Trang Tử là người có ảnh hưởng quan trọng trong thời kỳ Ngụy Tấn từ thế kỷ thứ 3 đến thứ 5 công nguyên, được mệnh danh là “Tam Huyền” cùng với “Chu Dị” và “Lão tử”, có vị thế quan trọng trong lịch sử văn học Trung Quốc. Và để hiểu rõ hơn về nhân vật lịch sử này mời các bạn tham khảo bài giảng Trang Tử sau đây.
Trang 2“Bao la vạn khoảnh, biến hóa khôn
lường, trong hết thảy các nhà chư tử cuối đời Chu, không nhà nào có thể vượt qua Trang Tử vậy.”
- Lỗ Tấn
Trang 4• Trang Tử tên Chu, là người nước Tống thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, ông từng làm quan nhỏ địa phương của nước Tống
Tương truyền Trang Tử thông minh từ nhỏ, đi du ngoạn các
nước, tìm tòi cổ phong, tôn sùng tự nhiên, coi thường các vương hầu Vua nước Sở từng hậu đãi ông nhưng ông đã từ chối, suốt đời không làm quan, về ở ẩn dật giang hồ, làm giày rơm bán
kiếm sống, truyền đạo, viết sách hơn 10 vạn chữ.
• Hiện còn lưu giữ đươc 33 bài viết của Trang Tử, chia làm nội thiên, ngoại thiên, tạp thiên Nội thiên là do Trang Tử viết, ngoại thiên và tạp thiện có sự tham gia của học trò Trang Tử và học giả sau này Thuyết Tề vật, Tiếu Dao Du và Đại Tông Sư là tập trung thể hiện tính triết học của Trang Tử.
Trang 5TRANG TỬ LÀ NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO?
Trang 6Huệ tử làm quan nước Lương, Trang tử tính qua nước Lương thăm Nhưng, có kẻ nói với Huệ tử: “Trang tử mà qua đây là để cùng ông tranh ngôi tướng quốc” Huệ tử sợ, cho kẻ canh chừng suốt ba ngày ba đêm, đợi Trang tử đến thì bắt.”
Trang tử hay chuyện, không đi Sau rồi lại đến Gặp Huệ tử ,Trang tử bảo:
“Phương Nam có con chim tên là Uyên Sồ, ông có biết không? Uyên Sồ bay từ biển Nam qua biển Bắc, nếu không gặp cây ngô đồng thì không chịu đậu; nếu không gặp quả cây quý thì không ăn; nếu không gặp
nước suối trong ngọt thì không uống Nó là một con chim trong sạch.
Có con cú mèo đang rỉa xác chuột chết giữa cánh đồng, thấy Uyên Sồ bay ngang, sợ nó giành miếng ăn nên kêu to lên để dọa Uyên Sồ đừng đáp xuống.
Nay vì sợ cái ngôi tướng quốc của ông ở nước Lương nên ông kêu to lên
để dọa tôi sao?”
Trang 7• Trang tử câu trên sông Bộc.Vua Sở phái hai vị đại phu lại báo trước
“sẽ xin đem việc nước lại làm phiền ông”.
thích sống mà lết cái đuôi trong bùn?
