Triết học Ấn Độ cổ đại
Trang 1Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 1
Chương 1 : Mở Đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Triết học ra đời vào khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI tr CN với những thành tựu rực rỡ trong các nền triết học cổ, trung đại Ấn Độ Do có phạm vi phản ánh rộng, phong phú, đa dạng, bao quát được nhiều lớp sự vật khác nhau của thế giới, nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học và nhận thức Điều này thể hiện "các nhà triết học Ấn Độ cổ, trung đại đã có một tư duy phân loại đạt đến trình độ cao và
sự phân tích sâu sắc đến kinh ngạc Họ không dừng lại ở các vấn đề nhân sinh quan
mà đặc biệt quan tâm đến các vấn đề bản thể luận
Trong đời sống tinh thần của người Ấn Độ, triết học có một vai trò khá quan trọng, chính là sự gần gũi và gắn liền với các tôn giáo, mang đượm màu sắc chủ nghĩa duy linh, chính chủ nghĩa duy linh đã cho Ấn Độ khả năng chống lại các cuộc chiến tranh của thù trong giặc ngoài Hết người Hy Lạp, người Mông Cổ, đến người Pháp, người Anh đã muốn đồng hóa nền văn minh của đất nước này, nhưng người dân Ấn Độ vẫn ngẩng cao đầu Trong suốt quá trình lịch sử của mình, đất nước Ấn
Độ tồn tại vì một mục đích: Đấu tranh cho chân lý và chống lại mọi sai lầm Lịch
sử tư tưởng Ấn Độ đã và đang minh chứng về những cuộc kiếm tìm vô tận của trí tuệ trong quá khứ, hiện tại và tương lai"
Ấn Ðộ là thiên đường của đủ loại hình tôn giáo, từ mê tín sâu sắc, với những
lý thuyết khác nhau và các vị thánh, khất sĩ, ẩn sĩ, hiền giả và người vô tín ngưỡng Theo thống kê năm 2001, người Ấn Độ theo Ấn giáo 80.5%, Hồi giáo 13.4 %, Kitô giáo 2.3%, Sikh 1.9%, các tôn giáo khác 1.8%, không xác định 0.1%
Ở Việt Nam, những tư tưởng triết học Ấn Độ có ảnh hưởng rất lớn, nó đã cấu thành nền văn hóa dân tộc, cũng như nhân cách, đạo đức của mỗi người dân Việt Đối với đời sống tinh thần nó được thể hiện trên nhiều lĩnh vực của xã hội và thay đổi theo thời gian lịch sử Hiện nay, trong đời kiện đất nước đang phát triển và hòa nhập với thế giới thì ảnh hưởng của triết học Ấn Độ cổ, trung đại cũng có những
Trang 2Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 2
biến đổi khác nhau, có nhân tố ảnh hưởng tích cực và cũng có nhân tố ảnh hưởng tiêu cực trong đời sống tinh thần con người Việt Nam
Vì thế, việc nghiên cứu các tôn giáo, trường phái triết học lớn và lâu đời nhất thế giới được hình thành từ thời cổ trung đại của Ấn Độ, nhằm tìm ra những giá trị
và hạn chế của nó là lý do chọn đề tài tiểu luận này
1.2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về triết học Ấn Độ cổ, trung đại và đạt được những kết quả đáng trân trọng Nhiều tác giả đã đề cập một cách khái quát hóa
và đi sâu nghiên cứu chi tiết ở nhiều góc độ khác nhau, làm phong phú thêm nhận thức của nhân loại về triết học Ấn Độ cổ, trung đại Phân tích những giá trị và hạn chế của triết học Ấn Độ cổ, trung đại là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập Tuy nhiên, dưới góc độ nhìn nhận của cá nhân về những giá trị và hạn chế của triết học Ấn Độ cổ, trung đại có giá trị hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của người Việt Nam hiện nay, nhất là trong giai đoạn xây dựng hình ảnh con người mới con người xã hội chủ nghĩa của nước ta Vì vậy, trong giới hạn của tiểu luận, sẽ kế thừa và phát huy những công trình đi trước để nhìn nhận, phân tích và đưa ra những giá trị và hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ, trung đại, qua đó, cá nhân có liên hệ đến thực tiễn tại Việt Nam
1.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1.3.1 Mục đích
Tiểu luận sẽ khái quát về triết học Ấn Độ cổ đại, với cách nhìn nhận, phân tích cá nhân đưa ra những giá trị và hạn chế của Triết học Ấn Độ cổ đại, qua đó, cá nhân có liên hệ đến thực tiễn Việt Nam
1.3.2 Nhiệm vụ
