1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tim hieu lich su

14 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 202,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, từ khi xây dựng thành cung điện phủ đệ, Thiên Trường đã trở thành nơi ở của Thái thượng hoàng, ít nhất là 8 đời vua đầu vương triều Trần (từ vua Trần Thái Tông đến vua Trần Ngh[r]

Trang 1

Phßng gi¸o dôc §µO T¹O HUYÖN NAM TRùC.

Trêng TiÓu häc NAM THµNH

-* *

* -Bµi dù thi t×m hiÓu lÞch sö

Hä vµ tªn : Vò ThÞ H¹nh .

§¬n vÞ c«ng t¸c : Trêng TiÓu häc Nam Thµnh - §ång S¬n

Nam Thµnh, th¸ng 3 n¨m 2012

Hä vµ tªn : Vũ Thị Hạnh - Giíi tÝnh : N÷

Nghề nghiệp : Giáo viên

§¬n vÞ c«ng t¸c : Trêng TiÓu häc Nam Thµnh

Nam Trùc - Nam §Þnh

Sè ®iÖn tho¹i : 01696793078

Cuéc thi t×m hiÓu lÞch sö

“ 750 n¨m Thiªn Trêng - Nam §Þnh ”

Câu 1 Triều Trần ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nào ?

1.1 Hoàn cảnh ra đời của triều Trần :

Vốn sống bằng nghề đánh cá, họ Trần thường sinh sống làm ăn ở những vùng cửa sông ven biển, đến đời Trần Lý (ông nội của vua Trần Thái Tông) đã trở thành một

cự tộc có thế lực vùng Hải Ấp (nay là xã Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)

Trang 2

Năm 1209, khi trong triều có biến loạn, vua Lý Cao Tông phải chạy lên Quy Hoá, Thái tử Sảm chạy về Hải Ấp đã được gia đình Trần Lý giúp đỡ Hoàng tử Sảm đã kết duyên cùng Trần Thị Dung, con gái thứ hai của Trần Lý Họ Trần đã tập hợp hương binh giúp nhà Lý dẹp loạn, diệt trừ Quách Bốc (thuộc tướng của Phạm Bỉnh Di), đưa vua Lý trở lại kinh đô Cậu ruột Trần Thị Dung là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ

Uy thế họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi hoàng tử Sảm lên ngôi vào năm 1211, tức là vua Lý Huệ Tông Ông cho đón vợ là Trần Thị Dung về cung lập làm nguyên phi Lúc này, Tô Trung Từ được phong Thái uý phụ chính

Huệ Tông là người yếu đuối, lại bị Thái hậu họ Đàm khống chế, nên mọi việc đều phó thác cho Đàm Dĩ Mông, người chức cao, quyền lớn nhưng "không có học thức, không có mưu thuật, lại nhu nhược không quyết đoán, chính sự ngày một đổ nát" Lợi dụng tình hình đó, Đoàn Thượng làm phản, tụ tập bè đảng ở Hồng Châu thả sức cướp bóc, khiến triều đình không chế ngự nổi Năm 1216, trước tình thế bức bách của Đàm thái hậu, Lý Huệ Tông đã bí mật rời bỏ hoàng cung, cùng với Trần Thị Dung trốn đến nơi đóng quân của Trần Tự Khánh Từ đó, vua Lý hoàn toàn phụ thuộc vào thế lực anh em họ Trần

Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, mọi việc đều uỷ quyền cho Trần Thủ Độ (em họ Trần Thừa và Tự Khánh) khi ấy là chỉ huy sứ, quản lĩnh cấm quân Là người cơ mưu, quyết đoán, Trần Thủ Độ đã sắp xếp để vua Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, rồi cắt tóc đi tu ở chùa Chân Giáo Liền sau đó, Trần Thủ Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lên 7 tuổi lấy con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh lên 8 tuổi Một năm sau, vào tháng 12 âm lịch năm 1225, Trần Thủ Độ ép Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nhà Trần bắt đầu nắm quyền cai trị

Khi lên ngôi, Trần Cảnh (Trần Thái Tông) còn nhỏ, mọi việc triều chính đều trong tay Thái sư Trần Thủ Độ và cha là Nhiếp chính Trần Thừa

1.2 Thời gian tồn tại của nhà Trần :

Thời đại của nhà Trần chính thức bắt đầu năm 1225 và kết thúc vào năm 1400 Trong khoảng 175 năm trị vì, nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt ba lần kháng chiến chống quân Nguyên thành công vào các năm 1258 , 1285 và 1288

1.3 Các đời vua nhà Trần :

Miếu hiệu Niên hiệu Tên Sinh - mất Trị vì

Thái Tông

Kiến Trung (1226-1232) Thiên Ứng Chính

Bình (1232-1251) Nguyên Phong (1251-1258)

