1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Cẩm nang phối trộn TMR cho bò sữa

34 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 6,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cẩm nang “Ứng dụng TMR cho chăn nuôi bò sữa” do Trung tâm Khuyến nông TP. Hồ Chí Minh phối hợp với Trung tâm Kiểm định giống cây trồng – vật nuôi biên soạn. Nội dung cuốn sách trình bày về những vấn đề mấu chốt về khẩu phần thức ăn hợp lý trong chăn nuôi bò sữa để giúp người chăn nuôi áp dụng góp phần nâng cao hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu của nhà thu mua về chất lượng sữa. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.

Trang 1

SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TP HỒ CHÍ MINH

TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG

CẨM NANG

ỨNG DỤNG TMR CHO CHĂN NUÔI BÒ SỮA

********

Trang 2

SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TP HỒ CHÍ MINH

TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG

Trang 3

MỤC LỤC

Lời mở đầu 4

Phần 1 Đặc điểm bộ máy tiêu hóa của bò sữa 7

Phần 2 Nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi bò sữa 11

1 Nhu cầu dinh dưỡng 11

1.1 Chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng 11

1.2 Chất dinh dưỡng cung cấp đạm 13

1.3 Chất dinh dưỡng cung cấp béo 14

1.4 Chất dinh dưỡng cung cấp khoáng 14

1.5 Chất dinh dưỡng cung cấp vitamin 15

1.6 Nhu cầu nước uống 15

2 Thức ăn chăn nuôi bò sữa 16

2.1 Thức ăn thô 16

2.2 Thức ăn củ quả 22

2.3 Thức ăn tinh 23

2.4 Phụ phế phẩm trong công nghiệp chế biến.24 2.5 Thức ăn bổ sung 27

Phần 3 Nuôi bò sữa theo khẩu phần phối trộn hỗn hợp tổng số (TMR) 36

1 Một số phương thức cho bò ăn 36

1.1 Cho ăn riêng từng loại thực liệu 36

1.2 Cho ăn theo khẩu phần phối trộn hỗn hợp tổng số (TMR) 37

2 Một số khẩu phần thức ăn TMR khuyến cáo sử dụng 41

2.1 Khẩu phần thức ăn TMR đang áp dụng thành công tại Trại Trình diễn và Thực nghiệm bò sữa công nghệ cao – Trung tâm Quản lý và Kiểm định giống cây trồng – vật nuôi 42

2.2 Một số khẩu phần thức ăn TMR cho bò sữa khuyến cáo sử dụng trên các nông hộ 46

2.3 Một số khẩu phần dành cho bò tơ 48

3 Phương pháp phối trộn thức ăn TMR và thời điểm cho ăn 49

4 Cách thay thế các thực liệu trong khẩu phần thức ăn 55

Phần 4 Một số quy trình chế biến thức ăn chăn nuôi 57

Một số địa chỉ cần liên hệ 63

Tài liệu tham khảo 64

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, chăn nuôi bò sữa ở

TP Hồ Chí Minh phát triển khá mạnh, góp phần đáng kể

trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tạo

việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nông thôn

ngoại thành; nhiều hộ đã tích lũy tăng quy mô nuôi trở

thành doanh nghiệp, trang trại nuôi bò sữa Tính đến

thời điểm 01/10/2015, tổng đàn bò sữa tại TP Hồ Chí

Minh đạt 101.134 con, trong đó đàn cái vắt sữa là

49.530 con, năng suất sữa bình quân đạt 5.657

kg/con/năm (16,07 kg/con/ngày)

Do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, diện tích

đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, người chăn nuôi

chưa chủ động được nguồn cung cấp thức ăn thô xanh

cho bò sữa, và để khai thác được nhiều sữa, các hộ chăn

nuôi có xu hướng “bồi bổ” cho bò như tăng nhiều thức

ăn tinh (cám hỗn hợp, hèm bia, xác mì,…), giảm thức ăn

thô xanh hoặc thêm thức ăn tinh để bù vào lượng thức ăn

thô bị thiếu hụt nên dẫn đến mất cân đối dinh dưỡng

trong khẩu phần Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến

quá trình lên men ở dạ cỏ, từ đó ảnh hưởng đến năng

suất, chất lượng sữa và kèm theo là hàng loạt bệnh do sự

mất cân đối dinh dưỡng (tiêu chảy, chướng hơi,…), suy

giảm khả năng sinh sản (chậm động dục, khó thụ thai,

tăng khoảng cách lứa đẻ,…) Ngoài ra, tập quán khi cho

bò ăn của nông hộ thường tách riêng từng loại thức ăn (cỏ, cám, hèm bia, xác mì,…), làm cho môi trường dạ cỏ thay đổi theo loại thức ăn khác nhau ăn vào, ảnh hưởng đến hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ, nếu mỗi lần cung cấp thức ăn gây xáo trộn môi trường dạ cỏ sẽ ảnh hưởng ngay đến kết quả tiêu hóa

Tạo môi trường dạ cỏ luôn ổn định, góp phần tăng sinh khối hệ vi sinh vật để chuyển hóa hiệu quả nhất thức ăn thành sữa, nâng cao khả năng sinh sản, giảm thiểu bệnh tật thông qua việc sử dụng khẩu phần thức ăn phối trộn hỗn hợp tổng số (TMR) trong chăn nuôi bò sữa, mà nhiều nước có nền chăn nuôi bò sữa tiên tiến đã ứng dụng

Nhằm hỗ trợ kiến thức cho người chăn nuôi, qua kinh nghiệm thực tiễn, chúng tôi giới thiệu đến bạn đọc