Khái quát nội dung tư tưởng triết học Ấn Độ cổ, trung đại; đưa ra những giá trị tích cực và hạn chế triết học Ấn Độ cổ, trung đại; liên hệ thực tiễn Việt Nam, đề xuất hướng phát huy những giá trị tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nền triết học Ấn Độ cổ trung đại đến nước ta hiện nay
Trang 3Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 3
1.4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Cơ sở lý luận
Trên quan điểm, lập trường của Triết học Mác; Tư tưởng của Hồ Chí Minh
về triết học, tôn giáo cổ, trung đại Ấn Độ; Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về con người và xây dựng hình ảnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới Lập trường khách quan, trung thực, tôn trọng giá trị lịch sử, nguyên văn tác phẩm với bối cảnh xuất hiện của nền triết học Ấn Độ
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương thu thập thông tin và tài liệu; phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh theo chuỗi thời gian lịch sử; kết hợp các phương pháp khái quát hóa các dữ liệu thu thập được trên cơ sở đánh giá thực tiễn phổ biến
1.5 Những đóng góp của tiểu luận
Tiểu luận góp phần vào việc tìm hiểu những giá trị và hạn chế của nền triết học Ấn Độ cổ, trung đại một cách tương đối đầy đủ hơn Liên hệ đối chiếu, phân tích ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội, đồng thời nêu một số giải pháp phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của triết học Ấn Độ cổ, trung đại trong quá trình đổi mới của nước ta
1.6 Kết cấu của Tiểu luận
Chương 1 : Phần mở đầu : nêu lên lý do nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ
của đề tài; trình bày sơ bộ về phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của đề tài
Chương 2 : Khái quát về điều kiện ra đời, hình thành và phát triển của triết
học Ấn Độ cổ, trung đại Nội dung cơ bản của các tư tưởng triết học Ấn Độ cổ, trung đại, các tôn giáo lớn thời kỳ này Nêu lên những giá trị và hạn chế của nền triết học Ấn Độ cổ trung đại
Chương 3 : Ảnh hưởng của nền triết học Ấn Độ cổ, trung đại đến đời sống
kinh tế xã hội nước ta Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang xây dựng hình ảnh con người mới Đưa ra một vài giải pháp cơ bản nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong đời sống kinh tế xã hội Việt Nam
-/| -
Trang 4Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 4
Chương 2 : Triết học Ấn Độ cổ đại – những giá trị tích cực và hạn chế
2.1 Điều kiện ra đời, hình thành và phát triển triết học Ấn Độ cổ đại
2.1.1 Điều kiện ra đời
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện thiên nhiên và khí hậu của Ấn Độ rất phức tạp Địa hình vừa có nhiều núi non trùng điệp, vừa có nhiều sông ngòi với những vùng đồng bằng trù phú; có vùng khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều, có vùng lạnh giá, quanh năm tuyết phủ, lại cũng có những vùng sa mạc khô cằn, nóng nực Tính đa dạng, khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và khí hậu là những thế lực tự nhiên đè nặng lên đời sống và ghi dấu ấn đậm nét trong tâm trí người Ấn Độ cổ
2.1.1.2 Điều kiện xã hội
2.1.1.2.1 Thời kỳ văn minh sông Ấn (Hay nền văn minh Harappa)
Xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ III đầu thế kỷ II tr CN Qua các di chỉ khảo cổ cho thấy đây là một nền văn minh đồ đồng mang tính chất đô thị của một
xã hội đã vượt qua trình độ nguyên thủy, đang tiến vào giai đoạn đầu của xã hội chiếm hữu nô lệ Sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp
đã đạt tới một trình độ nhất định Thời kỳ này cũng đã có chữ viết, được thấy trên các quả ấn bằng đồng hay đất nung Tôn giáo cũng đã xuất hiện biểu hiện qua các hình nổi điêu khắc trên các quả ấn
2.1.1.2.2 Thời kỳ Vêđa (khoảng từ thế kỷ XV đến thế kỷ VII tr.CN)
Thời kỳ này hình thành các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên trên lưu vực sông Hằng và sông Ấn Đó là chế độ xã hội dựa trên sự phân biệt về chủng tộc, màu
da, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệ giao tiếp, tục cấm kỵ hôn nhân và sự phân biệt đẳng cấp sâu sắc góp phần quy định cơ cấu xã hội và ảnh hưởng đến hình thái tư tưởng Ấn Độ cổ đại, quá trình này hình thành nên các tôn giáo lớn mà tư tưởng và tín ngưỡng của nó đã ảnh hưởng đậm nét tới đời sống tinh thần xã hội Ấn
Độ cổ đại
Trang 5Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 5
2.1.1.2.3 Thời kỳ từ thế kỷ VII đến thế kỷ I tr CN
Các quốc gia chiếm hữu nô lệ đã thực sự phát triển, thường xuyên thôn tính lẫn nhau dẫn đến sự hình thành các quốc gia lớn Trong thời kỳ này nền kinh tế, xã hội và văn hóa Ấn Độ có những bước phát triển tiến bộ vượt bậc Mặc dù nền kinh
tế tự nhiên vẫn chiếm ưu thế, nhưng thương nghiệp, buôn bán cũng phát triển hình thành một tầng lớp mới trong cơ cấu giai cấp xã hội – tầng lớp thương nhân và thợ thủ công Tiền kim loại xuất hiện, nhiều thành phố trở thành trung tâm công thương nghiệp quan trọng Nhiều con đường thương mại thủy bộ nối liền các thành this với nhau và thông thương quốc tế dần dần xuất hiện
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại
2.1.2.1 Triết học thời kỳ Véđa
Kinh Véđa là những bộ kinh cổ nhất của Ấn Độ và của nhân loại Đó là một
bộ sách thu lượm tất cả những câu ca dao, vịnh phú, những tư tưởng, quan điểm, những tập tục, lễ nghi của nhiều bộ lạc người Arya Chữ Véđa bắt nguồn từ căn tự
“vid”, nghĩa đen là “tri thức”, “hiểu biết” Nó cũng được dùng chung với nghĩa là
“thánh kinh”, là “sự sáng suốt cao nhất”
Tư tưởng triết học trong kinh Véđa là tư tưởng tôn giáo Họ giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội thông qua các vị thần, có 3 vị thần (3 ngôi tối linh) : thần lửa cai quản hạ giới, thần gió cai quản không trung, thần mặt trời cai quản thiên giới Quan niệm về xã hội bao gồm thần linh, con người và quỷ ác Về vũ trụ : thiên giới, trần thế, địa ngục
Tư tưởng triết học trong kinh Upanishad: (đây là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của kinh Véđa) Upanishad có nghĩa là ngồi trang nghiêm cùng giảng giải lý thuyết cao siêu, huyền bí với thầy Upanishad không phải là một tác phẩm trình bày có hệ thống, chặt chẽ những quan điểm của một trường phái triết học, mà được viết dưới hình thức hội thoại giữa thầy và trò Nội dung chủ yếu bình giải ý nghĩa sâu xa của bài kinh, các nghi lễ của kinh Véđa Với xu hướng chính là biện hộ học thuyết duy tâm, tôn giáo trong kinh Véđa Họ giải thích “tinh thần sáng tạo tối cao” là thực thể duy nhất, có nước, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt và sinh ra tất cả
Trang 6Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 6
thế giới, linh hồn con người chỉ là một bộ phận của “inh hồn tối cao” Sự xuất hiện của Upanishad được coi là “bước nhảy” hoàn toàn từ thế giới quan thần thoại, tôn giáo sang tư duy triết học
2.1.2.2 Triết học thời kỳ Ramayana và Mahabharata
Ramayana gồm 24 ngàn câu thơ đôi, chia thành bảy quyển (Kanda), mô tả cuộc đời gian truân của hoàng tử Rama và vợ là công nương Sita với sự bảo hộ của thần khỉ Hanuman; việc Ravana cưới Sita, cuộc chiến tranh chống lại quỉ sứ, sự trở về kinh đô Ayodhya, và cuối cùng cái chết và lên trời của Rama Nhiều chuyện phiêu lưu mô tả rất sinh động và rộng lớn trong Ramayana cũng như nội dung phi thường của nó đã làm tác phẩm này, cùng với Mahabharata trở thành nguồn cảm hứng chính cho văn học Ấn Ðộ
Mahabharata bao gồm hơn 110.000 câu thơ, và là cuốn thiên sử thi dài nhất trên thế giới Tác phẩm này được coi là “Đại Bách khoa toàn thư” về văn hóa truyền thống, về các truyền thuyết và về các thể chế chính trị - xã hội của Ấn Độ cổ xưa
Nó là tấm gương phản chiếu toàn bộ đời sống con người Ấn Độ truyền thống như lời một câu ngạn ngữ cổ: “Cái gì không thấy được ở trong Mahabharata thì cũng không thể nào thấy được ở Ấn Độ.”