Trần Cảnh 1218-1277 1226-1258

Trang 3

Thánh Tông

Thiệu Long (1258-1272) Bảo Phù (1273-1278)

Trần Hoảng 1240-1291 1258-1278

Nhân Tông

Thiệu Bảo (1278-1285) Trùng Hưng (1285-1293)

Trần Khâm 1258-1308 1278-1293

Anh Tông Hưng Long Trần Thuyên 1276-1320 1293-1314

Minh Tông

Đại Khánh (1314-1323) Khai Thái (1324-1329)

Trần Mạnh 1300-1357 1314-1329

Hiến Tông Khai Hựu Trần Vượng 1319-1341 1329-1341

Dụ Tông

Thiệu Phong (1341-1357) Đại Trị (1358-1369)

Trần Hạo 1336-1369 1341-1369

Hôn Đức Công Đại Định Dương Nhật Lễ ?-1370 1369-1370

Nghệ Tông Thiệu Khánh Trần Phủ 1321-1394 1370-1372

Duệ Tông Long Khánh Trần Kính 1337-1377 1373-1377

Phế Đế Xương Phù Trần Hiện 1361-1388 1377-1388

Thuận Tông Quang Thái Trần Ngung 1378-1399 1388-1398

Trang 4

Thiếu Đế Kiến Tân Trần An 1396-? 1398-1400

Câu 2 : Thiên Trường thời Trần trong quốc gia Đại Việt thế kỉ 13 - 14.

Theo sử sách ghi lại, quê gốc hoàng tộc Trần ở hương Tức Mặc, phường Lộc Vượng (TP Nam Định), là một vùng đất có địa thế đẹp, sông lớn bao bọc ba mặt Từ thời Lý, đây là một trung tâm kinh tế, văn hóa phát triển Ngay tại Tức Mặc, thời Lý

đã có Chùa Phổ Minh, một danh lam nổi tiếng với đỉnh đồng kỳ vĩ được xếp vào hạng “ tứ đại khí ” của nước Đại Việt Vốn sống bằng nghề đánh cá, cư dân họ Trần thường sinh sống làm ăn ở những vùng cửa sông ven biển, đến đời Trần Lý (ông nội của vua Trần Thái Tông) đã trở thành một cự tộc có thế lực vùng Hải Ấp Năm

1209, khi trong triều có biến loạn, vua Cao Tông phải chạy lên Quy Hóa, Thái tử Sảm chạy về Hải Ấp đã được gia đình Trần Lý giúp đỡ Trong thời gian này, Hoàng

tử Sảm đã kết duyên cùng Trần Thị Dung, con gái thứ hai của Trần Lý Họ Trần đã tập hợp hương binh giúp nhà Lý dẹp loạn, diệt trừ Quách Bốc (thuộc tướng của Phạm Bỉnh Di), đưa vua Lý trở lại Minh tự, cậu ruột Trần Thị Dung là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ

Năm 1210, vua sai Đỗ Quảng đến đón Hoàng tử Sảm trở về Kinh, nhưng chưa được phép đem theo người vợ họ Trần Khi ấy Trần Lý bị một phe phái nổi loạn giết hại, người con thứ là Trần Tự Khánh được vua Lý phong tước Thuận Lưu bá Uy thế

họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi Hoàng tử Sảm (sau này là Lý Huệ Tông) lên ngôi vào năm 1211 Ông cho đón Trần Thị Dung về cung lập làm nguyên phi Lúc này,

Tô Trung Từ được phong Thái úy phụ chính Tuy thuộc họ ngoại, nhưng ông là người sớm nhận ra vị trí quan trọng của vùng đất quê hương nhà Trần Ngay năm

đó, với tư cách một đại quan đầu triều, Trung Từ đã đến Nguyễn Gia trang (nay thuộc làng Vị Khê, xã Điền Xá, huyện Nam Trực), một vùng có địa thế đẹp và cư dân sầm uất từ thời Lý, cho xây dựng tại đây một hành cung để vua và hoàng tộc có thể nghỉ lại mỗi khi đi kinh lý Ông còn cho xây một tòa thành kiên cố gần chợ Bình Giã và cho khơi một con sông, tạo thành con đường giao thông thuận tiện cho các thương lái có thể đi thuyền thẳng từ biển vào chợ Dấu vết con sông này chính là sông Châu Thành nối sông Hồng với sông Ninh Cơ chảy qua Điền Xá Theo truyền thuyết dân gian, Tô Trung Từ đã dạy dân địa phương nghề trồng hoa và cây cảnh Năm 1217, Lý Huệ Tông phát bệnh cuồng, không còn làm chủ được bản thân Đến năm 1224, bệnh của vua ngày càng nặng, các danh y trong nước được mời đến nhưng không ai chữa nổi, tình hình trong nước hết sức rối ren, mọi việc vua đều ủy quyền cho Trần Thủ Độ (người anh em con chú con bác với Trần Thừa) khi ấy là chỉ huy sứ, quản lĩnh cấm quân Là người cơ mưu, quyết đoán, Trần Thủ Độ đã sắp xếp

