- Giao đất: Luật đất đai năm 2003 quy định đất đai thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài và được quy định t[r]
Trang 1* Kết cấu đề tài gồm những nội dung sau:
Phần thứ nhất: LỜI NÓI ĐẦU
Phần thứ hai: NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI
I KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003
II CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA
III MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI Ở NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY
Chương II: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LUẬT ĐẤT ĐAI Ở XÃ LẠC LƯƠNG
I ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA XÃ LẠC LƯƠNG
II THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA
XÃ LẠC LƯƠNG
Chương III: NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẨY MẠNH TỔ CHỨC THI HÀNH LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI Ở XÃ LẠC LƯƠNG
Phần thứ ba: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 2
Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐỀ
* Phạm vi và mục đích nghiên cứu
Luật đất đai 2003 có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 7 năm 2004, các ngành, địa
phương trong tỉnh đó quan tâm chỉ đạo thi hành Luật gắn với thực hiện Nghị quyết
lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới chính
sách, pháp Luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đất
nước Qua thực tiễn cho thấy Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành đó
thực sự đi vào cuộc sông, được nhân dân đặc biệt quan tâm và bước đầu đạt được
một số kết quả tích cực
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiện
tồn tại và phát triển của nền sản suất xã hội, của bản thân con người và là điều kiện
sinh tồn của thế giới động vật trên trái đất Đất đai như là một tư liệu sản xuất đặc
biệt không gì có thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, đất đai là một
nguồn tài nguyên hữu hạn, nó chỉ trở nên vô hạn và quý báu tuỳ thuộc hoàn toàn
vào sự hiểu biết và thái độ đối xử của con người đối với đất đai
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hoà Bình cũng như trên lãnh thổ Việt Nam đất
đai được xem là nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội trong
thời kỳ đổi mới Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều quy phạm pháp luật để bảo
vệ đất đai Tổng hợp các quy định pháp luật đất để điều chỉnh các quan hệ phát
sinh trong quá trình quản lý sử dụng đai đai và bảo vệ đất đai tạo thành ngành Luật
Đất đai Vì vậy nghiên cứu Luật đất đai và các Văn bản hướng dẫn thi hành luật là
một môn học có tính thực tiễn sâu sắc, đem lại vốn kiến thức về pháp luật cần thiết
và có hệ thống về vấn đề đất đai Trên cơ sở đó tham mưu cho các ngành các cấp
có những cơ chế chính sách để quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả, đúng pháp
luật và phù hợp với đời sống của nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình
Để việc nghiên cứu luật đất đai có hiêu quả thiết thực trong đề tài này tôi sẽ
tìm hiểu những vấn đề cơ bản nhất: về khái niệm Luật Đất đai, cơ sở lý luận xây
dựng luật, những nguyên tác cơ bản xây dựng luật, tiến hành thu thập các tài liệu
của các ngành, các cấp đánh giá về tình hình thực hiện Luật Đất đai trên địa bàn
Trang 3tỉnh Hoà Bình trên cơ sở đó tổng hợp những kết quả đã làm được, so sánh số liệu hàng năm để thấy rõ được những tiến bộ trong công tác quản lý đất đai của tỉnh; phân tích những việc chưa làm được để tìm ra nguyên nhân từ đó đề ra được các biện pháp khắc phục trong quá trình thi hành Luật Đất đai tại địa phương
Trong quá nghiên cứu làm tiểu luận tôi được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Nhà nước và Pháp luật Trường Chính trị tỉnh Hoà Bình
* Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài tiểu luận này tôi chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản của Luật Đất đai năm 2003 và tình hình thực hiện Luật đất đai trên địa ở địa phương
Trang 4Phần thứ hai: NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤT ĐAI:
I.Khái niệm và những nguyên tắc cơ bản của Luật Đất đai
1 Khái niệm
Luật Đất đai năm 2003 được xây dựng và ban hành trên cơ sở các văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành có chứa đựng các quy phạm pháp luật về đất đai, căn cứ cơ bản và quan trọng nhất là các quy định trong hiến pháp và các đạo luật:
Luật đất đai là một ngành độc lập trong hệ thống Pháp luật Việt Nam, tổng hợp tất cả các Quy phạm Pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành
để bảo vệ đất đai một tài sản quý giá của Quốc gia và điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai
Đối tượng điều chỉnh của Luật đất đai rất đa dạng phức tạp, bao gồm các quan
hệ cơ bản sau đây:
- Các quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với người sử dụng đất đai: Quan hệ giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng; quan hệ về thu hồi đất khi người sử dụng đất vi phạm luật đất đai, hoặc các quan hệ giữa Nhà nước với người nước ngoài thuê đất của Việt Nam; Quan hệ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất…
- Các quan hệ giữa những người sử dụng đất với nhau mà cụ thể là quan hệ giữa các công dân trong việc đổi đất cho nhau để sử dụng; Quan hệ chuyển quyền
sử dụng đất giữa các gia đình với nhau; Quan hệ về thừa kế đất giữa bố mẹ với con cái; hay quan hệ thuê đất giữa những người sử dụng đất với nhau…
Pháp luật đất đai là một khái niệm rộng bao gồm tỏng hợp các Quy phạm Pháp luật đất đai, điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc quản lý, sử dụng đất đai như là Quy phạm Pháp luật có liên quan đến đất đai trong lĩnh vực hình sự, dân
sự, luật bảo vệ môi trường Còn Luật đất đai chỉ bao gồm các Quy phạm Pháp luật đất đai liên quan trực tiếp đến việc quản lý, sử dụng đất
Trang 52 Những nguyên tắc cơ bản của Luật đất đai:
Nguyên tắc cơ bản của Luật đất đai là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo việc xây dựng tổ chức thực hiện Pháp luật đất đai, hay nói cách khác, nó là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong cả quá trình ban hành và áp dụng Pháp luật đất đai
*Nguyên tắc Đất đai thuộc sở hữu toàn dân
Điều 17 Hiến pháp 1992 Quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời phần vốn và tài sản do Nhà Nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại gia, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác
mà Pháp luật Quy định là của Nhà Nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”
Điều 5: Luật đất đai 2003: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà Nước là chủ
sở hữu”
Nhà Nước của ta là Nhà nước “của dân do dân và vì dân” cho nên Nhà nước là chủ
sở hữu duy nhất đối với đất đai Ngoài Nhà nước, không ai có quyền sở hữu đất đai và chính vì thế Nhà nước là chủ thể quản lý toàn bộ đất đai trên toàn lãnh thổ nước ta
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng toàn dân không thể đứng ra để thực hiện quyền sở hữu cụ thể mà có người thay mặt để làm việc này đó là Nhà nước Hay nói cách khác Nhà nước là chủ thể đối với đất đai.Với việc quy hoạch đất đai thuộc
sở hữu toàn dân thì kể từ đây không còn khái niệm đất vô chủ
Việc xác lập nguyên tắc này tạo cơ sở cho Nhà nước thống nhất quản lý đất đai có hiệu quả
* Nguyên tắc Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch
Nguyên tắc này được thể hiện trong điều 18 Hiến Pháp năm 1992 và Điều 6 Luật đất đai năm 2003: Nhà nước thống nhất quản lý đất đai được thể hiện:
* Nguyên tắc sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm
Nguyên tắc này trong Điều 18 Hiến pháp năm 1992 thể hiện: “… Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất”
Trang 6Điều 11 Luật đất đai năm 2003 quy định việc sử dụng đất phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
- Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất
- Tiết kiệm có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chung chính đáng của người sử dụng đất xung quanh
- Người sử dụng đất thực hiện các quyền nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo Quy định của Luật này và các quy định khác của Pháp luật có liên quan
* Nguyên tắc bảo vệ nghiêm ngặt đất Nông nghiệp
Nguyên tắc này được Quy định ở Điều 36, Điều 37, và Điều 125 Luật đất đai
2003 Theo các Quy định này, việc giao đất Nông nghiệp sử dụng vào mục đích jkhác phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Chỉ có Chính phủ, UBND tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, UBND huyện mới được giao đất Nông nghiệp
sử dụng vào mục đích khác Khi giao đất Nông nghiệp sử dụng vào mục đích khác phải tiến hành theo một thủ tục rất nghiêm ngặt và người được giao đất phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính Người được giao đất Nông nghiệp vào mục đích khác thì phải đền bù khi chuyển nhượng Quyền sử dụng đất Nông nghiệp và chuyển mục đích sử dụng đất thì phải đánh thuế chuyển Quyền sử dụng lẫn thuế chuyển mục đích sử dụng ở mức cao
* Nguyên tắc cải tạo và bồi bổ đất đai
Hiện nay diện tích đất đai của nước ta tính theo đầu người vào loại thấp trên thế giới, vì vậy trong quá trình sử dụng phải cải tạo bồi bổ đất đai Nhà nước khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động vật tư, tiền vốn áp dụng các thành tựu khoa học để tăng giá trị sử dụng đất, khai hoang, vỡ hóa, lấn biển, phủ xanh đất trống đồi trọc nghiêm cấm các hành vi hủy hoại đất làm đất bạc màu
II Cơ sở lý luận của việc quy định đất đai thuộc Quyền sở hữu toàn dân:
Sở hữu đất đai là một vấn đề hết sức quan trọng và rất phức tạp trên thế giới khi nghiên cứu và phân tích về sở hữu đất đai C Mác đã chỉ ra sở hữu đất đai là một vấn đề “to lớn” của giai cấp công nhân Nó là đối tượng của những cuộc đấu