Nội dung cơ bản của bộ sử thi Mahabharata nói về cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai dòng họ Kaurava và Pandava, cả hai đều là dòng dõi vua Bharata vào khoảng thế kỷ 11 TCN đến thế kỷ 10 TCN Do đó tên Mahabharata có nghĩa là “các truyện vĩ đại của triều đại nhà Bharata” Bên cạnh nội dung chính, chỉ chiếm chừng 1/4 độ dài tác phẩm, bộ sử thi này còn có rất nhiều sự tích thần linh, những truyện ngụ ngôn về muông thú, những cuộc phiêu lưu và những câu chuyện tình thú vị, hấp dẫn li kì (như chuyện nàng Savitri cãi lại Diêm vương để được lấy anh chàng đốn củi ) Nhưng trong tác phẩm Mahabharata, các giáo sĩ Ấn Độ giáo đã đưa vào những giáo lý triết học tự biện siêu hình về pháp (dharma), nghiệp (karma), về sự giải thoát (moksha), những ẩn dụ triết học, châm ngôn xử thế
2.1.2.3 Triết học chính thống (Samkhuya, Nyaya, Vaisesika, Yoga, Mimansa, Vêdanta,)
Trang 7Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 7
Triết học Samkhuya mang tính chất nhị nguyên luận, họ thừa nhận sự tồn tại của 2 bản nguyên luận : bản nguyên luận vật chất Prakriti và bản nguyên luận tinh thần Purusa Prakriti có nghĩa là cái sinh ra cái khác, trước hết, Prakriti sinh ra trị năng : this năng, thính năng, khứu năng, vị năng và xúc năng rồi sinh ra trí tuệ cùng với cơ quan nhận thức của con người Purusa là ý thức trực quan của sinh vật, khi Purusa tác động vào Prakriti là yếu tố cần thiết cho hoạt động của các sinh vật
Triết học Nyaya thừa nhận sự tồn tại của vũ trụ vật chất gồm những nguyên
tử cấu tạo nên sự vật Theo Nyaya thế giới vật chất gồm : đất, nước, lữa và không khí Nguyên tử được gọi là Anu có đặc tính không biến đổi và tồn tại vĩnh viễn Triết học Nyaya thừa nhận trong vũ trụ có nhiều linh hồn gọi là Ya, thuộc tính của ý thức là mong muốn, chán ghét, vui thích, đau đớn Trong logic học và nhận thức học Nyaya đề xướng thuyết tam đoạn luận và đề cao nhận thức kinh nghiệm của con người
Theo triết học Vaisesika thế giới bao gồm những thực thể có chất lượng và số lượng Thực thể có 9 dạng : đất, nước, lữa, gió, không khí, thời gian, không gian, linh hồn và trí tuệ; 5 thực thể đầu là thực thể vật lý Nguyên tử là phần tử nhỏ nhất cấu tạo nên các thực thể vật lý Nguyên tử tồn tại vĩnh viễn, không thể phân chia, không có quảng tính, không nhìn thấy, nhưng khi các nguyên tử kết hợp với nhau sẽ tạo nên các vật thể trong vũ trụ Nguyên nhân vận động của các nguyên tử là do linh hồn thế giới tối cao điều khiển Có linh hồn tối cao sáng tạo ra vũ trụ và chỉ huy thế giới và linh hồn cá biệt của con người
Yoga là hệ thống lý luận về phương pháp tu luyện mà người tu hành chấp nhận nhằm giải thoát linh hồn khỏi sự ràng buộc với cơ thể, nhằm vươn tới một năng lực siêu nhiên Việc tu luyện phải kiên trì thực hiện từng bước 1 qua “bát bảo
tu pháp”
Triết học Mimàsa thừa nhận sự tồn tại của tinh thần và vật chất trong thế giới Nhưng họ cho rằng “tinh thần thế giới vô ngã” là thực thể có trước, sáng tạo và chi phối toàn vũ trụ Và cho rằng con người thường có tính đam mê dục vọng và
Trang 8Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 8