để vua Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh Liền sau đó, Trần Thủ

Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh và một năm sau, vào tháng 12 năm 1225, Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nhà Trần khởi nghiệp đế Khi lên ngôi, Trần Cảnh mới tám tuổi, mọi việc triều chính đều trong tay Thái sư Trần Thủ

Độ và Nhiếp chính Trần Thừa

Sau khi nhà Trần thay thế nhà Lý cai quản đất nước, trung tâm quyền lực quốc gia, nơi tập trung cao nhất các cơ quan đầu não của đất nước vẫn là Thăng Long

Trang 5

Nhà Trần xác định chế độ Thượng hoàng Các vua Trần khi đã nhường ngôi cho con, vẫn nắm quyền điều hành đất nước, hướng dẫn, chỉ đạo vua nối nghiệp quản lý đất nước trên mọi phương diện Ngô Sỹ Liên, trong Đại Việt sử ký toàn thư viết:

"Gia pháp nhà Trần… con đã lớn thì cho nối ngôi chính, cha lui ở cung Thánh Từ, xưng là Thượng hoàng, cùng trông coi chính sự Thực ra chỉ truyền ngôi để yên việc sau, phòng khi thảng thốt mà thôi, chứ mọi việc đều do Thượng hoàng định đoạt cả… Vua nối ngôi không khác gì Hoàng Thái tử" Thời gian đầu, Tức Mặc đơn thuần chỉ là quê cha, đất Tổ, chỉ có hành cung và Tiên miếu để vua về làm lễ hằng năm Làng cũ ven sông Hoàng Giang với những con đường cát phẳng mịn của vùng giáp biển, mát rượi cây cối xanh tươi, trù phú đã thành "quý hương" của các vua Trần Mười bốn năm sau (năm 1239), vua Trần Thái Tông, lúc đó đã 22 tuổi "… nghĩ đến Tức Mặc là nơi làng cũ của mình, nên hạ lệnh cho Phùng Tá Chu làm Nhập nội Thái phó, dựng hành cung ở đây để thường thời đến chơi" Thiên Trường bắt đầu được đầu tư xây dựng theo quy mô của bậc đế vương

Đại Việt sử ký toàn thư lần đầu tiên ghi nhận hành cung Thiên Trường là vào năm 1262 : “ Mùa xuân, tháng 2, thượng hoàng ngự đến hành cung Tức Mặc, ban tiệc lớn Các hương lão từ 60 tuổi trở lên, mỗi người được ban tước hai tư, đàn bà được hai tấm lụa Đổi hương Tức Mặc làm phủ Thiên Trường, cung gọi là Trùng Quang Lại xây riêng một khu cung khác cho vua nối ngôi ngự khi về chầu, gọi là cung Trùng Hoa…” Theo quy định của nhà Trần, người được cử làm An Phủ sứ phủ Thiên Trường phải là những viên quan đã từng kinh qua An Phủ sứ cấp lộ, sau

đó mới được khảo duyệt xem có đủ tài đức mới được bổ nhiệm Nguyễn Trãi chép trong “ Dư địa chí ” : Phủ Thiên Trường có 4 huyện : Giao Thuỷ (có 79 xã, 33

trang), Nam Chân (có 109 xã, 6 thôn), Mỹ Lộc (có 51 xã) và Thượng Nguyên (có 78 xã) Như vậy, phủ Thiên Trường khá rộng và hành cung Tức Mặc - Thiên Trường là thủ phủ Nhà vua cho xây dựng cung Trùng Quang, làm nơi dành riêng cho các Thượng hoàng về ở sau khi nhường ngôi cho con Bên cạnh cung Trùng Quang lại cho dựng cung Trùng Hoa làm nơi dành riêng cho nhà vua ngự mỗi khi về thăm, yết kiến Thượng hoàng Chùa Phổ Minh được xây dựng từ thời nhà Lý, được trùng tu lại cho tương xứng với quần thể kiến trúc mới, có một thời từng là trung tâm Phật giáo

ở nước ta Chùa xây theo kiểu nội công ngoại quốc Tháp Phổ Minh được xây dựng vào đầu thế kỷ XII cao 14 tầng, tầng trệt bằng đá xanh, hình một cỗ kiệu, 13 tầng trên xây bằng gạch đỏ, được nung bằng cỏ, rắn chắc và bóng giống như sành sứ, rêu không bám được, chịu mưa nắng Tháp Phổ Minh là nơi đặt một phần xá lỵ của Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông Hành cung Thiên Trường từ đó xuất hiện những công trình kiến trúc có quy mô vương giả : Ở nội cung, có hai cung Trùng Quang, Trùng Hoa ; ngoại cung có các cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, xung quanh xây dựng các phủ đệ, dành cho các vương phi, quan lại, sắc dịch thuộc bộ máy giúp việc Thượng hoàng

Câu 3 : Thiên Trường với vùng đất Nam Định trong lịch sử.

