thép Bản cánh trên của thép được hàn liên kết với dàn chủ, trong khi bản cánh dưới được khoan lỗ để bắt bulông với ray chạy palăng.
Phương pháp này có những ưu, nhược điểm sau: Ưu điểm :
- Cổng trục có trọng lượng bản thân nhỏ hơn kết cấu dầm rất nhiều, vật liệu dễ kiếm, và dễ xử lý phôi liệu
Dàn có độ cứng cao và ổn định vượt trội so với kết cấu dầm, giúp gia cường hiệu quả tại các khu vực có ứng suất lớn và ứng suất tập trung Đồng thời, tại những vị trí có lực nhỏ, mặt cắt của các thanh trong dàn có thể được giảm thiểu Nhờ đó, việc thay đổi mặt cắt các thanh trong dàn chế tạo trở nên linh hoạt và dễ dàng theo biểu đồ lực.
- Tính toán thiết kế phức tạp vì các thanh trong dàn chịu lực khác nhau
- Chế tạo rất tốn công do việc pha các phôi liệu phức tạp và đòi hỏi nhiều nguyên công
- Việc thực hiện nối ghép cũng tốn nhiều công sức
- Khó có thể gia công chính xác
Hình 3.2: Dầm chủ có mặt cắt là dạng dàn tổ hợp từ các thép góc
3.1.3 PA3: Dầm chủ là dầm hộp liên kết bởi các thép bản được hàn với nhau
Cổng trục có cấu trúc hình hộp với mặt cắt dầm chủ và chân cổng được thiết kế hợp lý Dầm chủ được chia thành bốn đoạn, liên kết với nhau bằng bu lông tinh tại công trường Hai dầm được kết nối thông qua các thanh giằng bằng thép góc, có thể sử dụng liên kết hàn hoặc bu lông Phương án này mang lại một số ưu điểm và nhược điểm đáng chú ý.
Phương án thiết kế này sử dụng mặt cắt dầm chủ được tạo thành từ các tấm thép, giúp dễ dàng chế tạo với kích thước và hình dáng linh hoạt.
- Vật liệu dễ dàng tìm kiếm
- Đơn giản trong việc chế tạo và nối ghép
- Đơn giản cho quá trình tính toán và thiết kế
- Có thể làm dầm có mặt cắt thay đổi để giảm tự trọng bản thân và tiết kiệm vật liệu
- Thời gian chế tạo và lắp dựng ngắn
- Tự trọng bản thân rất lớn Tuy vậy điều này có thể khắc phục bằng cách khoét lỗ ở bản bụng hoặc làm dầm dạng mặt cắt thay đổi
- Chế tạo tốn nhiều công sức trong việc nắn sửa thép, nhưng bù lại thời gian liên kết nhanh
- Khi chiều cao cổng trục lớn thì diện tích chịu gió của cổng trục là rất lớn thường gấp từ 1,5 - 2 lần so với dạng dàn
Hình 3.3: Dầm chủ là dầm hộp liên kết bởi các thép bản dược hàn với nhau
Thông qua việc phân tích lựa chọn phương án kể trên, nhận thấy phương án 3 là phù hợp nhất
3.2 Phương án cơ cấu nâng hạ hàng
Cơ cấu nâng (CCN) bao gồm các thành phần chính như động cơ, khớp nối, phanh, hộp giảm tốc, tang cuốn cáp, dây cáp, móc treo và ròng rọc Tất cả các bộ phận này được lắp đặt trên một khung hàn vững chắc, đi kèm với bốn bánh xe dưới khung để dễ dàng di chuyển trên đường ray.
Cơ cấu nâng vật sử dụng pa lăng đơn có nhược điểm là tải trọng tác động lên các gối đỡ của tang không đồng đều trong suốt quá trình nâng và hạ Điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu suất và độ bền của thiết bị, đồng thời gây ra sự chuyển động không ổn định của vật nâng.
Khi nâng hạ, các thanh cáp không đều theo phương thẳng đứng là điều không mong muốn Hơn nữa, palăng đơn có bội suất lẻ khiến cho các nhánh cáp có xu hướng xoắn lại nhiều hơn so với palăng có bội suất chẵn.
Palăng kép khắc phục nhược điểm của các loại palăng khác, đặc biệt là trong ứng dụng cầu trục với tang kép Sơ đồ mắc cáp kiểu này cho phép vật nâng di chuyển thẳng đứng, giảm thiểu dao động và lắc ngang Vì vậy, việc lựa chọn cơ cấu nâng sử dụng palăng kép là cần thiết cho quá trình tính toán và thiết kế.