kiêu căng, vì vậy con người cần tập trung chấp hành bổn phận xã hội và chủ nghĩa tôn giáo
Védànta nghĩa đen là sự hoàn thiện kinh Véda do Baharayana hình thành khoảng thế kỷ thứ II trước CN Theo Védànta “tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman là nguyên nhân sinh ra tất cả Brahman là thực thể tuyệt đối bất diệt, là linh hồn là nguồn sống của vũ trụ Cũng theo Védànta để giải thoát con người khỏi sự ham muốn nhục dục thì phải dốc lòng tu luyện để đưa linh hồn đồng nhất với “tinh thần
về hạnh phúc ở thiên đường sau khi chết Họ chủ trương hãy để con người hưởng thụ tất cả những cay đắng và ngọt ngào của cuộc sống
Triết học Phật giáo : xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI tr CN ở miền Bắc ấn
Độ, phía Nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ với Nêpan hiện nay Đạo Phật ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp,
lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm con đườn giải thoát con người khỏi nỗi khổ đó
Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệng, sau đó viết thành văn thể hiện trong kinh “Tam tạng” (Tripitaka) gồm ba bộ phận: 1) Tạng kinh (Sutra – pitaka) ghi lời Phật dạy; 2) Tạng luật (Vinaya – pitaka) gồm các giới luật của đạo Phật; 3) Tạng luận (Abhidarma – pitaka) gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú
về giáo pháp của các cao tăng, học giả về sau
Triết học Kỳ na giáo : vật chất có những đặc tính như sờ mó được, có âm thanh, mùa vị, màu sắc Các vật thể hình thành là do các nguyên tử kết hợp với nhau theo
Trang 9Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 9
nhiều dạng khác nhau Kỳ na giáo thừa nhận có linh hồn, linh hồn là lực lượng toàn năng nhưng khả năng bị hạn chế bởi những thân xác cụ thể Muốn giải phóng linh hồn toàn năng khỏi hạn chế thì con người phải tu luyện đạo đức, bất sát, bất bạo lực, không mưu hại đến sinh linh, đồng thời sống khổ hạnh, không có của riêng, ăn chay
và không có mảnh vải che thân
2.2 Những nét đặc thù của triết học Ấn Độ cổ, trung đại
Các luận thuyết triết học được phát sinh từ tư tưởng triết học đầu tiên là kinh tháng Véda, một trong những bộ kinh cổ của Ấn Độ Các luận thuyết triết học sau thường dựa vào các luận thuyết có trước Các nhà triết học sau chỉ là phát triển các quan điểm ban đầu không đạt mục đích tạo ra thứ triết học mới Đa số hệ thống triết học dựa vào tri thức đã có trong Vêđa, mức độ nội dung của nó đã thay đổi
Các luận thuyết triết học Ấn Độ cổ đại rất chú ý tới vấn đề nhân bản, đó là vấn
đề nhân sinh quan và con người được giải thoát Hầu hết các trường phái triết học đều bàn tới cuộc sống con người, dù cách tiếp cận của các trường phái triết học khác nhau “Tính không” được chú ý nhiều trong một số trường phái triết học, đem đối lập “không” và “hữu”, qui cái “hữu” về cái “không” Biểu hiện một trình độ tư duy trừu tượng khá cao ở triết học Ấn Độ cổ đại Giữa triết học và tôn giáo, duy vật
và duy tâm, biện chứng và siêu hình thường có đan xen vào nhau, tạo ra vẻ đẹp riêng của nhiều luận thuyết triết học Ấn Độ cổ đại