Cẩm nang “Ứng dụng TMR cho chăn nuôi bò sữa” do

Trung tâm Khuyến nông TP Hồ Chí Minh phối hợp với Trung tâm Kiểm định giống cây trồng – vật nuôi biên soạn Nội dung cuốn sách trình bày về những vấn đề mấu chốt về khẩu phần thức ăn hợp lý trong chăn nuôi

bò sữa để giúp người chăn nuôi áp dụng góp phần nâng cao hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu của nhà thu mua về chất lượng sữa Chúng tôi hy vọng quyển cẩm nang này sẽ giúp ích cho những bạn đọc muốn gắn bó với nghề chăn nuôi bò sữa có được những kiến thức cơ bản để đi đến thành công trong chăn nuôi

Trang 5

Trong quá trình biên soạn sẽ không tránh khỏi

những thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng

góp của Quý bạn đọc để chất lượng cẩm nang ngày càng

Khi bò ăn, thức ăn được nhai và thấm nước bọt rồi nuốt xuống dạ cỏ Khoảng 20 – 30 phút sau khi ăn, bò bắt đầu quá trình nhai lại Đó là quá trình thức ăn được

ợ từ dạ cỏ lên miệng và tại đây, trong vòng một phút, thức ăn được nhai nghiền mịn, trộn lẫn với nước bọt và được nuốt trở lại Nhờ nhai lại, tất cả các loại thức ăn thô đều được nghiền nhỏ, mịn Cùng với sự phân giải vi sinh vật trong thời gian thức ăn lưu lại ở dạ cỏ, độ bền của thành tế bào các loại thức ăn bị giảm và phá hủy, các thành phần dinh dưỡng được giải phóng dần, các phần thức ăn chìm sâu dần xuống phần dưới túi bụng dạ cỏ

Trang 6

Thông thường, khoảng 65% nguồn dưỡng chất cung cấp cho bò sữa từ sự chuyển hóa các chất do quá trình lên men thức ăn và sinh khối từ xác của hệ vi sinh vật trong dạ cỏ, phần thức ăn còn lại sẽ được tiêu hóa bởi chính men tiêu hóa của bò ở dạ múi khế và trong ruột non Với sự đa dạng về chủng loài vi sinh vật, phát triển nhanh chóng về sinh khối sẽ cung ứng nguồn dưỡng chất có phẩm chất cao cho bò để sản xuất sữa có giá trị

về dinh dưỡng cao cấp dễ tiêu cho con người Mỗi loài

vi sinh vật sẽ phân giải và sử dụng một số chất chuyên biệt trong nguồn thức ăn của bò, trong một môi trường,

độ pH ổn định sẽ tạo ra nguồn sinh khối vi sinh vật tối

ưu cho bò Tuy nhiên, trong một số trường hợp môi trường dạ cỏ có thể thay đổi làm ảnh hưởng rất lớn đến

sự lên men thức ăn trong dạ cỏ Các nguyên nhân chủ yếu là:

- Tỷ lệ thức ăn tinh thô không phù hợp

- Đặc điểm của nguồn thức ăn thô

- Phương pháp cho ăn không thích hợp

- Đặc điểm của những thức ăn bổ sung nhất là thức ăn cung đạm

- Sự thiếu hay thừa một số khoáng chất cũng làm

pH dạ cỏ tăng hoặc giảm

Và từ đây, thức ăn được đẩy tới dạ tổ ong và sau đó tới

lỗ thông giữa dạ tổ ong và dạ lá sách Quá trình tiêu hóa

diễn ra như vậy, làm vơi dần lượng chất chứa trong dạ cỏ

và bò sữa lại tiếp nhận những thức ăn mới Khi tới dạ

múi khế, thức ăn được tiêu hóa như ở động vật dạ dày

đơn

Như vậy, tổng thời gian bò sữa nhai lại trong một

ngày đêm dài hay ngắn tùy thuộc vào loại thức ăn trong

khẩu phần Thông thường, bò sử dụng khoảng 35 – 40%

thời gian trong ngày để nhai lại (ợ thức ăn rồi nhai lại)

Ngoài ra, để bò sữa nhai lại được tốt, cần bảo đảm cho

chúng ở trong trạng thái hoàn toàn yên tĩnh Bất kỳ một

hành động gây xáo trộn nào đều có thể làm gián đoạn

quá trình nhai lại và ảnh hưởng không tốt đến quá trình

tiêu hóa thức ăn

- Ruột: tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng

Dạ

cỏ Ruột non

Dạ lá sách

Thực quản Miệng

Dạ tổ ong

Dạ múi khế

Hình 1: Sơ lược bộ máy tiêu hóa bò sữa

(Nguồn: Lê Đăng Đảnh, 2007)

Trang 7

PHẦN 2

NHU CẦU DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN

CHĂN NUÔI BÒ SỮA

1 Nhu cầu dinh dưỡng

Thông thường, chi phí thức ăn trong chăn nuôi bò sữa chiếm 30 – 40% /tổng chi phí Do đó, khẩu phần ăn của bò phải đảm bảo được ổn định cả về chất lượng và chủng loại thức ăn để mang lại hiệu quả sản xuất tối đa Thành phần thức ăn nuôi dưỡng bò sữa bao gồm các chất dinh dưỡng sau:

1.1 Chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng:

Năng lượng rất cần thiết cho các hoạt động của cơ thể, trong đó chất xơ, chất bột đường và chất béo là những chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng chính cho

bò sữa Trong trường hợp thức ăn cung cấp không đủ năng lượng cho bò, chúng phải huy động năng lượng dự trữ trong cơ thể dẫn đến sụt cân Vì vậy, người chăn nuôi phải chú ý cung cấp đủ năng lượng cần thiết cho đàn bò.1.1.1 Chất xơ