Trang 9• Khi Khổng Tử đi tới đất Khuông, bị một đám người bao vây vòng trong, vòng ngoài Vậy mà ông vẫn
Xuống nước mà không sợ con giao, con rồng, đó là cái dũng của bọn chài lưới; trên bộ mà không sợ con tê ngưu, con cọp, đó là cái dũng của bọn thợ săn Trước mũi gươm đao, mà coi chết như sống,
đó là cái dũng của liệt sĩ Biết rằng khốn cùng do mệnh, thông đạt nhờ thời, gặp nạn lớn mà không
sợ, đó là cái dũng của thánh nhân Do [tức Tử Lộ], anh cứ yên tâm Số mệnh thầy đã được an bài rồi
Một lát sau, một người đeo binh khí, tiến tới xin lỗi Khổng Tử:
Trang 10• 逍 逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍 逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍 逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍 逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍 逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍 逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍 逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍 逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍 逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍
逍 逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍 逍逍逍逍逍逍逍逍逍逍
Trang 11• Huệ tử bảo Trang tử:
- Vua Ngụy cho tôi một hột giống bầu lớn, tôi đem trồng được những trái chứa được năm thạch Dùng cả một trái để chứa nước thì nó không đủ cứng để chịu được,
khiêng đi sẽ bể; nếu xẻ nó thành nhiều phần thì lại nông quá, không chứa được bao nhiêu Thành thử tuy nó lớn mà vô dụng, cho nên tôi đã đập bỏ
Trang tử bảo:
- Vậy là ông vụng sử dụng những vật lớn rồi Một người nước Tống chế được một thứ thuốc bôi ngón tay cho khỏi nứt nẻ Gia đình người đó đời đời làm công việc đập lụa Một người lạ hay tin, lại trả một trăm đồng tiền vàng để mua phương thuốc Người
đó họp cả họ lại, bảo: “Chúng ta đời đời đập lụa, chỉ kiếm được vài đồng tiền vàng Bây giờ chỉ trong một buổi có thể thu được một trăm đồng Nên bán cho họ đi”
Người lạ kia được phương thuốc rồi, lại thuyết vua Ngô Lúc đó nước Việt đang gây chiến với Ngô, vua Ngô bèn phong người đó làm tướng Mùa đông, hai bên thủy
chiến với nhau, Việt đại bại phải cắt đứt cho Ngô, vua Ngô đem đất đó phong cho ông ta
Cùng dùng một thứ thuốc mà người thì được phong đất, kẻ vẫn phải đập lụa, chỉ vì cách dùng khác nhau Nay ông có trái bầu chứa được năm thạch, sao không nghĩ
cách dùng nó làm một trái nổi để qua sông, hở? Phàn nàn rằng xẻ ra thì nó nông quá, không chứa gì được, chính là vì lòng của ông không thông đạt đấy
Trang 13TRANG TỬ (khoảng 369 – 286)
1 THẾ GiỚI QUAN
- Kế thừa học thuyết “pháp đạo tự nhiên” của Lão
Tử, cho rằng quy luật vận động của vạn vật mang tính tự thân, vô thức, con người tuân theo.
- Đề cao tinh thần tự do, tự chủ của con người: Hình hài con người bị quy luật tự nhiên chi phối, nhưng tinh thần vẫn có thể vượt ra ngoài vòng cương tỏa, để tự do tiêu dao, tự tại trong trạng thái yên tĩnh
Trang 14hiện tượng, thời ấy có Đạo, và như vậy cái hữu hạn vừa nằm trong
cái vô cùng, lại vừa hàm chứa được cái vô cùng.
• Từ trong lòng Đạo mà nhìn ra, thì muôn loài muôn vật là một,
hoàn toàn giống nhau, vô cùng vô tận như nhau.
• Từ trong cảnh giới hiện tượng mà nhìn ra thì muôn loài muôn vật hết sức khác nhau, biến thiên, phù du, ảo hóa.
Trang 15Con người cũng như vũ trụ, có hai phần:
• 1- Một là Đạo thể vô biên tế bên trong.
• 2- Hai là con người phàm tục bên ngoài, với thất tình lục dục niệm lự biến thiên, trí thức, phán đoán thường nhật, thông thường, tử sinh vô định.
• Thiên Thu Thủy 逍 逍 có một câu bất hủ, tóm tắt được quan niệm này, đó là: Thiên tại nội,
nhân tại ngoại 逍 逍 逍 逍 逍 逍
Trang 16Xã hội loài người, cũng có hai phần:
• 1 Một là Thiên nhiên Thiên nhiên là cái gì
thuộc về Thiên chân, Thiên tính, và như vậy
chắc chắn là hoàn mỹ.
• 2 Hai là Nhân tạo Mà nhân tạo là tất cả
những gì do khối óc con người bày vẽ ra, cho nên dĩ nhiên là kém cõi, dĩ nhiên là vụng về,
không thể nào đem lại hạnh phúc thật cho con người được.