Về vấn đề bản thể luận : Quan điểm duy tâm, tôn giáo và nhị nguyên luận trong triết học Ấn Độ cổ đại đều thừa nhận : “Tinh thần thế giới” Brátman sáng tạo và chi phối toàn bộ vũ trụ, linh hồn của con người (Atman) là hiện thân của Brátman tồn tại vĩnh viễn theo luật luân hồi Mục đích của linh hồn là siêu thoát, là điều kiện để linh hồn cá nhân thống nhất với “tinh thần thế giới” Muốn vậy, con người không tham gia gì biến đổi cuộc sống trần thế, coi đó là cuộc sống xấu xa để thiên định nhờ sự linh báo của kinh Vêđa Quan điểm duy vật trong triết học Ấn Độ cổ đại thừa nhận thế giới là vật chất, bao gồm vật chất Thô và Tinh Không có lực lượng thần thánh nào tham gia, thừa nhận thế giới vật chất vận động, không có sự tồn tại của linh hồn phi vật chất, con người là sản phẩm của vật chất
Trang 10Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 10
Về phép biện chứng : phép biện chứng chất phát thô sơ là một giá trị lớn của triết học Ấn Độ cổ đại, thừa nhận thế giới vật chất vận động, biến đổi theo luật nhân quả Thấy được mâu thuẫn của thế giới vật chất, nằm trong sự thống nhất giữa hai mặt đối lập Thế giới bao quanh con người vừa vận động, vừa đứng im Đó là một mâu thuẫn con người cần phải chấp nhận
Vấn đề đạo đức : Đạo đức là một trong những hình thái ý thức sớm nhất của các hình thái ý thức xã hội Mâu thuẫn lý tưởng của xã hội Ấn Độ cổ đại là con người đạo sĩ tâm linh, là con người ý thức vũ trụ Các nhà triết học duy tâm, tôn giáo chủ trương con người từ bỏ cuộc đời trần tục xấu xa, không tham gia gì vào cuộc đời đó, phái thiền hoặc Niết bàn, nghĩa là chủ trương sống khổ hạnh Các nhà duy vật cho rằng : Đời người phải được hưởng mọi thú vui của cuộc sống, quyền đó là hợp với
tự nhiên
Nói chung, triết học Ấn Độ cổ đại có những đặc trưng :
Thứ nhất, triết học ấn độ cổ, trung đại hình thành rất sớm, nhưng vận động phát triển chậm chạp, điều này phản ánh sự trì trệ của xã hội Ấn Độ cổ, trung đại; triết học Ấn Độ cổ, trung đại có nội dung phong phú nhưng không mang tính cách mạng; các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết học có trước, không đặt cho mình nhiệm vụ phải sáng tạo ra một hệ thống triết học mới Tuy vậy, triết học Ấn Độ cổ trung đại phản ánh sâu sắc đời sống sinh hoạt của xã hội lúc đó từ tâm lý, đạo đức đến quan điểm chính trị, xã hội, pháp luật
Thứ hai, triết học Ấn Độ cổ, trung đại gắn bó chặt chẽ với tôn giáo, trên cơ sở tín ngưỡng tôn giáo hình thành nên các hệ thống triết học – tôn giáo Vì vậy, So với các nền triết học cổ đại khác thì triết học Ấn Độ cổ, trung đại là một nền triết học ảnh hưởng lớn của tư tưởng tôn giáo
Thứ ba, các hệ thống triết học – tôn giáo ở Ấn Độ cổ, trung đại đều quan tâm tới vấn đề nhân sinh quan, đặc biệt là vấn đề luân hồi, nghiệp báo Các luận điểm triết học Ấn Độ cổ đại rất chú ý đến vấn đề nhân bản đó là nêu lên con đường giải thoát con người dưới góc độ tâm linh
Trang 11Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 11
2.3 Những giá trị tích cực và hạn chế của triết học Ấn Độ cổ, trung đại
2.3.1 Những giá trị tích cực