Phủ Thiên Trường xưa thuộc trấn Sơn Nam hạ là nơi phát tích của vương triều Trần, với địa thế chiến lược trong công cuộc giữ nước, dựng nước suốt hai thế kỷ 13,

14 Những thành tựu được phát hiện, nghiên cứu có quy mô lớn trong những năm qua trên các lĩnh vực khảo cổ, lịch sử, kiến trúc nghệ thuật là những căn cứ khoa học

để khẳng định : Hành cung Thiên Trường là trung tâm chính trị, kinh tế, phật giáo,

Trang 6

văn hoá và giáo dục lớn xứng với vị thế là kinh đô thứ 2 của nhà Trần sau Thăng Long

Trải qua hơn 700 năm “ xây móng ” với biết bao biến thiên, thăng trầm của lịch

sử, phong cách văn hoá và truyền thống văn hiến của đất và người Nam Định có “ cá tính ” từ mạch nguồn văn hoá riêng, khó trộn lẫn Là quê hương - nơi phát tích của vương triều Trần, với hào khí Đông A đã tạo nên văn minh Đại Việt rực rỡ đạt đến đỉnh cao về “ võ công, văn trị ” gắn liền với tên tuổi các Anh hùng dân tộc như Trần Nhân Tông, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật Dấu tích về một vương triều vàng son, được coi như kinh đô thứ 2 sau kinh thành Thăng Long với “ Tức Mặc hành đô cảnh lạ lùng Dân vui đời thịnh lại thuần phong ” còn lưu lại đến nay như cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Trùng Hoa, Trùng Quang, Đền Trần, Chùa tháp Phổ Minh… minh chứng một giai đoạn lịch sử anh hùng trên quê hương Nam Định

Dưới thời Trần, Thiên Trường trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, phật giáo, văn hoá và giáo dục lớn thứ 2 sau kinh thành Thăng Long Về thể chế chính trị và hành chính, điều khác biệt với nhà Lý, nhà Trần áp dụng chế độ Thái thượng hoàng, không chỉ coi Thiên Trường là quê hương, là nơi miếu mạo dòng họ, mà còn là nơi nghỉ ngơi, làm việc, điều hành đất nước của Thái thượng hoàng Do đó, từ khi xây dựng thành cung điện phủ đệ, Thiên Trường đã trở thành nơi ở của Thái thượng hoàng, ít nhất là 8 đời vua đầu vương triều Trần (từ vua Trần Thái Tông đến vua Trần Nghệ Tông) ; là nơi họp chầu, quyết định những sự việc trọng yếu của vua tôi nhà Trần để điều hành mọi việc nội trị, ngoại giao của Đại Việt Trên lĩnh vực kinh

tế, vùng đất Thiên Trường từ thời Lý đã nổi danh là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm, sang thời Trần, nông nghiệp lúa nước, đặc biệt là nền kinh tế điền trang, thái ấp của nhà Trần phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ nhất trong lịch sử chế độ nhà nước phong kiến Việt Nam Theo các nhà khoa học, thời Trần có 12 thái ấp và 13 điền trang thì có tới 5 thái ấp và 8 điền trang trải dọc trục đường thuỷ, xung quang khu vực Thăng Long - Thiên Trường cho thấy sự thịnh vượng của nền kinh tế nông nghiệp cũng như vị thế địa - chính trị quan trọng của hành cung Thiên Trường Bên cạnh đó, Thiên Trường còn là vùng đất sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, làng nghề như đồ gốm sứ, rèn sắt, đúc đồng Tiêu biểu như hàng nghìn mảnh gốm, gạch ngói đất nung được phát hiện, trong đó có đồ gốm được ghi

rõ “Vĩnh Ninh Tường” và “Thiên Trường phủ chế” chứng tỏ vùng đất này là trung tâm sản xuất, thương nghiệp

Không chỉ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, với vị thế đặc biệt quan trọng, Thiên Trường còn là “phên dậu” vừa là phòng tuyến kiên cố vừa là hậu phương trọng yếu của Thăng Long trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc Trong 3 lần đại thắng quân Nguyên - Mông, trước sức mạnh của đế quốc Mông