Cơ cấu nâng của cầu trục có nhiều loại hình và cấu trúc khác nhau Để lựa chọn cơ cấu nâng thích hợp, cần xem xét các phương án khác nhau nhằm đánh giá ưu nhược điểm của từng loại, từ đó có cơ sở khoa học để đưa ra quyết định chọn lựa phương án tối ưu nhất.
3.2.1 PA1: Cơ cấu nâng có sử dụng cặp bánh răng hở
Hình 3.4 Phương án cơ cấu nâng dẫn động bằng hệ bánh răng hở
1- Động cơ; 2- Khớp nối đàn hồi+ Phanh; 3- Hộp giảm tốc; 4- Khớp nối
5- Cặp bánh răng ngoài; 6- Tang cuốn cáp
[Type text] Page 20 Đối với loại này khi động cơ (1) làm việc sẽ truyền chuyển động qua hộp giảm tốc
Bánh răng ngoài (5) truyền mô men tới tang cuốn cáp (6), qua đó, palăng thắng lực chuyển đổi chuyển động quay của động cơ thành chuyển động tịnh tiến.
CCN dạng này có kết cấu đơn giản, giúp giảm chi phí sản xuất và dễ dàng tháo lắp sửa chữa Vật được nâng lên một cách ổn định theo phương thẳng đứng Tuy nhiên, nhược điểm chính là cần phải bôi dầu mì thường xuyên cho cặp bánh răng hở, điều này có thể gây ra tiếng ồn trong quá trình hoạt động.
3.2.2 PA2: Cơ cấu nâng không sử dụng cặp bánh răng hở
Hình 3.5: Phương án cơ cấu nâng dẫn động không có cặp bánh răng hở
1- Động cơ; 2- Khớp nối đàn hồi+ Phanh; 3- Hộp giảm tốc;
4- Khớp nối; 5- Tang cuốn cáp
TÍNH TOÁN THIẾT KẾ CƠ CẤU NÂNG
4.1 Giới thiệu chung về cơ cấu nâng
Để xây dựng kết cấu truyền động cho máy nâng, cần xác định mục đích và ảnh hưởng chính của cơ cấu Trước tiên, quyết định loại truyền động và nguồn năng lượng sử dụng, sau đó lựa chọn phương pháp công tác, loại truyền động, phương pháp điều khiển và mục tiêu kinh tế cần đạt được.
Trong một cơ cấu bao giờ cũng có ba phần chính:
Bộ phận công tác là thành phần quan trọng trong máy móc, chịu trách nhiệm nhận năng lượng hoặc cơ năng từ các bộ phận trước đó để thực hiện nhiệm vụ chính của cơ cấu Ví dụ điển hình là hệ thống ròng rọc cáp và móc treo, đóng vai trò thiết yếu trong cơ cấu nâng hạ vật.
Bộ phận truyền động: là phần trung gian nhận, biến đổi, phân phối và truyền năng lượng từ bộ phận dẫn động đến bộ phận công tác
Bộ phận dẫn động là thành phần chính tạo ra lực và năng lượng cần thiết cho các bộ phận công tác hoạt động hiệu quả Nó bao gồm nhiều loại động cơ như động cơ điện, thủy lực, đốt trong và khí nén, đảm bảo thực hiện chức năng công việc một cách tối ưu.
Cơ cấu nâng là thiết bị dùng để nâng hạ vật theo phương thẳng đứng, có thể là máy nâng độc lập như tời hoặc palăng cố định, hoặc là bộ phận của máy nâng trong các hệ thống như cầu trục, cổng trục và cần trục.
Cơ cấu nâng của cổng trục thường có ba loại chính:
Cơ cấu nâng kiểu treo thường được sử dụng cho cổng trục một dầm, với palăng điện hoặc palăng tay làm công cụ nâng hạ Cả hai loại palăng này có khả năng di chuyển dọc theo dầm chính để thực hiện việc nâng hạ vật Chúng được chế tạo hoàn chỉnh theo yêu cầu về tải trọng, tốc độ nâng và chế độ làm việc Cơ cấu này di chuyển trên hai cánh dưới của dầm chữ I nhờ vào bánh xe và thường được áp dụng cho tải trọng nâng nhỏ.