Bò sữa tiêu hóa chủ yếu nhờ vào hệ vi sinh vật của dạ cỏ lên men để tạo thành các acid béo bay hơi Các acid béo này được sử dụng để chuyển hóa thành năng lượng cho bò Ngoài ra, nó còn sử dụng để tổng hợp nên

Như vậy, tạo môi trường dạ cỏ thích hợp cho hệ vi

sinh vật dạ cỏ tồn tại, hoạt động và phát triển là điểm

mấu chốt để nâng cao hiệu quả tiêu hóa thức ăn

Hình 2: Khả năng tiêu hóa ở dạ cỏ

(Nguồn: Lê Đăng Đảnh, 2007)

Trang 8

mỡ của cơ thể và di chuyển đến tuyến vú để tổng hợp

thành mỡ sữa, đường sữa và đạm sữa Chất xơ còn giúp

cho dạ dày, ruột nhu động Như vậy, chất xơ ngoài ý

nghĩa là chất dinh dưỡng, còn cần thiết để đảm bảo độ

choán của dạ dày Hàm lượng chất xơ thích hợp cho bò

sữa là 16 - 25% vật chất khô trong khẩu phần Trường

hợp hàm lượng chất xơ trong khẩu phần quá thấp (dưới

13%) sẽ dẫn đến rối loạn tiêu hóa và giảm tỷ lệ mỡ trong

sữa Ngược lại, khi hàm lượng chất xơ trong khẩu phần

quá cao sẽ làm giảm khả năng thu nhận thức ăn, giảm

giá trị năng lượng/kg chất khô khẩu phần, giảm khả

năng tiêu hóa ở dạ cỏ và giảm tỷ lệ mỡ trong sữa

Các loại thức ăn cung cấp chất xơ chủ yếu là các

loại cỏ, rơm, phụ phế phẩm nông nghiệp

1.1.2 Chất bột đường

Chất bột đường rất quan trọng trong trao đổi chất

và cân bằng năng lượng Gồm 2 thành phần chính là tinh

bột và đường (tinh bột có nhiều trong hạt ngũ cốc, khoai

tây, khoai lang, khoai mì; còn đường có nhiều trong

ngọn mía, rỉ mật đường,…)

- Tinh bột khi vào dạ cỏ phần lớn được vi sinh vật

dạ cỏ lên men phân giải thành các đường đơn và được

hấp thu để cung cấp năng lượng

- Đường và các sản phẩm phân giải tinh bột là

nguồn nguyên liệu cung cấp năng lượng cho bò sữa,

ngoài ra còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho hệ vi sinh vật dạ cỏ phát triển

Thiếu hoặc thừa chất bột đường đều làm rối loạn hoạt động sống của hệ vi sinh vật dạ cỏ, làm rối loạn quá trình tiêu hóa thức ăn, sự đồng hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng khác Cụ thể là khi cho bò ăn khẩu phần dư thừa chất bột đường, sẽ dẫn đến rối loạn tiêu hóa, giảm khả năng tiêu hóa chất xơ, làm tăng lượng acid lactic thấm vào máu gây độc, là một trong những nguyên nhân gây bệnh đau móng, què chân ở bò sữa Ngược lại, khi cho bò sữa ăn thiếu chất bột đường thì khẩu phần thiếu năng lượng, giảm sản lượng sữa

1.1.3 Chất béo

Chất béo được sử dụng trong khẩu phần để làm tăng năng lượng thức ăn của khẩu phần nhất là cho bò sữa ở giai đoạn đầu của thời kỳ tiết sữa Ở giai đoạn này năng lượng thu được từ thức ăn thường thấp hơn năng lượng bò cần để cho sản phẩm vì vậy bò thường bị giảm trọng lượng

1.2 Chất dinh dưỡng cung cấp đạm

Chất đạm rất cần thiết cho cơ thể bò Nó là thành phần quan trọng tạo nên cơ bắp, nuôi thai và tạo đạm trong sữa Nhu cầu đạm trên bò sữa phụ thuộc vào năng suất sữa Năng suất sữa cao thì nhu cầu đạm cũng cao, khi thiếu đạm trong khẩu phần thì bò biếng ăn, lông xù,

Trang 9

giảm sản lượng sữa, đường cong tiết sữa không đạt đỉnh

cao, giảm trọng lượng ở giai đoạn đầu của chu kỳ sữa,

ảnh hưởng đến lên giống và tỷ lệ đậu thai, giảm sức đề

kháng đối với bệnh tật, bê sinh ra có trọng lượng thấp,…

Những thức ăn giàu đạm là cỏ non, cỏ họ đậu, dây

đậu phộng, khô dầu đậu phộng, khô dầu đậu nành, bột

cá, hèm bia, urê

1.3 Chất dinh dưỡng cung cấp chất béo

Nhu cầu về chất béo ở bò không cao Chất béo có

thể được sử dụng để cung cấp năng lượng, đặc biệt là

trong giai đoạn đầu của chu kỳ tiết sữa, khi mà năng

lượng trong khẩu phần phải cao để cung cấp đầy đủ cho

Thông thường, chất béo có nhiều trong các loại

hạt và các loại khô dầu (khô dầu dừa, khô dầu bông

vải,…)