Cổ, quân dân nhà Trần đều rút lui chiến lược về Thiên Trường, sau đó, bày kế bài binh, phản công chiến lược đánh bại kẻ thù Từ Thiên Trường có thể bằng đường thuỷ Vĩnh Giang qua sông Hồng lên Thăng Long ; hay từ sông Vĩnh qua sông Vị Hoàng vào sông Đáy để đến căn cứ Trường Yên (Ninh Bình) Các sách “ Đại Việt

sử ký toàn thư ”, “ Việt sử lược ” ghi chép rất nhiều về các trận đánh của nhà Trần trên khu vực sông Hồng từ Nam Thăng Long xuống Thiên Trường Trong đó, Thiên Trường cũng là một địa điểm chiến trường ác liệt, vừa là đầu não vừa là hậu cứ của

Trang 7

cuộc kháng chiến, đồng thời là nơi huy động sức người sức của hỗ trợ cho chiến trường cả nước

Là vùng đất “địa linh, nhân kiệt” nổi tiếng là quê hương có truyền thống hiếu học, khoa bảng Trong 187 khoa thi dưới các triều đại phong kiến, Nam Định có 87 đại khoa, 11 trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa Nhiều bậc hiển nho tài đức là người con quê hương Nam Định đã nổi danh, đóng góp cho đất nước trong sự

nghiệp đấu tranh chống xâm lược, xây dựng và phát triển đất nước qua các thời kỳ lịch sử mãi rạng danh cùng non sông nước Việt như : Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải (thời Lý); Trần Hưng Đạo, Nguyễn Hiền, Đào Sư Tích (thời Trần); Lương Thế Vinh, Vũ Tuấn Chiêu, Trần Văn Bảo (thời Lê); tiếp nối có Trần Bích San, Phạm Văn Nghị, Trần Tế Xương, Trần Huy Liệu, Sóng Hồng, Văn Cao, Nguyễn Bính

Câu 4 Ba lần quân dân Đại Việt chống quân xâm lược Nguyên - Mông thời Trần

4.1 Những hiểu biết về ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông của quân dân Đại Việt :

Ở phương Bắc, người Mông Cổ dần dà xâm chiếm Trung Quốc Sau khi tiêu diệt nhà Kim phía bắc, các vua Mông Cổ tiến xuống phía nam để diệt nước Nam Tống vốn đã suy yếu khi bị nhà Kim của người Nữ Chân xâm lấn từ đầu thế kỷ 12 Để tạo thế bao vây Nam Tống, vua Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý (Vân Nam (1254) và sau đó đánh sang Đại Việt

Cuối năm 1257 âm lịch, tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai mang 3 vạn quân tiến vào nước Đại Việt qua đường Vân Nam Vua Trần Thái Tông đích thân ra chiến trận Quân Trần cố gắng chặn nhưng quân Mông Cổ vẫn tiến vào được Thăng Long Nhân dân Thăng Long theo lệnh của triều đình đã thực hiện " vườn không nhà trống ", rút về Thiên Mạc (Hà Nam) Ngột Lương Hợp Thai kéo quân vào Thăng Long chưa đầy 1 tháng thì bị thiếu lương thực Nhân cơ hội đó quân Đại Việt phản công ở Đông Bộ Đầu (Từ Liêm - Hà Nội) Quân Mông Cổ thua phải rút khỏi Thăng Long, đến vùng Quy Hóa (Yên Bái) bị quân của tộc trưởng Hà Bổng đánh tan tác, quân Mông Cổ rút chạy về Vân Nam

Năm 1259, quân Mông diệt được Nam Tống Từ năm 1260, vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt đã lập ra nhà Nguyên Để lấy cớ đánh Đại Việt, nhà Nguyên cho Toa Đô mượn đường đánh Chiêm Thành (Cham pa) Sau nhiều hoạt động ngoại giao hòa hoãn bất thành, cuối cùng chiến tranh bùng phát Cuối năm 1284, nhà Nguyên liền phái hoàng tử Thoát Hoan và tướng Toa Đô mang quân đánh hai đường nam, bắc kẹp lại để chiếm Đại Việt Thoát Hoan đi từ Quảng Tây, còn Toa Đô đi đường biển

từ cảng Quảng Châu, trước hết đánh vào Chiêm Thành rồi đánh " gọng kìm " thốc lên từ phía nam Đại Việt

Đây là lần xâm lược Đại Việt với quy mô lớn nhất của nhà Nguyên (huy động hơn 50 vạn quân) và cũng là cuộc kháng chiến gian khổ nhất của nhà Trần chống phương Bắc, quyết định sự tồn vong của Đại Việt lúc đó

