Xuân này có lẽ không về được,Vậy biết xuân nào về được đây?... Thuyền nghiêng, gió mạnh, buồn khi thấy Trên sóng bạc đầu người bạc đầu.. Trông cảnh xuân Nước mất, còn núi sông.. Được tin
Trang 1Thơ Đỗ Phủ Tác giả: Đỗ Phủ
Cổ Thi Tác Dịch
Đỗ Phủ:
Tác giả: (712-770), tự Tử Mỹ, quê Tương Dương, nay thuộc tỉnh Hà Bắc, một trongnhững nhà thơ vĩ đại nhất đời Đường Ông thi tiến sĩ không đỗ, một lần nhân đếnTrường An, dâng lên vua Huyền Tông ba bài phú Vua thấy hay, cho làm Đãi chế tậphiền viên Đến đời Đư ờng Túc Tông, ông giữ chức Hữu tập di, rồi Hoa châu tư công.gặp lúc loạn lớn, ông bỏ quan về đất lạ Tần Châu hái rau kiếm củi lần hồi rồi lưu lạc tớiKiếm Nam Nghiêm Vũ xin cho ông làm Tham mưu kiểm hiệu Công bộ viên ng ại lang.Đến đời Đại Lịch, ông tới Lỗi Dương, một đêm quá say rồi mất, thọ 59 tuổi Tác phẩm:
Còn lưu lại được 16 quyển thơ với hơn 1400 bài
Cảm tác
Dở, hay - tự mình biết
Nghiệp văn, nghiệp cả đời
Mỗi người một cách viết,Kẻo đời sau chê cười
Tuyệt cú
Trên nền nước biếc chim càng trắng
Hoa đỏ hơn nhiều nhờ lá cây
Xuân này có lẽ không về được,Vậy biết xuân nào về được đây?
Trang 2Chợt hứng
Đường trắng hoa dương, những lá sen
Tròn xanh trên suối như đồng tiền
Mầm măng khẽ nhú không ai thấy
Trên cát vịt trời đang ngủ yên
Chợt hứng
Những muốn tới nơi suối khởi đầu
Một mình chống gậy giữa Phương Châu
Cuồng điên gió thổi, oằn tơ liễu
Nước cuốn hoa đào trôi tới đâu?
Tặng Lý Bạch
Thu về nhớ cảnh ngắm trăng lên
Thẹn với Cát Hồng vì thuốc tiên.(1)
Ngang tàng, bướng bỉnh, kiêu, trọng nghĩa,
Ngày nào cũng uống, hát như điên(2)
Tặng Hoa Khanh
Cẩm Thành đàn sáo suốt đêm ngày,
Nửa tan vào gió, nửa vào mây
Trang 3Vốn của thiên cung, nơi hạ giới,
Ai đã từng nghe nhạc khúc này?
Tiễn Hạ Tiêm ở bến sông
Bùi ngùi lệ nhỏ lúc xa nhau:
Đã bảy mươi rồi, còn đi đâu?
Thuyền nghiêng, gió mạnh, buồn khi thấy
Trên sóng bạc đầu người bạc đầu
Trung thu
Đêm nay là trung thu
Trời cao, trăng huyền ảo
Ai có tiệc lầu nam
Trang 4Tuyệt cú
Chim trắng bay, sông biếc
Núi xanh tươi, đầy hoa
Lại thêm một xuân nữa
Biết bao giờ về nhà?
Gặp ông Lý Niên ở Giang Nam
Trước nhà Thái Cửu từng nghe tiếng
Trong phủ Kỳ Vương gặp mấy lần
Giang Nam xinh đẹp mùa hoa rụng
Bây giờ lại gặp trạm dừng chân
Tuyệt cú
Đôi chim oanh hót trên cành liễu
Chấp chới trời xanh mấy cánh cò
Khung cửa in tranh mờ núi tuyết,
Dập dìu thuyền đậu bến Đông Ngô
Mạn hứng
(bài một)Đứng ngắm sông xuân những chạnh lòng
Trang 5Một mình chống gậy bước thong dong.
Tơ liễu quay cuồng khi gặp gió
Theo nước, hoa đào trôi dưới sông
Trông cảnh xuân
Nước mất, còn núi sông
Cỏ vẫn mọc ngoài đồng
Thương đời, hoa nhỏ lệ
Tiễn bạn, chim đau lòng
Lửa hiệu đốt ba tháng
Thư nhà luôn chờ mong
Tóc đã bạc, lại ngắn
Cài trâm, cài không xong
Được tin em Quan từ Trung Đô đã về tới Giang Lăng,
cuối tháng xuân này sẽ đến Quỳ Châu, vừa mừng
vừa tủi, cuộc sum họp có thể đợi chờ, làm thơ tỏ chuyện ấy,
tình lộ ra cả ở lời
Em đã đến Giang Phủ
Bao giờ về Giáp Châu?