1.4 Chất dinh dưỡng cung cấp chất khoáng

Chất khoáng cần cho việc tạo xương, nuôi thai và

tạo ra các khoáng chất trong sữa Nhu cầu chất khoáng

ở bò sữa rất cao, một phần phải cung cấp từ thức ăn, một

phần phải được bổ sung thêm vì trong thức ăn không đủ

hoặc không cân đối Thức ăn của bò chủ yếu có nguồn

gốc từ thực vật, cho nên nếu vùng nào thừa hay thiếu

chất khoáng trong đất sẽ dẫn đến hiện tượng thiếu hay

thừa chất khoáng trong thức ăn và bò nuôi ở vùng đó

cũng bị thiếu hay thừa chất khoáng

Thiếu chất khoáng bò sẽ còi cọc, chậm lớn Nếu trong giai đoạn nuôi con, thiếu khoáng bò sẽ tự tiêu hao khoáng trong cơ thể, sinh ra tình trạng mềm xương và nhiều chứng bệnh khác, đặc biệt là các chứng bại liệt trước và sau khi sinh Có thể bổ sung khoáng cho bò sữa bằng các loại bột xương, bột sò và các loại premix Biện pháp bổ sung có hiệu quả nhất là bổ sung khoáng dưới dạng đá liếm

1.5 Chất dinh dưỡng cung cấp vitamin

Tuy nhu cầu vitamin của bò thấp nhưng nếu thiếu thì quá trình trao đổi chất sẽ ngưng trệ và bò không phát triển được Thông thường, bò rất cần các vitamin A, B,

D Các vitamin khác thì hệ vi sinh vật dạ cỏ có thể tổng hợp được, đủ cho nhu cầu của bò

- Vitamin A, B rất cần thiết để duy trì sức khỏe và cho sữa Nó có nhiều trong cỏ xanh, cỏ ủ chua, bắp hạt,…

- Vitamin D có nhiều trong các loại thức ăn ủ chua, cỏ khô, xác đậu, hèm bia Khi bò nuôi nhốt, không được tắm nắng sẽ bị thiếu viatamin D, làm ảnh hưởng đến sự hấp thu canxi

1.6 Nhu cầu nước uống

Bò cần nước cho các chức năng hoạt động cơ thể, sản xuất sữa, điều hòa thân nhiệt Lượng nước uống phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, năng suất sữa, nhiệt độ môi

Trang 10

trường, loại thức ăn và khẩu phần ăn, đặc biệt bò sữa cần

nước cho quá trình sản xuất sữa Hàng ngày bò cần một

lượng nước khá lớn bằng khoảng 1/10 trọng lượng cơ

thể Thiếu nước là nguyên nhân trực tiếp làm giảm năng

suất sữa Tốt nhất là luôn có đủ nước sạch cho bò sữa

uống suốt ngày đêm

Nước uống cho bò phải đảm bảo được 4 yêu cầu

sau:

+ Tự do (thỏa mãn theo nhu cầu): trong máng

uống phải luôn có sẵn nước cho bò uống tự do

+ Sạch: không có thức ăn thừa, nhiễm phân, nước

tiểu và rêu

+ Ngon: không mùi, không vị, mát

+ Lành: không có nguy cơ gây bệnh do ký sinh

trùng, kim loại nặng,…

2 Thức ăn chăn nuôi bò sữa

Bò sữa là động vật nhai lại, có dạ dày bốn túi, có

khả năng tiêu hóa và sử dụng nhiều loại thức ăn khác

nhau Thức ăn của bò sữa được chia làm 3 nhóm chính

sau:

2.1 Thức ăn thô:

Là loại thức ăn có khối lượng lớn nhưng hàm

lượng chất dinh dưỡng có trong 1 kg thức ăn thấp (có

nghĩa bò phải tiêu thụ một lượng lớn loại thức ăn này

mới có thể đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể) Đây là thức ăn chủ yếu của bò, hàm lượng chất xơ thô trong loại thức ăn này lớn hơn 18% Thành phần chủ yếu của thức ăn thô là chất xơ Ngoài ra, trong thức ăn thô cũng có chứa một ít tinh bột, các chất đường dễ tan

và một lượng đáng kể đạm thô, muối khoáng và các vitamin Hàm lượng đường dễ tan ở thân cao hơn ở lá và khi cây ở giai đoạn ra hoa thì hàm lượng đường đạt cao nhất Ngược lại, hàm lượng đạm tổng số sẽ giảm đi theo mức độ trưởng thành của cây

Thức ăn thô làm đầy dạ cỏ đảm bảo sự hoạt động bình thường chức năng dạ cỏ, làm tăng tỷ lệ béo trong sữa Các loại thức ăn thô gồm: thức ăn thô xanh, thức ăn thô khô, thức ăn củ quả, phụ phẩm công nghiệp,…

(1) Thức ăn thô xanh: bò cần thức ăn thô xanh cho nhai lại, cung cấp cơ chất cho vi sinh vật dạ cỏ và cho tiêu hóa ở dạ cỏ Thức ăn thô xanh bao gồm các loại cỏ, thân lá cây còn xanh (ngọn mía, thân cây bắp, ngọn lá khoai mì,…) Đặc điểm chung của các loại thức ăn thô xanh là chứa nhiều nước (60 - 85%), dễ tiêu hóa, các chất dinh dưỡng có tỷ lệ khá cân đối, có tính ngon miệng

và bò thích ăn, chứa nhiều đạm và vitamin có chất lượng cao, đôi khi có chứa những chất kích thích sinh trưởng, sinh sản và khả năng tiết sữa,…

- Cỏ tự nhiên và cỏ trồng:

+ Cỏ tự nhiên là hỗn hợp các loại cỏ hòa thảo mọc

Trang 11

trên các gò, bãi, bờ đê, bờ ruộng, trong vườn cây,…

Thành phần dinh dưỡng của cỏ tự nhiên biến động rất

lớn và tùy thuộc vào mùa vụ trong năm, nơi cỏ mọc, giai

đoạn phát triển của cỏ (cỏ non hay cỏ già) và thành phần

các loại cỏ có trong thảm cỏ

+ Cỏ trồng bao gồm: cỏ voi, VA06, stylo, ruzi,

mulato, cỏ sả,… Trồng cỏ để đảm bảo nhu cầu có nguồn

thức ăn thô xanh chất lượng và ổn định quanh năm

Trong đó, cỏ voi hoặc cỏ VA06 nên thu hoạch vào thời

điểm 40 – 45 ngày tuổi, số lượng đốt cỏ từ 5 – 6 lóng, lá

cỏ từ 7 – 9 lá, lá đầu tiên từ gốc vẫn còn màu xanh; cỏ

ruzi thu hoạch ở độ tuổi từ 45 – 50 ngày tuổi, số lượng

đốt cỏ từ 3 – 4 lóng, lá cỏ từ 4 – 6 lá, không có bất kỳ

một lá nào ngã màu vàng; cỏ sả thu hoạch lúc 30 – 35

ngày tuổi

Cỏ tươi cần chiếm tỷ lệ cao trong khẩu phần Khi

có đủ cỏ nên cho bò ăn tự do Sử dụng cỏ tự nhiên cần

lưu ý tránh cho bò bị rối loạn tiêu hóa hoặc ngộ độc bằng

cách: sau khi thu cắt về phải rửa sạch để loại bỏ bụi, các

hóa chất độc hại, thuốc trừ sâu,… Đối với cỏ còn non

hoặc thu cắt ngay sau khi trời mưa, cần phải phơi héo

(một nắng) để giảm lượng nước gia tăng hàm lượng vật

chất khô trong cỏ, đề phòng bò bị chướng bụng, đầy hơi,

đồng thời tăng lượng thức ăn ăn vào

Lượng cỏ cho bò ăn thay đổi tùy theo từng đối

tượng Trung bình mỗi ngày có thể cho một con bò ăn

khoảng 30 - 35 kg cỏ (10 – 12% thể trọng) Trong điều kiện trồng cỏ thâm canh ở nước ta, mỗi hecta cỏ trồng có thể đủ cung cấp thức ăn xanh cho 10 con bò sữa

- Ngọn mía: Có thể cho bò ăn tươi hoặc ủ cho ăn dần

Đây là phần ngọn thải ra ngay sau khi thu hoạch thân cây mía làm đường Thông thường, ngọn mía chiếm khoảng 30% của cả cây (lá ở ngọn mía chiếm 10%) Như vậy, với năng suất mía bình quân 45 - 50 tấn/ha thì mỗi ha thải ra khoảng 12 tấn ngọn mía và số ngọn mía của mỗi ha có thể nuôi 5 - 6 con bò trên 3 tháng tuổi (mỗi con bò ăn 25 kg ngọn mía/ngày)

Ngọn mía cho bò ăn tốt nhất là ngay sau khi thu hoạch Mặc dù ngọn mía có hàm lượng đường và xơ cao, nhưng lại nghèo các thành phần dinh dưỡng khác,

do đó chỉ nên sử dụng ngọn mía như là một loại thức ăn

để bổ sung đường mà không nên thay thế hoàn toàn cỏ xanh trong một thời gian dài Ngọn mía chặt nhỏ, ủ xanh với hỗn hợp urê - rỉ mật bò rất thích ăn, đây là nguồn thức ăn dự trữ cho bò rất tốt vào vụ đông xuân

- Vỏ và đọt dứa: Vỏ và đọt dứa chứa nhiều đường nhưng thiếu đạm và xơ Chính vì vậy, không nên sử dụng vỏ và đọt dứa thay thế hoàn toàn thức ăn xanh Mặt khác, trong vỏ dứa chứa nhiều men bromelin nên khi cho thú ăn nhiều sẽ bị rát lưỡi

Trang 12

- Thân cây bắp (gồm cả trái): tùy theo giống bắp,

mùa vụ và kỹ thuật canh tác (đủ nước tưới hay không),

có thể thu hoạch lúc 75 – 80 ngày tuổi (làm thức ăn

tươi), mỗi cây có ít nhất một trái, trọng lượng trái/cây

đạt > 35%, trái bắp chín sáp, hạt đồng đều, lá khô tối đa

trên một cây là 3 lá (tính từ gốc lên), các cây phải đạt sự

đồng đều Đối với bắp sử dụng ủ chua nên thu hoạch bắp

chín sáp ở thời điểm 85 – 90 ngày tuổi

- Ngọn lá khoai mì: Giàu đạm (18 – 20% vật chất

khô) nhưng lại chứa độc tố xyanoglucozit làm thú chậm

lớn hoặc có thể gây chết khi dùng hàm lượng cao

Nấu chín ngọn lá khoai mì làm giảm bớt độc tố

nhưng tiêu tốn nhiều chất đốt và nhân công Ủ chua có

thể loại bỏ gần như hoàn toàn độc tố, lại dự trữ được lâu

dài Có thể thu ngọn lá khoai mì trước khi thu hoạch củ

20 – 30 ngày mà không làm ảnh hưởng đến năng suất và

chất lượng củ

(2) Thức ăn thô khô: bao gồm cỏ khô, rơm lúa,…

- Cỏ khô: Là loại thức ăn thô xanh đã được sấy

khô hoặc phơi khô nhờ ánh nắng mặt trời và được dự trữ

dưới hình thức đóng bánh hoặc đánh đống Giá trị dinh

dưỡng của cỏ khô phụ thuộc vào thành phần dinh dưỡng

của các loại cỏ tươi dùng phơi khô, kỹ thuật phơi sấy và

điều kiện bảo quản Độ ẩm thích hợp để bảo quản cỏ khô

là dưới 15%, nếu trên 18% cỏ dễ bị mốc, khó bảo quản

Cỏ tươi non được phơi sấy khô nhanh có giá trị dinh dưỡng cao hơn cỏ già quá lứa, cỏ khô từ cỏ họ đậu có hàm lượng đạm và khoáng (đa lượng và vi lượng) cao hơn từ cỏ hòa thảo