2.3.1.1 Triết học thời kỳ Véđa
Nội dung triết học thời kỳ này tập trung phản ánh ước vọng của người dân thường như mong mưa thuận gió hòa, mong có thức ăn, có gia súc ; đồng thời phản ánh một tín ngưỡng ma thuật và đa thần giáo, chưa có những khái quát triết học Tuy nhiên qua các tập Véđa đã thể hiện sự phát triển của tư duy trừu tượng trong đó, người ta đã thừa nhận một nguyên lý vũ trụ với sức mạnh vô hạn, biểu hiện ra trong thiên nhiên, trong tinh thần và các nghi lễ Xu hướng chính giải thích hiện tượng tự nhiên và xã hội thông qua các vị thần
2.3.1.2 Triết học thời kỳ Ramayana và Mahabharata
Tư tưởng chủ yếu trong bộ sử thi Ramayana là triết lý đạo đức – nhân sinh trong quan niệm về con người, về xã hội về bổn phận của con người, về cái thiện, cái ác trong mỗi con người
Cho tới ngày nay, tuy không là một tác phẩm có tính triết học, Ramayana vẫn được tôn sùng ở Ấn Ðộ và một số nước Ðông Nam Á Thần khỉ Hanuman thành thần hộ gia Tại Việt Nam, có ít nhất hai bản dịch tóm lược tác phẩm này, hai vở chuyển thể thoại kịch và cải lương Hình tượng Hanuman thường thấy trên vách các chùa chiền Phật giáo Khmer ở Nam bộ Trong một câu thơ nhập đề của Ramanaya, người ta đọc thấy: “Kẻ nào đọc và lặp lại sách thánh Ramayana, nguồn gốc sự sống,
sẽ được giải thoát khỏi tội lỗi và được lên trời”
Tác phẩm sử thi đồ sộ Mahabharata được coi là “bách khoa toàn thư” không chỉ của Ấn Độ mà còn của cả thế giới Bộ sử thi Mahabharata không chỉ là gia tài về văn học dân gian, mà còn phản ánh trong đó những huyền thoại, sự tích thần linh, quan điểm về vũ trụ, về tâm linh và số phận con người theo quan điểm duy tâm
Ảnh hưởng văn học : Bộ sử thi Mahabharata đã trở thành nguồn cảm hứng cho các thi nhân, nghệ sĩ sáng tác những tác phẩm văn, thơ, nhạc, họa và những công trình kiến trúc, điêu khắc trong nền văn học – nghệ thuật Ấn Độ và những nước chịu ảnh hưởng của nền văn học – nghệ thuật này
Trang 12Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 12
2.3.1.3 Triết học chính thống (Mimansa, Vêdanta, Samkhuya, Yoga, Nyaya, Vaisesika)
Phái Minamsa : Những người theo phái này bác bỏ thần thánh, họ cho rằng:
không có bằng chứng nào chứng tỏ có thần thánh Thần thánh không thể quyết định con người, mà con người chịu hậu quả của chính hành vi của mình Quan điểm duy vật, phía này thừa nhận sự vật tồn tại độc lập với con người, từ đó họ bác bỏ quan điểm trong triết học phật giáo nói rằng: “Mọi vật đều là ảnh ảo” Phái này cũng phân biệt hai loại cảm giác : ảo và thực, cũng như vai trò của chúng đối với nhận thực con người
Phái Vêđanta : Xuất phát từ tác phẩm cuối cùng của kinh Vêđa, phái này phát
triển những yếu tố duy tâm, thần học trong Upanisad Thứ nhất: coi tinh thần Bratman là vĩnh hằng, tràn đầy vũ trụ, còn tinh thần Atman thì là một bộ phận của Bratman, vì thế làm thế nào để đưa Atman trở về với Bratman Thứ hai : Bratman
và Atman là đồng nhất và cả hai đều được coi trọng Quan điểm này có khuynh hướng duy vật khi khẳng định Atman phụ thuộc cơ thể, thần xác con người, thần xác khỏe mạnh thì Atman mới sáng suốt Những tư tưởng của Vêđanta rất gần với Phật Giáo