Trang 7tranh giai cấp giữa những điền chủ lớn chiếm hữu rất nhiều ruộng đất và quần chúng nhân dân lao động không có ruộng đất, giữa những kẻ bóc lột và người bị bóc lột sở hữu đất đai nguồn gốc đầu tiên của mọi của cải đã trở thành một vấn đề
to lớn, mà việc giải quyết sẽ quyết định tương lai của giai cấp công nhân
Xuất phát từ học thuyết Mác - Lê Nin về quốc hữu hóa ruộng đất: Sở hữu tư nhân về đất đai tồn tại trong xã hội loài người là một sự vô lý, vì đất là sản phẩm của tư nhân tồn tại ngoài ý muốn của con người Có trước con người và không do con người tạo ra vì vậy chúng ta chỉ sử dụng đất và chuyển lại cho thế hệ tương lai sau khi đã làm cho đất tốt hơn:
Hơn nữa ở Việt Nam đất đai là thành quả cách mạng là kết quả của quá trình cải tạo bồi bổ đất của các thế hệ người Việt Nam Vì vậy nó phải là chung của toàn dân
Đường lối của Đảng, Hiến pháp, Luật đất đai của Nhà nước khẳng định Luật đất đai thuộc sở hữu toàn dân có những ưu việt sau đây:
- Nhà nước là người đại diện cho lợi ích của toàn thể nhân dân lao động, nên lợi ích của nhà nước cũng là lợi ích của toàn thể nhân dân, chế độ sở hữu toàn dân
về đất đai chính là xuất phát từ lợi ích chung của nhân dân chứ không phải là đi ngược lại lợi ích của nhân dân, bởi vì với Quy định này thì đất đai ở nước ta luôn được Nhà nước bảo vệ
- Trong lịch sử dân tộc, trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, nông dân Việt Nam là người gắn bó với ruộng đất, trực tiếp sinh sống nhờ đất đai,
đã hy sinh mất mát nhiều người và của cải cho sự nghiệp cách mạng Vì vậy Nhà nước giao đất đai cho họ sử dụng chính là cách mạng đã đem lại Quyền và lợi ích đến cho họ, nên Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi đối với nông dân cũng chính là bảo vệ thành quả cách mạng
- Trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, mọi người đều bình đẳng về chế độ chính trị kinh tế, sở hữu toàn dân về đất đai tạo điều kiện cho mọi quy hoạch lại toàn bộ đất đai trong cả nước được dễ dàng; tạo thuận lợi cho Việt Nam mở cửa, hội nhập vào khu vực và thế giới, góp phần đắc lực vào sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa của đất nước
Trang 8III Một số nội dung cơ bản về quản lý nhà nước đối với đất đai:
1/ Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai được thi hành từ Điều 12 đến Điều 29 Nghị định 181/ 2004/ NĐ- CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ
và thông tư số 30 - 2004 – TT – BTNMT ngày 01 tháng 11 năn 2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất
Về nguyên tắc lập: Điều 21 Luật đất đai 2003 quy định:
+ Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh
+ Được lập từ tổng thể đến chi tiết: quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoach sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt
+ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới
+ Sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả
+ Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
+ Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh
+ Dân chủ và công khai
+ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định, xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó
Về căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại Điều 22 quy định như sau:
+ Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội quốc phòng, an ninh của nhà nước: quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương
+ Kế hoạch phát triển kinh tế –xã hội của Nhà nước;
Trang 9+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và nhu cầu của thị trường;
+ Hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất;
+ Định mức sử dụng đất;
+ Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất;
+ Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước;
- Căn cứ để lập kế hoạch sử dụng đất bao gồm:
+ Quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt;
+ Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm của Nhà nước;
+ Nhu cầu sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;
+ Khả năng đầu tư thực hiện các dự án, công trình sử dụng đất
2 Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Giao đất: Luật đất đai năm 2003 quy định đất đai thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài
và được quy định trong Điều 33, Điều 34 trong đó ghi rõ việc giao đất có thu tiền
và không thu tiền sử dụng đất, Việc giao đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc căn cứ vào kế hoạch chuyển mục đích sử dụng đất hoặc căn
cứ vào yêu cầu sử dụng đất đai ghi trong luận chứng kỹ thuật Nhà nước giao cho các tổ chức cá nhân trong nước và người Việt Nam định cư tại nước ngoài theo quy định của Pháp luật
- Cho thuê đất: Lần đầu tiên, Luật đất đai 1993 quy định về việc thuê đất Hiện nay, Luật đất đai năm 2003 tiếp tục khẳng định vấn đề cho thuê đất Cho thuê đất thương có các trường hợp sau: (Bao gồm cho thuê thu tiền thuế đất hàng năm