Đây là phương pháp bảo quản thức ăn dễ thực hiện, cho phép ta dự trữ thức ăn với khối lượng lớn để dùng vào những thời điểm khan hiếm thức ăn Tuy nhiên, giá trị dinh dưỡng của cỏ khô luôn thấp hơn thức

ăn ủ chua

- Cỏ khô Alfalfa: Được nhập khẩu với giá rất đắt, tuy nhiên chất lượng rất tốt (đạm tối thiểu 16%, vật chất khô tối thiểu 87%), tỷ lệ thân và lá tương đối đồng đều,

sử dụng được ngay, có thể thay thế hoàn toàn hoặc một phần thức ăn thô xanh trong khẩu phần

- Rơm lúa: Mặc dù rơm lúa chứa nhiều chất dinh dưỡng khó tiêu hóa, nghèo đạm và muối khoáng nhưng sau khi thu hoạch được phơi khô, dự trữ cẩn thận vẫn là nguồn thức ăn thô quý cho bò

Rơm có hàm lượng xơ cao (36 – 42%), nghèo đạm (3 - 5%), béo (1 – 2%), khoáng chất (trừ Kali) và vitamin Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô của rơm thấp (30 – 40%) do vách tế bào rơm bị lignin hóa cao Bình thường khi cho ăn tự do, bò có thể ăn tối đa lượng rơm khô bằng khoảng 2% thể trọng Rơm lúa thường được sử dụng

để tăng lượng chất xơ, đảm bảo độ choán dạ dày,

Trang 13

tăng lượng xơ trong khẩu phần, nhất là với những khẩu

phần thiếu xơ Nếu nuôi bò chỉ bằng rơm đơn thuần may

ra chỉ đủ năng lượng cho duy trì cơ thể, không có năng

lượng thừa để sản xuất thịt, sữa, mà tỷ lệ tiêu hóa lại

thấp vật nuôi không ăn được nhiều Chính vì rơm có giá

trị dinh dưỡng và tỷ lệ tiêu hóa thấp nên có thể áp dụng

một số biện pháp chế biến rơm như: ủ với urê hoặc kiềm

hóa rơm để rơm mềm hơn, bò thích ăn hơn đồng thời để

làm tăng hàm lượng đạm cũng như tỷ lệ tiêu hóa và giá

trị dinh dưỡng của rơm

2.2 Thức ăn củ quả:

Gồm các loại như khoai lang, khoai mì, khoai

tây, đây là loại thức ăn nhiều nước (70 – 90%), nghèo

đạm, béo, xơ, và khoáng chất nhưng giàu tinh bột,

đường và vitamin A, B, C; có mùi vị thơm ngon bò thích

ăn; các chất hữu cơ trong thức ăn dễ tiêu hóa và hấp thu

nên giá trị năng lượng trao đổi của thức ăn này không

thua kém thức ăn hạt

Thức ăn củ quả thường được dùng để cải thiện

những khẩu phần ít nước, nhiều xơ, nghèo chất bột

đường Lượng thức ăn củ quả trung bình mỗi ngày cho

bò 4 - 5 kg Bò ở thời kỳ nuôi con cho ăn khoai lang, bí

đỏ sản lượng sữa tăng nhưng sử dụng bí đỏ thì sản lượng

sữa cao hơn Trước khi cho bò ăn phải loại bỏ củ thối

hỏng, sùng, rửa sạch đất cát, riêng khoai mì phải ngâm

nước cẩn thận để hạn chế acid cyanhydric gây ngộ độc

cho bò Khi cho ăn quá nhiều củ quả, vi sinh vật sẽ lên men đường và tinh bột nhanh chóng tạo thành acid lactic Loại acid này sẽ nâng cao độ acid, giảm độ pH dạ

cỏ Lúc này, acid lactic sẽ không tiếp tục lên men tạo thành acid propionic trong dạ cỏ mà chúng được hấp thu vào máu, phá vỡ sự cân bằng acid – kiềm trong máu và gây nên ngộ độc Do vậy, mức độ cho ăn củ quả phụ thuộc vào sự cân bằng dinh dưỡng trong khẩu phần và khi cho ăn nên thận trọng, không cho ăn nhiều cùng lúc

2.3 Thức ăn tinh:

Là loại thức ăn có khối lượng nhỏ nhưng hàm lượng chất dinh dưỡng rất cao, hàm lượng chất xơ thấp, lên men và tiêu hóa nhanh Căn cứ vào hàm lượng chất dinh dưỡng chủ yếu có trong thức ăn người ta chia thức

ăn tinh thành 2 nhóm: thức ăn cung cấp năng lượng và thức ăn cung cấp đạm

- Thức ăn cung cấp năng lượng gồm những loại thức ăn giàu chất bột đường, có hàm lượng đạm thô dưới 20% như các loại bắp hạt, hạt bông vải, khô dầu hạt bông vải, khoai mì lát,…

- Thức ăn cung cấp đạm gồm những loại thức ăn

có hàm lượng đạm thô lớn hơn hoặc bằng 20% (tính trên vật chất khô) như các loại hạt họ đậu, các loại khô dầu (khô dầu đậu nành, khô dầu đậu phộng,…), bột thịt, bột cá,…