Cơ cấu nâng kiểu đặt thường được sử dụng cho cổng trục hai dầm, được chế tạo và lắp đặt trên xe con để di chuyển dọc theo dầm chính Cơ cấu này di chuyển trên ray được lắp trên dầm nhờ vào các cụm bánh xe chủ động và bị động.
Có thể có từ một đến ba cơ cấu nâng, bao gồm một cơ cấu nâng chính, cho phép nâng tải trọng lớn.
Cơ cấu nâng bố trí ngoài xe con giúp giảm tải trọng cho dầm chính bằng cách lắp đặt trên chân cổng, cho phép vật nâng di chuyển qua hệ thống ròng rọc và cáp Tuy nhiên, nhược điểm của hệ thống này là sự phức tạp trong kết cấu và mạng lưới cáp chằng chịt.
4.2 Chọn phương án thiết kế cho cơ cấu nâng
+ Trọng lượng bộ phận mang: Qm = 0,05 × Q = 0,05 × 250000 = 12500 (N) (theo trang 14 [3]) (4.1)
+ Vận tố nâng:Vn = 3, 7 ( m/ph )
Theo TCVN 5862 – 1995, chế độ làm việc của cơ cấu nâng được xác định dựa vào cấp tải và cấp sử dụng Cụ thể, chế độ M4 được lựa chọn, phù hợp với máy sử dụng trong phân xưởng với tần suất hoạt động gián đoạn và đều đặn.
Cơ cấu nâng được thiết kế dùng:
Động cơ điện được chia thành hai loại chính: động cơ điện một chiều và động cơ điện xoay chiều Trong đó, động cơ điện xoay chiều 3 pha phổ biến trong công nghiệp nhờ vào công suất lớn, độ bền cao, momen khởi động lớn và khả năng đảo chiều dễ dàng Ngược lại, động cơ điện một chiều cho phép điều chỉnh tốc độ linh hoạt, khởi động êm và dễ hãm, nhưng có giá thành cao và yêu cầu lắp đặt phức tạp với bộ chỉnh lưu Mặc dù động cơ xoay chiều không linh hoạt về tốc độ như động cơ một chiều, nhưng với những ưu điểm về tính thông dụng, độ bền và kinh tế, động cơ xoay chiều vẫn là lựa chọn hợp lý Do đó, khi thiết kế cơ cấu nâng cho cổng trục hai dầm, động cơ điện xoay chiều ba pha là sự lựa chọn phù hợp.
+ Hộp giảm tốc : Sử dụng bộ truyền bánh răng trụ, bộ truyền bánh răng bôi trơn bằng ngâm dầu
Tang được sản xuất từ gang xám và có thiết kế xẻ rãnh, giúp phân bố ứng suất đều trên cáp Điều này không chỉ giảm thiểu ứng suất tập trung mà còn hạ giá thành so với việc sử dụng thép.
Khi lựa chọn cáp nâng, cần xem xét hệ số an toàn cho phép và tuổi thọ của dây cáp để đảm bảo phù hợp với tải trọng nâng và khả năng chịu lực căng lớn Có hai loại cáp chính được sử dụng là cáp bện xuôi và cáp bện chéo.
Cáp bện xuôi có đặc tính mềm dẻo, dễ dàng uốn cong qua ròng rọc và tang, đồng thời sở hữu khả năng chống mòn tốt Tuy nhiên, do cấu trúc tiếp xúc giữa các sợi cáp, loại cáp này có nhược điểm là dễ bị tưa khi bị đứt và có xu hướng xoắn lại khi một đầu ở trạng thái tự do.
Cáp bện chéo có độ cứng cao và dễ mòn do tiếp xúc điểm giữa các sợi, nhưng lại khó bị tở và không xoắn khi một đầu ở trạng thái tự do Dựa vào tính chất của cáp và cấu trúc của cơ cấu nâng, loại cáp bện chéo được lựa chọn Trong cơ cấu nâng, có nhiều loại phanh như phanh má, phanh đĩa, phanh đai, phanh nón, phanh áp trục và phanh ly tâm Để đảm bảo an toàn và phù hợp với hệ thống dẫn động điện độc lập, phanh thường đóng được sử dụng.
Cáp được lựa chọn làm dây cho cơ cấu làm việc với động cơ điện vận tốc cao nhờ vào nhiều ưu điểm vượt trội so với các loại dây khác như xích hàn và xích tấm Hiện nay, cáp là loại dây thông dụng nhất trong ngành máy trục.