Trang 172 NHÂN SINH QUAN
- Chủ trương “vô vi” & đưa xh trở về thời nguyên thủy
- Không mấy quan tâm đến chính trị và ổn định
xh, mà lưu tâm nhiều hơn đến tự do tinh thần
- Thể hiện quan điểm “Tương đối chủ nghĩa” trong triết học nhân sinh “Tề vật”, “Tề thị phi”
(san bằng sự khác biệt giữa muôn vật, xóa nhòa ranh giới phải và trái, Ta và vật bình đẳng)
Trang 18"Người nằm trong chỗ ẩm thấp thì sinh ra đau lưng
và tê liệt một bên mình; con cá chạch thì có sao không? Người ở trên cây thì run rẩy, sợ sệt; còn loài khỉ vượn có sao không? Ba loài ấy, ai biết chỗ nào là chỗ ở chính? Con người thì ưa ăn thịt thà; hươu nai thì thích ăn cỏ non; rết thì cho rắn con là ngon; chim mèo chim cú thì nghiện ăn chuột bọ Bốn loài ấy, ai biết món ăn nào là chính vị? Mao Tường Lệ Cơ, người thấy thì cho là đẹp
mà cá thấy thì lặn sâu, hươu nai thấy thì chạy dài Bốn loài ấy, ai biết sắc đẹp nào là chính sắc trong thiên hạ?”
=> Không có chỗ nào là chỗ hợp dùng chung cho mọi vật Mọi vật thuận theo chỗ hợp của mình
Trang 19"Xưa Trang Chu chiêm bao thấy mình là
bướm, vui phận làm bướm, tự thấy thích chí, không còn biết có Chu nữa Chợt tỉnh giấc, thì lại thấy mình là Chu Không biết Chu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là Chu?”
=> Sự hỗn hợp giữa Ta (Trang Chu) và Vật (con
bướm) hồn nhiên đến không thể biết đâu là thực, đâu là mộng Và như vậy, mộng cũng là thực, thực cũng là mộng, Ta cũng là Vật, Vật cũng là Ta Ta và Vật là một, cùng bình đẳng như nhau
Trang 21Tề vật & Tề thị phi
+ không nên phân biệt lớn & nhỏ
+ không nên phân biệt thọ & yểu
+ không nên phân biệt quý & tiện
+ không nên phân biệt hữu dụng & vô dụng
Quan điểm “tương đối chủ nghĩa”
“Giả sử trong tranh luận, anh thắng và tôi thua, như vậy có phải anh đúng còn tôi sai không?”
Trang 223 ẢNH HƯỞNG TRONG VĂN HỌC
- Lối viết giàu hình tượng
- Cách diễn đạt “ý tại ngôn ngoại”
- Phong thái sống cầu nhàn, tiêu dao, gần gũi
với thiên nhiên
- Tư tưởng tự do tuyệt đối về tinh thần
Trang 23Thuyên giả sở dĩ tại ngư,
Đắc ngư nhi vong thuyền
Đề giả sở dĩ tại thố,
Đắc thố nhi vong đề.
Ngôn giả sở dĩ tại ý,
Đắc ý nhi vong ngôn.
Ngô an đắc phù vong ngôn chi nhân,
Nhi dữ chi ngôn tai
(Ngoại vật)
=> “Ngôn tại ý ngoại” (“Ý ở ngoài lời”, “Đừng
chấp lời, mà hãy tìm ý”)
Trang 24Được ý hãy quên lời.
Ta tìm đâu được người biết quên lời
Hầu cùng nhau đàm luận.»
- Chi ngôn (gặp đâu nói đó)
- Trùng ngôn (Gán lời mình cho một nhân vật lịch sử nào)
- Ngụ ngôn (Nói bằng thí dụ, sự tích, bóng gió, như trong chương Thiên
hạ, )
Trang 25Kết luận về Trang Tử
• Trang Tử có ảnh hưởng quan trọng trong thời kỳ Ngụy Tấn từ
“Tam Huyền” cùng với “chu dị” và “Lão tử”, có vị thế quan
trọng trong lịch sử văn học Trung Quốc Trang Tử chính thức
Đường <618-907>.
• Sự ảnh hưởng của Trang Tử đối với người đời sau không
triết học của ông không phải là giáo điều khô khan, mà ngược