Trang 6Tuổi già không lo âu.
Lên lầu thành Duyện Châu
Đến Đông quan thăm cha
Lên lầu Nam nhìn ra
Mây đầy biển Đông Hải
Thanh Từ đất bao la
Thành hoang còn điện Lỗ
Bia Tấn núi xa xa
Nơi này nhiều cảnh cũ,
Xem không muốn về nhà
Trang 7Thành chìm trong sương dày.
Gió thổi, cây rụng lá
Mặt trời lặn phía tây
Quạ trong rừng nhao nhác
Bay đâu hạc lẻ bầy?
Núi Vu ngày tạnh ráo
Núi Vu đẹp như gấm
Sau mưa trời cao trong
Cỏ ngoài ao xanh biếc
Mây phía biển đỏ hồng
Suốt ngày chim oanh hót
Hạc giăng hàng trên không
Hoa lặng lẽ héo rụng
Gió thổi, bay ngoài đồng
Đêm mười bảy, ngắm trăng
Trang 8Ánh trăng làm rồng quẫy.
Chim tỉnh, bay lên trời
Nhà tranh bên gốc bưởi
Long lanh giọt sương rơi
Đập vải
Chàng vẫn ngoài biên ải
Mỗi bận mùa thu về,
Lau sạch chày đập vải,
Lòng thiếp buồn ủ ê
Thiếp đập vải, nhuộm áo
Gửi cho chàng - phòng the,
Đập thật mạnh, đập mãi,
Mong ngoài ấy chàng nghe
Gửi Đỗ Vi
Ngày lạnh, trời chóng tối
Mất tổ, vượn kêu sầu
Trên sông chợt nhớ bác
Bác bây giờ ở đâu?
Gửi thân nơi cát bụi,
Có tránh khỏi buồn đau?
Trang 9Gói phong thư gửi bác
Mà lệ ứa hồi lâu
Buổi chiều
Trâu dê đã xuống núi
Nhà nhà cổng cài then
Trăng gió, đêm vắng lặng
Sông núi - cảnh không quen
Giọt sương treo ngọn cỏ
Vách đá, suối kề bên
Đầu bạc bên đèn sáng
Cần chi nở hoa đèn
Lên lầu Nhạc Dương
Động Đình xưa nghe tiếng,
Nay lên lầu Nhạc Dương
Sở Ngô ở hai phía,
Trời đất mịt mù sương
Thân già, chiếc thuyền nhỏ,
Vắng tin bạn, người thương
Binh đao ngoài ải bắc
Trang 10Tựa hiên, lòng vấn vương.
Đêm ở đất khách, viết thơ để nói nỗi lòng mình
Hai bờ, cỏ gợn sóng,Chiếc thuyền, buồm dương cao
Trên sông trăng vỡ vụn,Ngoài đồng nhấp nháy sao
Nghề quan lo nghỉ sớm
Nghiệp văn, nghiệp tầm phào
Chơi vơi giữa trời đất,Chim âu về nơi nào?
Đền thờ vua Vũ
Đền vua Vũ trên núi
Gió thu thổi, xế tà
Sân đầy bưởi và quýt
Rồng vẽ kín xách nhà
Đền vắng, hơi mây lạnh
Nước trong hang chảy ra
Vua dùng xe bốn loại,Xây đập chắn Tam Ba
Trang 11Mặt trời lặn
Mặt trời xuống sát vách
Xuân về bên suối trong
Bác tiều phu nhóm lửa
Trên thuyền, giữa khúc sông
Côn trùng bay đầy ngõ
Chim giành nhau quả thông
Giá có vò rượu đục
Uống cho vợi nỗi lòng
Đêm xuân, mừng trời mưa
Đang tiết xuân, bất chợt
Trời đổ trận mưa lành
Muôn vật được tưới mát
Hơi ẩm bốc xung quanh
Thuyền chài le lói sáng
Đường quê mây bập bềnh
Chắc sáng mai, rực rỡ,
Hoa nở khắp Cẩm Thành
Chiều hôm
Trang 12Nơi này nước chảy xiết.
Hoàng hôn, núi nhuộm màu
Hoa lạnh trong cỏ rối
Chim ngủ tận rừng sâu
Bao giờ thấy quê cũ?
Trời thu gợi nỗi sầu
Ở đời gặp may hiếm
Thoắt cái đã bạc đầu
Không gặp
Lâu không gặp Lý Bạch
Cứ giả khùng, giả sai
Người đời muốn giết chết,Nhưng ta thì mến tài
Giang hồ, rượu cứ uống
Thơ viết cả nghìn bài
Nay già, đừng đi nữa,
Về đọc sách, nằm dài
Dong thuyền trên sông Bồi, đưa Vi Ban về kinh
Ngồi thuyền đưa tiễn bác
Trang 13Sông buồn khách đi xa.
Lênh đênh lâu đất khách,Mong bác sớm về nhà
Mây lửng lờ trên núi
Lớp lớp cây chen hoa
Quê người bạn bè ít,
Đã già càng thêm già
Trên cánh đồng phía tây Thế Thành,
tiễn ông Lý phán quan và ông em Vũ phán quan
đi phủ Thành Đô
Thời gian trôi lặng lẽ
Bùi ngùi tiễn người thân
Xa xa nước gợn sóng
Buông tơ hàng liễu gần
Hoa đồng nội đang nở
Núi dạt dào sắc xuân
Sao đời lắm ly biệt
Để buồn thương nhiều lần
Ông Hai viên ngoại Phạm Mạc và
ông Mười thị ngự Ngô Úc chiếu cố đến thăm,
Trang 14vì tiếp đãi sơ sót nên viết bài này
Sang chơi bên hàng xóm,
Nhìn hoa trong gió, những bần thần
Thôi, mặc hoa rơi, rượu cứ uống,
Để cho con tạo cứ xoay vần
Nhà nhỏ bên sông cò vẫn đậu
Vẫn trên sườn núi chú kỳ lân
Nghĩ kỹ, đời này nên hưởng lạc,
Đừng vì danh hão, bận vào thân
Trang 15Sông Khúc
(bài hai)Tan chầu, cứ phải uống thật say
Hề chi cầm áo uống hàng ngày
Đời người thất thập xưa nay hiếm
Nợ tiền uống rượu chuyện đông tây
Rỡn nước, chuồn chuồn luôn thấp thoáng
Bươm bướm lại về, chấp chới bay
Hãy nhớ: Thời gian trôi mãi mãi
Vậy thì vui đến, cứ vui ngay
Chơi thuyền ở bến Tây Thành
Mày xanh, răng trắng, chiếc thuyền con
Tiêu ngắn, sáo dài cứ véo von
Gió xuân nhẹ thổi, say lòng khách
Cánh buồm no gió giữa hoàng hôn
Én chao, sa cả vào mâm tiệc
Cá lượn tung tăng giữa sóng dồn
Nếu không có buổi chơi thuyền đẹp
Thì đâu có rượu để trào tuôn
Trang 16Đêm ngủ lại trong phủ
Đêm thu lạnh lẽo giếng ngô đồng
Một mình ngủ lại phủ ven sông
Trời cao, trăng sáng cho ai ngắm?
Đêm khuya tiếng trống vọng vào phòng
Lần nữa binh đao, tin vắng bặt
Quan ải tiêu điều, xe khó thông
Thấm thoắt mười năm, thân lặn lội,
Nay nương một chỗ, tạm yên lòng
Thơ đề nơi ở ẩn của họ Trương
Vui được làm khách bác
Hứng, ở luôn hết ngày
Hươu chạy trong vườn cỏ
Cá mè nhảy như bay
Mời nhau chén rượu Đỗ
Lê Trương nhà có đầy
Đường về, núi hiểm trở
Say mà không sợ say,
Trang 17Dự tiệc đêm ở nhà chàng họ Tả
Gió rừng thổi, trăng lặn
Sương đêm vướng tiếng đàn
Qua luống hoa nước chảy
Sao vãi trên lan can
Đốt nến ngồi đọc sách
Nhìn gươm, rượu rót tràn
Làm thơ xong, nghe hát,
Lại nhớ chiếc thuyền nan
Ngắm cảnh buổi sớm
Trống cầm canh Bạch Đế
Báo Dương Đài rạng ngày
Mặt trời lạnh nhô núi
Mờ mờ những đám mây
Cánh buồm xa, gió thổi
Nghe rõ tiếng lá cây
Hươu nai đùa trước ngõ
Muốn gọi mây vào bầy
Thơ vặt ở Tần Châu
Thành Tần Châu phía bắc
Trang 18Ngôi chùa cổ sát đồng.
Tường điện loang nét vẽ
Cửa núi phủ rêu phong
Trăng soi sương trên lá
Gió thổi, mây bập bồng
Sông Vi vẫn hờ hững
Buồn bã chảy về đông
Tuyết rơi trong đêm, trên thuyền,
nhớ em là thị ngự Lư Vu Tứ
Gió thổi trên sông Quế
Tuyết rơi nặng từng bông
Lầu nam trăng mờ ảo
Bãi bắc gió buốt lòng
Ánh đèn nghiêng, thuyền nặng
Yên tĩnh trùm mênh mông
Ở xa, nghe gà gáy,
Chú có nhớ anh không?