Sau nhiều đợt rút lui để tránh thế mạnh của các đạo quân Mông, dùng chiến thuật vườn không nhà trống để quân địch không có lương ăn và bị bệnh dịch do không hợp thủy thổ bản địa, nhà Trần tổ chức phản công vào cuối xuân, đầu hè năm 1285 Với những chiến thắng ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, quân Trần đại thắng, bắt giết được Toa Đô Thoát Hoan thu tàn quân chạy về bắc

Trang 8

Thắng lợi năm 1285 cơ bản xác định sự tồn tại của Đại Việt và củng cố lòng tin của người Việt có thể đương đầu được với đạo quân hùng mạnh của Mông Nguyên liền kề phía bắc Bởi vậy trong lần kháng chiến thứ 3 chống Mông Nguyên năm

1287, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nói với vua Trần : " Quân ta đã quen việc chiến trận, mà quân nó thì sợ phải đi xa Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn " Nhà Trần tiếp tục chủ động áp dụng chiến thuật tránh thế mạnh, triệt lương thảo Cuối cùng quân Trần đại phá quân Nguyên ở sông Bạch Đằng tháng

4 năm 1288, bắt sống Nguyên soái Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ Thoát Hoan một lần nữa chạy trốn về bắc

Sau thất bại lần thứ ba ở Đại Việt, Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt vẫn chưa muốn đình chiến Sang các năm sau, vua Nguyên tiếp tục muốn điều binh sang nhưng chưa gặp thời cơ thuận tiện Tới năm 1294 lại định điều binh lần nữa thì chính Hốt Tất Liệt băng hà Cháu nội là Nguyên Thành Tông lên ngôi không muốn gây chiến với Đại Việt nữa Việc chiến tranh với nhà Nguyên từ đó mới chấm dứt

4.2 Nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử :

4.2.1 Nguyên nhân thắng lợi :

- Cuộc kháng chiến của quân dân Đại Việt là cuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa nên được sự hưởng ứng của mọi giai tầng trong xã hội

- Nhà Trần đã phát huy được tinh thần yêu nước, đoàn kết kháng chiến của “ bách dân, trăm họ ”

- Nghệ thuật quân sự mưu lược, sáng tạo

4.2.2 Bài học lịch sử :

- Đó là truyền thống đoàn kết thống nhất chặt chẽ trong vương triều, dòng họ, toàn dân Ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ bờ cõi

- Biết lấy dân là gốc, dựa vào dân để tiến hành kháng chiến

- Bài học về nghệ thuật quân sự

Câu 5 : Lễ hội khai ấn Đền Trần và cảm nhận về lễ hội này.

Lễ hội Đền Trần ở tỉnh Nam Định sẽ diễn ra vào ngày 14 tháng Giêng ( tức là ngày 5/2 )

Có nhiều ý kiến cho rằng Lễ hội Đền Trần còn lộn xộn, nhiều bất cập, nhất là tình trạng chen lấn, xô đẩy, thậm chí giẫm đạp lên nhau để giành lá ấn, mua ấn trong một vài năm gần đây do lá ấn đã được " thiêng hóa " quá mức

Những nhà nghiên cứu kỹ lưỡng về Lễ hội này đều biết tục ban ấn ở Đền Trần có

ý nghĩa khác Việc này hoàn toàn không có ý nghĩa là ban chức tước, mặc dù đối với người Việt Nam thì mong muốn thăng quan tiến chức luôn được đề cao Trong lịch

sử Việt Nam con đường học tập, đỗ đạt để làm quan là rất phổ biến, ngày xưa, hầu hết những người làm quan đều đặt việc cống hiến, xây dựng xã hội bằng tri thức của mình lên hàng đầu chứ không coi đó là công cụ tạo chức quyền

Nhưng người dân cũng không nên nghĩ rằng chỉ cần cầm được lá ấn đó thì sẽ được các cụ phù hộ, ban phúc, thăng quan tiến chức, không học hành, làm việc mà vẫn được làm quan là điều không thể có Hoàn toàn có thể coi lá ấn này như vật lưu niệm, kỷ niệm của chuyến du Xuân như những vật lưu niệm khác Đáng mừng là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng nỗ lực nghiên cứu, đưa ra điều chỉnh để tránh việc phát huy giá trị ảo, các giá trị không tích cực của Lễ hội Đây không phải là làm mất thiêng mà là đưa lễ hội, lá ấn trở lại giá trị đích thực như nó vốn có

Trang 9

Câu 6 : Những hiểu biết của bạn về nhân vật lịch sử thời Trần theo bạn là tiêu biểu nhât nổi tiếng nhất.