Phái Samkhuya : Đây là trường phái duy vật, phủ nhận sự tồn tại của thần
thánh, bác bỏ tinh thần Bratman với tư tưởng là một thực thể siêu nhiên Họ phân biệt hai loại vật chất : Tinh và Thô Phái này đưa ra phép biện chứng nhân quả để lý giải về thế giới khách quan
Phái Yoga : Về mặt tư tưởng triết học, phái này không đóng góp lớn, phái này
nặng về thực hành, điều này đáng nói về mặt triết học ở chổ đã thấy được sự thống nhất giữa thể xác và linh hồn, do đó, phương pháp rèn luyện là kết hợp rèn luyện thể xác và tinh thần
Trường phái Nyaya –Vaisesika : Thời kỳ đầu đây là hai phái riêng, dần về sau
hợp thành một Đây là trường phái duy vật, có đóng góp về ba phương diện (Thuyết nguyên tử; Lý luận nhận thức; Logic học) Theo trường phái này thì toàn bộ mọi sự vật đều thực hiện sự chia nhỏ mãi mãi, sẽ đến lúc không thể chia nhỏ - đó là nguyên
Trang 13Học viên Thực hiện : Lê Văn Trung Trực Trang 13
tử - nguyên tử có vô số và tồn tại vĩnh viễn Trường phái này đã xây dựng Logic hình thức và cũng đưa ra nguyên tắc tam đoạn luận Nhận thức luận cũng mang tính duy vật khi thừa nhận mọi vật xung quanh, con người là đối tượng của nhận thức,
và họ nêu ra quan niệm tiêu chuẩn của nhận thức đúng là nó thỏa mãn được mục
đích mà con người đề ra hay không
2.3.1.4 Triết học không chính thống (Jainism –Kỳ na giáo, Budđhism-Phật giáo, Lokayata hay còn gọi là Carvaka)
Triết học Lokayata : coi cảm giác, kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của
nhận thức, họ phủ nhận tính xác thực của nhận thức suy lý gián tiếp Đặc biệt, họ lên án mạnh mẽ những suy luận trong Vêđa hay những kết luận được rút ra từ Vêđa
và phủ nhận thần thánh, thiên đường, điạ ngục và cuộc sống sau khi chết… Hơn nữa, phái Lokayata phủ nhận cả thuyết luân hồi, nghiệp báo; chế giễu quan niệm giải thoát…; đồng thời khẳng định con người chỉ sống có một lần trên thế gian; vì vậy, con người cần phải sống cho chính cuộc đời này chứ không phải cho cuộc đời nào khác
Đây là trường phái tư tưởng triết học mà họ cố gắng giải thích thế giới bằng các sự vật, hiện tượng của tự nhiên như: nước, lửa, không khí, đất , phủ nhận linh hồn bất tử và đưa ra các khái niệm, phạm trù của triết học Đặc biệt trong các trào lưu duy vật, vô thần, hoài nghi tôn giáo và thần linh ấy là trường phái triết học duy vật Lokayata Cho rằng: mọi đặc tính của các vật thể đều phụ thuộc vào chỗ chúng
là kết hợp của các nguyên tử nào, vào số lượng và tỷ lệ kết hợp của các nguyên tử
Ý thức, lý tính và các giác quan cũng xuất hiện do sự kết hợp của các nguyên tử và
sẽ mất đi khi sự kết hợp đó bị tan rã
Về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, họ giải thích trên quan điểm duy vật thô sơ, mộc mạc Theo họ, ý thức là thuộc tính cố hữu của cơ thể; rời khỏi nhục thể thì người ta không thể có ý thức Khi con người chết đi, thể xác tan ra thì ý thức về
“cái tôi” cũng hết
Về nhận thức luận và lôgic học, phái Lokayata mang tính chất duy cảm, thừa nhận cảm giác là nguồn gốc duy nhất xác thực của nhận thức Chỉ có cái gì cảm