Trang 14

Hiện nay, loại thức ăn tinh được sử dụng phổ biến

trong chăn nuôi bò sữa là cám hỗn hợp như cám con cò,

cám UP, Green feed, … Các loại thức ăn này có chất

lượng tương đương nhau nhưng khác nhau về giá cả

Người chăn nuôi cần tính toán để có hiệu quả kinh tế tốt

nhất

Mặc dù thức ăn tinh có hàm lượng các chất dinh

dưỡng cao nhưng không nên cho ăn quá nhiều làm ảnh

hưởng xấu đến tiêu hóa chất xơ, gây rối loạn tiêu hóa,

dẫn đến một số bệnh về trao đổi chất và chân móng,

thậm chí làm cho bò chết ngay vài giờ sau khi ăn Tuy

nhiên, với bò cao sản cần phải bổ sung thức ăn tinh mới

đảm bảo được nhu cầu dinh dưỡng cho tiết sữa, không

nên hòa thức ăn tinh với nước và không cho ăn quá

nhiều thức ăn tinh ở mỗi cữa ăn

Bò sữa thuộc loài nhai lại, thức ăn chính là thức

ăn thô (cỏ tươi, cỏ khô, rơm rạ, thân cây bắp,…) Do đó,

không nên có quan niệm sai lầm là muốn cho bò sữa sản

xuất nhiều sữa cần phải cho ăn nhiều thức ăn tinh Vì

thức ăn tinh chỉ là thức ăn bổ sung, số lượng nhiều hay

ít tùy theo loại bò (bò đang mang thai, nuôi con, khai

thác sữa hay cạn sữa,…)

2.4 Phụ phế phẩm trong công nghiệp chế biến

Đây là những sản phẩm phụ từ công nghiệp chế

biến nông sản, được sử dụng để thay thế một phần thức

ăn thô hoặc thức ăn tinh Bao gồm các loại:

- Xác đậu nành: Là phụ phẩm của quá trình chế biến sữa đậu nành và đậu hủ Xác đậu nành có hàm lượng đạm thô cao, mùi vị thơm ngon, dễ tiêu hóa Tuy nhiên, cần lưu ý là không nên cho ăn xác đậu nành với các loại thức ăn chứa nhiều urê, vì xác đậu nành có chứa men phân giải urê, nếu cho ăn cùng lúc và với số lượng lớn 2 loại thức ăn này, sẽ làm urê phân giải nhanh chóng tạo ra lượng lớn NH3 gây ngộ độc cho bò sữa Tốt nhất khi cho ăn xác đậu nành, nên chia làm nhiều cữ ăn để đảm bảo an toàn cho bò

- Hèm bia: Là loại thức ăn có hàm lượng đạm thô cao, nhiều nước (70 - 90%), mùi vị thơm ngon, chứa nhiều vitamin nhóm B Ngoài ra, thành phần xơ trong hèm bia rất dễ tiêu nên có tác dụng kích thích vi sinh vật phân giải xơ trong dạ cỏ phát triển Hèm bia còn chứa các sản phẩm lên men có tác dụng kích thích tính ngon miệng và làm tăng khả năng tiết sữa của bò nuôi trong điều kiện nhiệt đới

Thành phần và giá trị dinh dưỡng của hèm bia phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ nước của nó, thời gian bảo quản cũng như nguồn gốc xuất xứ Hèm bia ướt dễ bị phân giải, nếu bảo quản lâu dài thì quá trình lên men sẽ làm làm mất dinh dưỡng và tăng độ chua, tốt nhất chỉ cho bò ăn trong vòng 48 giờ Để kéo dài thời gian bảo quản hèm bia cần cho thêm muối ăn với tỷ lệ 1%

Trang 15

Đối với bò sữa cho ăn hèm bia, sản lượng sữa tăng lên

rõ rệt nhưng không nên thay thế hèm bia vượt quá 1/2

lượng thức ăn tinh trong khẩu phần và không nên cho ăn

trên 15 kg hèm bia/con/ngày Bởi vì cho ăn nhiều hèm

bia (trên 25 kg/con/ngày) sẽ làm giảm tỷ lệ tiêu hóa chất

xơ, các chất chứa nitơ và kéo theo giảm chất lượng sữa

Tốt nhất là trộn hèm bia cho ăn cùng với thức ăn tinh

chia làm nhiều bữa trong ngày

- Xác mì: Là phụ phẩm của quá trình chế biến tinh

bột từ củ khoai mì Xác mì chứa nhiều tinh bột (khoảng

60%) nhưng lại rất nghèo đạm Xác mì có thể dự trữ khá

lâu do một phần tinh bột trong xác mì bị lên men và tạo

ra pH = 4 - 5 Xác mì tươi có vị hơi chua bò thích ăn

Mỗi ngày có thể cho bò ăn 10 - 15 kg xác mì tươi; cũng

có thể phơi, sấy khô để làm nguyên liệu trộn thức ăn

- Xác thơm (vỏ thơm): xác thơm là phụ phẩm của

chế biến thơm đóng hộp Xác thơm có hàm lượng đường

cao, mùi thơm, dễ tiêu hóa Tuy nhiên, cần lưu ý là khi

cho bò ăn nhiều xác thơm sẽ gây rát lưỡi (do men

Bro-melin trong thơm gây phân hủy đạm) và mất cân đối

chất xơ, đạm Vì vậy, chỉ nên cho bò ăn xác thơm hạn

chế (dưới 15 kg/con/ngày) Có thể ủ men vào xác thơm

khoảng 2 – 3 ngày trước khi cho bò ăn, để xác thơm

mềm, men Bromelin bị phân giải bớt, bò sẽ thích ăn

hơn

- Rỉ mật đường: Là phụ phẩm của quá trình sản

xuất đường Do chứa nhiều đường nên rỉ mật là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng Ngoài ra, nó còn chứa nhiều các nguyên tố khoáng đa lượng và vi lượng rất cần thiết cho bò Rỉ mật thường được sử dụng để bổ sung đường khi ủ chua thức ăn, là thành phần chính trong bánh dinh dưỡng hoặc cho ăn lẫn với rơm lúa,… Do có