Trần Thủ Độ, Người anh hùng dân tộc

Trần Thủ Độ là một đại công thần triều Lý, lại là người sáng lập triều Trần và là linh hồn của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong hơn 40 năm (1226-1264) đầu triều Trần, một trong những triều đại vẻ vang nhất trong lịch sử dân tộc Chỉ riêng chiến công oanh liệt đánh bại quân xâm lược Nguyên lần thứ nhất (1258) và câu nói bất hủ, khảng khái: " Đầu thần chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo " của ông, đã để lại trong dân tộc Việt Nam một hình tượng Trần Thủ Độ anh hùng, bất khuất, tài năng, quả cảm Dip kỷ niệm 750 năm hình thành Thiên Trường trong năm 2012 là dịp để chúng ta khẳng định công lao to lớn của ông với vương triều Trần và nhà nước Đại Việt như một anh hùng dân tộc

Là nhân vật kiệt suất trong lịch sử, nhưng cuộc đời ông đa dạng Bởi thế đánh giá

về ông đã có những nhìn nhận không công bằng, thiếu khách quan, cần xem xét Ông sinh năm Giáp Dần 1194, mồ côi từ nhỏ, ở với chú họ là Trần Lý tại làng Lưu

Xá, Hưng Hà, Thái Bình Gia đình Trần Lý đã từng bảo bọc Thái Tử Sâm những năm thất thế Chính Trần Thủ Độ cùng với Trần Thừa và Trần Tự Khánh (đều là con trai Trần Lý) mộ quân đánh dẹp các thế lực cát cứ khôi phục lại cơ đồ nhà Lý, giúp thái tử Sảm lên ngôi Hoàng đế Trong thời gian lánh nạn về ở nhờ nhà ông Trần Lý, ngây ngất trước sắc đẹp của Trần Thị Dung, vốn là người yêu của Trần Thủ Độ từ khi hai người còn rất trẻ, Thái tử Sảm đã ngỏ lời cưới Dung làm vợ Để giữ vững và củng cố quyền lực của mình, của những người họ Trần trong triều nhà Lý, Trần Thủ

Độ đành thầm chịu đựng nỗi đau riêng, hy sinh mối tình đầu, đồng ý để người yêu lấy Thái tử Sảm

Thái tử Sảm làm vua hiệu là Huệ Tông, lập Trần Thị Dung làm Nguyên phi, phong Trần Tự Khánh làm Chương tín hầu, Trần Thừa làm Phụ quốc Thái úy và Trần Thủ Độ là Điện Tiền chỉ huy sứ

Lý Huệ Tông từ khi lên ngôi thường suốt ngày rượu chè say khướt, bê trễ việc triều chính Vua không có con trai, Hoàng hậu Trần Thị Dung chỉ sinh được hai công chúa : Thuận Thiên đã gả cho Phụng kiền vương Trần Liễu (con trai Trần Thừa) và Chiêu Thánh mới 7 tuổi được làm Thái tử

Nhà vua bất tài,nhu nhược và sa đọa kéo theo sự suy thoái của đất nước, thiên tai mất mùa liên tiấp, nhân dân vô cùng cực khổ, giặc giã, cướp bóc nổi lên như ong Ngoài biên ải đế quốc Nguyên Mông ráo tiết tập trung binh lực chuẩn bị xâm lược Trước tình hình nguy ngập đó, Trần Thủ Độ thấy rằng cứ để nhà Lý yếu hèn trị vì, đất nước Đại Việt chắc chắn không tránh khỏi họa diệt vong Ông bàn với Trần Thừa : “ Thời thế lúc này chỉ có họ Trần thay ngôi nhà Lý mới cứu được vận nước suy vi ” Trần Thừa cho là phải Vì thế tháng mười năm Giáp Thân (1224), Trần Thủ

Độ ép Lý Huệ Tông nhường ngôi cho Lý Chiêu Hoàng rồi đi tu ở chùa Chân Giáo

và qua đời tại đấy Sau đó lợi dụng mối cảm tình đặc biệt giữa Lý Chiêu Hoàng với Trần Cảnh (cũng là con Trần Thừa) Trần Thủ Độ đã thu xếp để Lý Chiêu Hoàng làm

vợ rồi nhường ngôi cho Trần Cảnh (1225), chính thức mở ra triều Trần

Đứng về lịch sử thì đây là cuộc đảo chính tích cực không đổ máu phù hợp với quy luật phát triển Nhờ cuộc bàn giao đó mà đất nước thoát khỏi triều đại nhà Lý

Trang 10

thối nát, thay bằng những người họ Trần tài năng lãnh đạo.Giang sơn xã tắc ổn định, lòng dân ủng hộ nên đã tổ chức ba lần đánh tan giặc Nguyên Mông

Cảm thông với mối tình đầu sâu sắc giữa Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung, sau khi Trần Cảnh lên ngôi, tân triều đã tác hợp Trần Thủ Độ với Trần Thị Dung Sử sách xưa có người phê phán nặng nề Trần Thủ Độ là gian hùng : Cướp ngôi nhà Lý cho nhà Trần ; tội “ sát phu cướp phụ ” bức tử Lý Huệ Tông rồi lấy Hoàng Hậu Trần Thị Dung Ngày nay, chúng ta có thể thấy sự phê phán như thế là thiếu khách quan Bởi việc nhà Trần thay nhà Lý là tích cực, thuận lòng dân và hợp quy luật ; Chuyện Trần Thủ Độ bức tử Lý Huệ Tông thì cho tới nay vẫn chỉ là một nghi án, chưa có cứ liệu nào khẳng định Sách “ Đại Việt sử ký toàn thư ” từng viết : “ Điều đó chưa chắc có thật ”; Còn “ cướp phụ ” càng không đúng Bởi Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung yêu nhau từ trước khi Thái tử Sảm gặp Trần Thị Dung Chỉ vì nghĩa cả của họ Trần mà

họ đành gạt nước mắt chia tay Nay họ lấy nhau, “ châu về hợp phố ” là hợp đạo lý Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất, vai trò Trần Thủ

Độ vô cùng quan trọng Thế giặc mạnh vua phải rời kinh thành về vùng sông Thiên Mạc Vua ghé thuyền gặp Thái úy Trần Nhật Hiệu hỏi kế chống giặc Nhật Hiệu chấm ngón tay vào nước viết hai chữ “ Nhập Tống ” ý khuyên nhà vua chạy sang nhờ vả nước Tống Vua rời thuyền sang hỏi Thái sư Trần Thủ Độ Thủ Độ khảng khái tâu : “ Đầu thần chưa rơi xuống đất thì bệ hạ đừng lo ” Vào lúc gay go nhất của đất nước, câu trả lời đanh thép của Thái sư Trần Thủ Độ đã khẳng định và củng cố tinh thần quyết đánh và quyểt thắng của quân dân Đại Việt ta

Đất nước thanh bình, Trần Thủ Độ lại chứng tỏ ông không chỉ có mưu lược trong việc dựng nước và giữ nước mà ông còn là một người có đầu óc sáng tạo kiệt xuất trong việc tổ chức đổi mới, phát triển kinh tế văn hoá giáo dục và pháp luật của đất nước Trần Thủ Độ thu phục được các thế lực đối địch, tổ chức lại bộ máy chính quyền từ Trung ương tới cấp xã Ông đã thực hiện viện tư hữu hoá ruộng đất, tạo điều kiện cho người nông dân có ruộng để làm ăn, cho đắp đê điều, phát triển mạnh

mẽ thuỷ lợi, giao thông Trần Thủ Độ còn chú trọng mở các thương cảng ven sông, biển để đẩy mạnh việc giao lưu buôn bán hàng hoá trong nước và ngoài nước

Không chỉ chú trọng phát triển kinh tế mà ông còn chủ trương phát triển Nho học Trần Thủ Độ tâu vua cho xây Quốc Tử Giám, đẩy mạnh việc thi cử để tuyển chọn hiền tài cho đất nước Chính nhờ sự chú ý và coi trọng hiền tài nên thời nhà Trần đã xuất hiện rất nhiều hiền tài phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đặc biệt là trong ba cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông, các nhân sĩ, tướng lĩnh Đại Việt, tuổi trẻ tài cao đã góp phần làm vẻ vang cho lịch sử dân tộc như : Nguyễn Hiền, Đặng Ma La, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khả

Trần Thủ Độ còn hoạch định việc xây dựng pháp luật của triều Trần Ông đề ra khung bậc, thể thức của luật hình Tạo đường cho Bộ Quốc triều hình luật ra đời để tiện việc điều hành, quản lý đất nước Trần Thủ Độ chia nước thành 12 lộ, mỗi lộ đặt chức chánh phủ xứ Trần Thủ Độ còn duyệt định hộ khẩu trong cả nước, đặt các chức quan đại tư xã cùng các chức xã chính, xã quan Không chỉ là người đề ra các

tư tưởng pháp trị, mà ông còn để lại cho đời sau tấm gương về tính thẳng thắn, nghiêm túc trong việc thi hành luật Đối với ông, luật pháp không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, bất cứ ai, dù là đối tượng nào, ở vị trí nào đi chăng nữa, nếu vi

Ngày đăng: 14/05/2021, 09:37

w