và một lần)
* Nhà nước cho các tổ chức, cá nhân trong nước thuê đất để sản xuất – kinh doanh hoặc để ở
Trang 10* Nhà nước bảo hộ cho các gia đình, cá nhân có hoàn cảnh khó khăn thiếu sức lao động được thuê lại đất mà Nhà nước đã giao cho hộ gia đình và cá nhân,
- Chuyển mục đích sử dụng đất: Việc chuyển mục đích sử dụng đất giữa các loại đất, Điều 36 Luật đất đai năm 2003 quy định thực hiện như sau:
+ Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bao gồm; Chuyển đất chuyển trồng lúa nước sang đất lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản Chuyển dất rừng đặc dụng, dất rừng phòng hộ sau sử dụng vào mục đích khác; chuyển đổi nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp; Chuyển đất phi nông nghiệp được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất
+Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không thuộc quy định trên thi người sử dụng đất không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thường phải đăng ký với Văn phòng của tổ chức có thẩm quyền đăng ký việc sử dụng đất hoặc UBND xã nơi có đất
Điều này cũng Quy định chế độ sử dụng đất, Quyền và Nghĩa vụ của người sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất và nghĩa vụ tài chính khi chuyển mục đích sử dụng đất
- Sử dụng đất không đúng mục đích sử dụng đất không có hiệu quả
Trang 11- Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất
- Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền
- Đất chưa sử dụng bị lấn chiếm; Đất không được chuyển quyền sử dụng đất
mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm bị lấn chiếm
- Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế
- Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất
- Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước
- Đất được Nhà nước gaio, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn
- Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền; Đất trông cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liền; Đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liền
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được
sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiền để sử dụng đất chậm hơn 24 tháng
so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà khồng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép
Cơ quan nào có thẩm quyền giao đất thì có thẩm quyền thu hối đất Điều 44 quy định thẩm quyền thu hồi đất đối với UBND cấp Tỉnh, cấp Huyện và không được ủy quyền
4 Lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
* Lập và quản lý hồ sơ địa chính: Điều 47 Quy định hồ sơ địa chính bao gồm
hồ sơ địa chính; sổ địa chính; sổ mục kê đất; sổ theo dõi biến động đất đai
Bản đồ địa chính và sổ địa chính giúp cho Nhà nước quản lý chặt chẽ vốn đất,
là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp, khiệu nại về đất đai và để xác định rõ rệt,
Cụ thể ranh giới đất đai của từng chủ sử dụng, được Quy định ở Điều 18 Luật đất đai năm 2003
Trang 12Bộ tài nguyên môi trường chỉ dạo và tổ chức việc lập bản đồ địa chính thống nhất trọng phạm vi cả nước UBND cấp tỉnh chỉ đạo và tổ chức việc lập bản đồ địa chính ở địa phương mình
Cơ quan quản lý chuyên môn về đất đai có trách nhiệm ban hành các Quy định, quy phạm kỹ thuật xây xựng bản đồ địa chính Bản đồ địa chính được lập theo đơn vị xã phường, thị trấn Bản đồ địa chính được lưu giữ ở cơ quan quản lý đất đai ở trung ương, UBND cấp tỉnh, huyện và xã Song song với việc xây dựng
hệ thống bản đồ chính trị, phải xây dựng hệ thống sổ địa chính để ghi chép chính xác, đầy đủ tình hình quản lý và sử dụng đất đai
Nội dung hồ sơ địa chính bao gồm các thông tin về thửa đất; số liệu, kích thước, hình thể, diện tích, vị trí; người sử dụng thửa đất; Nguồn gốc, mục đích, thời hạn sử dụng đất; giá đất, tài sản gắn liền với đất; Biến động trong quá trình sử dụng đất…
* Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan
hệ hợp pháp giữa người sử dụng đất với Nhà nước Từ Điều 48 đến Điều 52 Luật đất đai 2003 Quy định việc cấp giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất;
Giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất do Bộ Tài nguyên Môi trường phát hành,
cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định giao đất thì có thẩm quyền cấp giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất Nếu trên một thửa đất có nhiều tổ chức,
cá nhân, hộ gia đình
Điều kiện để được cấp giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất: Phải có bản đồ địa chính, khu đất phải được thể hiện rõ trên bản đồ về vị trí, ranh giới, loại hạng đất, diện tích đất phải được ghi vào sổ địa chính và phải được xác định đất sử dụng hợp pháp tới thời điểm cấp giấy, đất không có tranh chấp
Luật cũng Quy định những trường hợp được cấp giấy chứng nhận được cấp giấy Chứng nhận đựơc Quyền sử dụng đất Việc cấp giấy Chứng nhận Quyền sử