Trang 19Ngắm tuyết
Tuyết đã đến Trường Sa
Mây Hồ lạnh muôn nhà
Lá rơi bay theo gió
Mưa nhiều, không nở hoa
Cứ có tiền trong túi,
Bình rượu đầy thôi mà
Khi không ai cùng uống,
Chờ chiều quạ bay ra
Chiều tạnh
Chiều trong thôn, gió mạnh
Sân lênh láng sau mưa
Nắng sưởi làn cỏ mịn
Màu sông hắt rèm thưa
Rượu uống nhiều, tự rót
Sách đọc xong vứt bừa
Thỉnh thoảng nghe người nói:
Ông lão này lạ chưa!
Đom đóm
Trang 20Bay ra từ cỏ mục,Không dám gần mặt trời.
Không đủ sáng đọc sách
Đôi lúc bám vào người
Đôi lúc ra bãi vắng,Chập chờn như ma trơi
Chúng trốn đâu không biếtGiữa mây gió tháng mười?
Thuyền đến thành Quí Châu nghỉ lại, vì mưa dầm
Trang 21không thể lên bờ từ biệt phán quan Vương Mười hai
Thuyền đậu trên bãi vắng
Bờ đá ánh trăng lồng
Gió thổi, đèn le lói
Mưa rào rạt trên sông
Chuông sớm, bến sông ẩm
Nhà cổ, mây bập bồng
Mái chèo như cánh nhạn
Buồn này bác biết không?
Khách đến nhà
Hai phía bắc nam đều ngập nước
Chim âu không ngớt lượn quanh nhà
Nay bác đến chơi, ra mở cổng
Vắng khách nhiều ngày chửa quét hoa
Chỉ tiếc nhà nghèo nên rượu nhạt
Thanh đạm mâm bàn vì chợ xa
Nâng cốc uống đi, rồi bảo trẻCòn bao nhiêu rượu cứ mang ra
Trang 22Uống rượu ở sông Khúc
Vườn ngự bên sông, ngồi suốt ngày
Gác lầu soi bóng, nước lung lay
Theo cánh hoa lê, hoa đào rụng
Chấp chới chim vàng, chim trắng bay
Lười chầu, một việc xưa nay hiếm
Lâu không có bạn, một mình say
Tự trách già rồi không ở ẩn,
Không về nhàn nhã với rừng cây
Cùng uống rượu ở Lam Điền
Thu đến, tuổi già gượng giải khuây
Hai người tôi bác uống hôm nay
Thẹn mình tóc ngắn làm rơi mũ
Nhờ bạn ngồi bên giúp buộc dây
Sông Lam góp suối từ xa đến
Núi Ngọc hai hòn cao tận mây
Dịp này năm tới ai còn khỏe
Đã vậy cứ ngồi uống thật say
Tặng Chu Sơn Nhân
Trang 23Ông đồ thôn Cẩm đội khăn ô.
Ngoài vườn thu hoạch lắm khoai ngô
Chim sẻ quen ăn, vào tận bếp
Dạn khách, trẻ con thật lắm trò
Sông thu sâu độ dăm ba thước
Chở hai ba khách một con đò
Tre xanh, cát trắng, làng bên bến
Tiễn người trước cổng lúc trăng nhô
Sông Thanh
Làng nằm lọt giữa khúc sông Thanh
Xóm bến mùa hè luôn vắng tanh
Chim âu quen thuộc chao trên nước
Con sáo thờ ơ nhảy giữa cành
Vẽ bàn cờ giấy chơi cùng vợ
Uốn lưỡi câu cùn cho trẻ ranh
Ốm mãi, uống nhiều, quen vị thuốc
Thân hèn không thiết chuyện công danh
Thu mới
Trang 24Mây khói chưa đùn thành núi lạ,
Giật mình đã thấy lá vàng rơi
Tiếng chày đập vải vang đâu đó
Vườn cây đứng lạnh giữa đất trời
Râm ran ve khóc, thương trăng héo
Lập lòe đom đóm lượn khắp nơi
Tặng đền Kim Mã bài thơ mới
Tóc trắng, buồn thay, đã rối bời
Đom đóm
Đêm thu đom đóm lập lòe bay
Chui cả vào màn, bám cả tay
Chắc sợ trong phòng đàn, sách lạnh,
Lại bay ra ngõ, tụm thành bầy,
Trông giống sao thưa trên trời vắng,
Vật vờ giếng nước đến bờ cây
Buồn xem đom đóm ông đầu bạc
Năm tới giờ này có đến đây?
Cảm hứng mùa thu
Rừng phong sương xuống, khói âm u
Trang 25Khí lạnh ùn ùn phía núi Vu.
Dưới sông mây nước đua nhau chảy
Ngoài ải gió mây cuốn bụi mù
Cơ đơn, thuyền gợi tình quê cũ
Cúc vàng nhỏ lệ kiếp phù du
Háo hức nhà nhà may áo mới
Tiếng chày đạp vải rộn chiều thu