vị ngọt nên bò rất thích ăn Tuy nhiên, cũng chỉ nên cho

ăn 1 - 2 kg/con bò, không nên cho ăn nhiều trên 2 kg vì

rỉ mật nhuận tràng có thể gây tiêu chảy Nên cho ăn rải đều để tránh làm giảm pH dạ cỏ đột ngột ảnh hưởng không tốt đến vi sinh vật phân giải chất xơ

2.5 Thức ăn bổ sung:

Là loại thức ăn được thêm vào khẩu phần với số lượng nhỏ để cân bằng một số chất dinh dưỡng thiếu hụt như: chất đạm, chất khoáng, vitamin,… Hiện nay, thức

ăn bổ sung thường được sử dụng là urê, đá liếm hoặc vitamin

- Urê: Sở dĩ bò sử dụng được urê là vì trong dạ cỏ của chúng có hệ vi sinh vật có khả năng chuyển hóa urê thành đạm cung cấp cho cơ thể bò Cứ 100g urê chứa

261 - 282g đạm tổng số hoặc 200g đạm tiêu hóa Có thể

sử dụng urê theo 4 cách: trộn vào thức ăn hỗn hợp, trộn với rỉ mật đường, trộn với một số thành phần làm bánh dinh dưỡng và trộn ủ với cỏ hoặc rơm Tuy nhiên, bổ sung quá nhiều urê sẽ gây ngộ độc Do vậy, khi sử dụng urê cần chú ý những vấn đề sau:

Trang 16

+ Chỉ sử dụng urê khi khẩu phần thiếu đạm.

+ Phải cung cấp đầy đủ chất dễ lên men (bột,

đường, cỏ xanh) vào khẩu phần của bò để giúp cho hệ vi

sinh vật dạ cỏ có đủ năng lượng nhằm sử dụng NH3 phân

giải ra từ urê và tổng hợp nên đạm, nếu không bò sẽ bị

ngộ độc và chết

+ Đối với bò trước đó chưa sử dụng urê thì cần có

thời gian làm quen: hàng ngày cho ăn từng ít một và thời

gian làm quen kéo dài 5 - 10 ngày

+ Chỉ sử dụng urê cho bò trưởng thành, không sử

dụng cho bê vì hệ vi sinh vật dạ cỏ của chúng chưa phát

triển hoàn chỉnh

+ Khi bổ sung urê vào khẩu phần có thể bò không

thích ăn, vì vậy cần trộn lẫn urê với một số loại thức ăn

khác Có thể cho thêm rỉ mật đường để bò dễ ăn và cho

ăn làm nhiều lần trong ngày, mỗi lần một ít

+ Trộn thật đều và tránh urê vón cục Không hòa

urê vào nước cho bò uống trực tiếp

+ Mức bổ sung urê trong khẩu phần không quá

30g/100 kg thể trọng/ngày (sử dụng urê quá liều bò rất

dễ bị ngộ độc)

- Thức ăn bổ sung khoáng: Các chất khoáng có

vai trò rất quan trọng đối với bò, đặc biệt là đối với bò

sữa Nó tham gia vào các chức năng của cơ thể, giúp

phát triển khung xương, phát triển bào thai và sản xuất sữa Do thức ăn của bò có nguồn gốc thực vật nên khẩu phần thường dễ thiếu các chất khoáng, kể cả khoáng đa lượng và vi lượng, do vậy cần phải bổ sung các chất khoáng vào khẩu phần

Trong thực tế việc cung cấp từng chất khoáng riêng lẻ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là với khoáng vi lượng rất cần thiết nhưng lại cần với số lượng rất nhỏ, rất khó bảo đảm định lượng chính xác Vì vậy, thường phối hợp nhiều loại khoáng với nhau theo tỷ lệ nhất định dưới dạng premix khoáng, dùng để trộn với các loại thức ăn tinh, hoặc bổ sung khoáng cho bò dưới dạng đá liếm, bằng cách treo tảng đá liếm ở chuồng nuôi

Hiện nay, một sai lầm khá phổ biến ở người chăn nuôi bò sữa là hòa cám hỗn hợp, phụ phế phẩm (hèm bia, xác mì, xác nành,…) vào nước khi cho bò ăn Việc này làm giảm phẩm chất thức ăn và thất thoát lượng khoáng trong thức ăn Khi pha nước, các chất khoáng do nặng sẽ lắng xuống và bò có khuynh hướng ăn thức ăn nổi và lơ lửng, làm lãng phí lượng khoáng bổ sung và gây nên tình trạng thiếu khoáng ở bò sữa

Biểu hiện thường thấy khi thiếu khoáng là bò đi lại khó khăn Đặc biệt, đối với bò cao sản Tuyệt đối không bổ sung tự do khoáng Canxi và Phospho cho bò trong giai đoạn chờ đẻ, bò sẽ gặp một số vấn đề về sức khỏe sau khi sinh

Trang 17

Một số loại thức ăn sử dụng phổ biến

Ngày đăng: 09/05/2021, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm