Tài liệu “Giới thiệu một số công nghệ chăn nuôi bò sữa nhằm nâng cao chất lượng sữa và tăng hiệu quả kinh tế nông hộ” được biên soạn cô đọng các thông tin cần thiết, đơn giản, dễ hiểu và thực tế nhằm cung cấp cho các hộ chăn nuôi bò sữa những kiến thức kỹ thuật cơ bản và cần thiết nhất để cải thiện chất lượng sữa, nâng cao sản lượng sữa. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TP.HCM
TÀI LIỆU TẬP HUẤN HỘI THI - TRIỂN LÃM BÒ SỮA TP.HCM, LẦN V - NĂM 2015
GIỚI THIỆU MỘT SỐ CÔNG NGHỆ CHĂN NUÔI
BÒ SỮA NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỮA
VÀ TĂNG HIỆU QUẢ KINH TẾ NÔNG HỘ
Biên soạn: Th.S Vương Ngọc Long
TP.HCM, 10/2015
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Chăn nuôi bò sữa là một nghề không đơn giản và muốn được phát triển hiệu quả và bền vững thì cần phải được đào tạo huấn luyện kỹ thuật trước khi khởi sự, trong cả quá trình chăn nuôi và cũng đòi hỏi sự đầu tư cơ bản, chuyên nghiệp Thị trường sữa vẫn còn rất nhiều tiềm năng phát triển đối với Việt Nam Tuy nhiên, sắp tới vấn đề hội nhập kinh tế toàn cầu nhất là tham gia vào Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) thì các hộ chăn nuôi bò sữa trong nước cũng sẽ gặp phải nhiều thách thức Muốn tồn tại bền vững thì chỉ
có một con đường đó là chăn nuôi chuyên nghiệp, áp dụng công nghệ kỹ thuật, thay đổi tư duy cũ, phát triển theo quy hoạch và tuân thủ các nguyên tắc kinh tế thị trường là cung cấp sản phẩm phù hợp với yêu cầu thị trường
Yêu cầu ngày càng cao về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm sữa đòi hỏi người chăn nuôi bò sữa và công ty chế biến phải áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để kiểm soát chất lượng sữa từ nông trại đến bàn ăn của người tiêu dùng Đối với người chăn nuôi bò sữa, mục tiêu chính là làm sao sản xuất ra nhiều sữa với chất lượng cao đáp ứng cho tiêu chuẩn thu mua của các nhà máy chế biến sữa, từ đó tăng thu nhập cho bản thân mình Những tiêu chuẩn quan trọng mà các công ty thu mua sữa tại các nước phải áp dụng là số lượng tế bào biến dưỡng (tế bào Soma), tỉ lệ khô không béo, chất béo và vi sinh vật trong sữa Các chỉ số này không chỉ là tiêu chuẩn thu mua và giá tiền thanh toán mà còn là chỉ số cho thấy tình trạng sức khỏe và nuôi dưỡng, cho ăn của đàn bò và điều kiện vệ sinh chuồng trại, vắt sữa trong quá trình chăn nuôi bò sữa
Tài liệu “GIỚI THIỆU MỘT SỐ CÔNG NGHỆ CHĂN NUÔI BÒ SỮA NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỮA VÀ TĂNG HIỆU QUẢ KINH TẾ NÔNG HỘ” được biên soạn cô đọng các thông tin cần thiết, đơn
giản, dễ hiểu và thực tế nhằm cung cấp cho các hộ chăn nuôi bò sữa những kiến thức kỹ thuật cơ bản và cần thiết nhất để cải thiện chất lượng sữa, nâng cao sản lượng sữa
Đây là tài liệu xây dựng phục vụ cho HỘI THI - TRIỂN LÃM BÒ SỮA THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH LẦN V - NĂM 2015 và lưu hành trong khuôn
khổ Hội thi Các loại thuốc, sản phẩm thú y, thức ăn… được giới thiệu trong tài liệu chỉ mang tính tham khảo Mọi việc chuyển giao, sử dụng tài liệu này cho các đối tượng khác phải được sự đồng ý của Tác giả và Ban tổ chức Hội thi
BAN TỔ CHỨC
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN 1 CÔNG NGHỆ LÀM MÁT CHỐNG STRESS NHIỆT 8
I ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG CHUỒNG TRẠI VÀ STRESS NHIỆT 8
1.1 Điều kiện nhiệt độ thích hợp cho bò sữa 8
1.2 Stress nhiệt ở bò sữa 8
1.3 Dấu hiệu của stress nhiệt 9
1.4 Ảnh hưởng của stress nhiệt lên sinh sản và năng suất sữa 9
1.5 Các giải pháp giảm stress nhiệt cho bò 11
PHẦN 2 DINH DƯỠNG BÒ SỮA 16
I NHU CẦU DINH DƯỠNG CHO BÒ SỮA 16
1.1 Lượng thức ăn ăn vào 16
1.2 Nhu cầu năng lượng 19
1.3 Nhu cầu đạm (Protein) 22
1.4 Nhu cầu chất xơ 23
1.5 Nhu cầu khoáng 23
1.6 Nhu cầu Vitamin 25
1.7 Nhu cầu nước 25
II PHÂN NHÓM THỨC ĂN CHO BÒ SỮA 26
III PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN 31
3.1 Các phương pháp cho ăn 31
3.2 Cho ăn theo phương pháp riêng lẻ 31
3.3 Cho ăn theo phương pháp phối trộn tổng hợp (TMR) 32
3.4 Phương pháp cho ăn theo phối trộn từng phần (PMR) 32
PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN KHẨU PHẦN PHỐI TRỘN TỔNG HỢP (TMR) 33
I GIỚI THIỆU 33
1.1 Định nghĩa 33
1.2 Các yêu cầu chung khi áp dụng phương pháp cho ăn TMR 33
1.3 Các loại thiết bị cần thiết 34
II THỰC HÀNH PHỐI TRỘN TMR 36
2.1 Phân nhóm bò/bê 36
2.2 Các cơ sở xây dựng khẩu phần cho một đàn bò 37
2.3 Hướng dẫn yêu cầu thành phần dinh dưỡng cho khẩu phần các nhóm bò 39
Trang 42.4 Thực hành phối trộn TMR 43
2.5 Kiểm tra chất lượng TMR 44
2.6 Đánh giá và quản lý máng ăn 46
PHẦN 4 TRỒNG, CHẾ BIẾN VÀ BẢO QUẢN DỰ TRỮ THỨC ĂN THÔ XANH 49
I VAI TRÒ CỦA VIỆC TRỒNG CÂY THỨC ĂN THÔ XANH TRONG CHĂN NUÔI BÒ SỮA 49
II CÁC GIỐNG CÂY CUNG CẤP THỨC ĂN THÔ XANH CHỦ LỰC 50
2.1 Giống cỏ Mulato II 50
2.2 Giống ngô (bắp) 52
III KỸ THUẬT Ủ CHUA 54
3.1 Mục tiêu kỹ thuật của ủ chua thức ăn thô xanh 54
3.2 Các bước tiến hành ủ chua 56
3.3 Đánh giá chất lượng thức ăn ủ chua 58
PHẦN 5 KIỂM SOÁT TẾ BÀO SOMA TRONG SỮA 60
I TẾ BÀO SOMA VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CHẤT LƯỢNG, SẢN LƯỢNG SỮA 60 1.1 Tế bào Soma 60
1.2 Mối quan hệ giữa số lượng tế bào Soma trong sữa và sản lượng 60
II CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT TẾ BÀO SOMA TRONG SỮA 61
2.1 Các tiêu chuẩn để đánh giá tình hình viêm vú trong một đàn bò sữa 62
2.2 Biện pháp kiểm soát tế bào Soma và bệnh viêm vú 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 5DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1 Lượng vật chất khô ăn vào của bò đang cho sữa giai đoạn đầu kỳ cho sữa 18
Bảng 2 Lượng vật chất khô ăn vào của bò đang cho sữa giai đoạn giữa và cuối kỳ cho sữa 18
Bảng 3 Quy đổi sữa theo tỷ lệ béo khác nhau về sữa chuẩn 19
Bảng 4 Nhu cầu năng lượng duy trì cho bò sữa theo trọng lượng 20
Bảng 5 Nhu cầu năng lượng cho bò sữa mang thai theo tháng mang thai 20
Bảng 6 Nhu cầu năng lượng cho sản xuất 1 lít sữa theo % béo (và tỷ lệ đạm là 3,2%) 21
Bảng 7 Nhu cầu năng lượng cho tăng 1 kg trọng lượng theo giai đoạn cho sữa 21
Bảng 8 Nhu cầu đạm duy trì cho bê theo trọng lượng và mức tăng trọng 22
Bảng 9 Nhu cầu đạm duy trì cho bò tơ theo trọng lượng và mức tăng trọng 22
Bảng 10 Nhu cầu đạm duy trì cho bò sữa theo giai đoạn cho sữa, mang thai và theo trọng lượng 23
Bảng 11 Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn thô 30
Bảng 12 Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn phụ phế phẩm 30
Bảng 13 Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn tinh 30
Bảng 14 Số loại TMR gợi ý cho trại bò quy mô lớn 39
Bảng 15 Số loại TMR gợi ý cho trại bò quy mô nhỏ 39
Bảng 16 Một bảng tính nhu cầu dinh dưỡng cho bò sữa 40
Bảng 17 Thành phần dinh dưỡng cho khẩu phần các nhóm bò vắt sữa 41
Bảng 18 Thành phần dinh dưỡng cho khẩu phần các nhóm bò cạn sữa 42
Bảng 19 Thành phần dinh dưỡng cho khẩu phần các nhóm bò tơ, hậu bị 43
Bảng 20 Số loại TMR gợi ý cho trại bò quy mô nhỏ 45
Bảng 21 Ví dụ về TMR không đạt yêu cầu do băm trộn quá kỹ 45
Bảng 22 Ví dụ về TMR không đạt yêu cầu do băm trộn không kỹ 46
Bảng 23 So sánh chỉ tiêu sản xuất, dinh dưỡng giữa cỏ Voi và cỏ Mulato II 49
Trang 6DANH SÁCH HÌNH ẢNH
Hình 1 Bò stress nhiệt 9
Hình 2 Hệ thống làm mát bò sữa 12
Hình 3 Chuồng nuôi quá chật chội gây stress cho bò 13
Hình 4 Amino plus: đạm thoát qua (by pass) 14
Hình 5 Bergafat: béo thoát qua (by pass) 14
Hình 6 Một số sản phẩm nấm men có mặt trên thị trường Việt Nam 14
Hình 7 Khoáng điện giải bò sữa Pfilyte 14
Hình 8 Bò cần được ăn no trước và hỏm hông là nơi quan sát cho biết điều này 16
Hình 9 Biểu hiện của một bê thiếu đồng 25
Hình 10 Luôn luôn cho bò uống đầy đủ nước và nước phải sạch 26
Hình 11 Các loại thức ăn thô xanh thô khô cho bò sữa 27
Hình 12 Các loại thức ăn tinh cho bò sữa 28
Hình 13 Các loại thức ăn bổ sung khoáng, vitamin, probiotic cho bò sữa 29
Hình 14 Tháp thức ăn cho bò sữa 31
Hình 15 Máy trộn thức ăn TMR trục ngang và cấu trúc bên trong 35
Hình 16 Máy trộn thức ăn TMR trục đứng và cấu trúc bên trong 35
Hình 17 Một máy trộn thức ăn TMR trục đứng dùng cho trang trại gia đình 35
Hình 18 Dụng cụ sàng để phân loại xơ, tinh (Penn State Particle Separator) 45
Hình 19 Bò lựa chọn thức ăn cho thấy TMR chưa đạt yêu cầu 47
Hình 20 Thức ăn dư chất lượng đồng đều cho thấy TMR phối trộn chưa đạt yêu cầu
48
Hình 21 Thức ăn dư chủ yếu thức ăn thô cho thấy TMR chưa đạt yêu cầu do chất lượng thức ăn thô xanh và băm chưa kỹ 48
Hình 22 Cỏ voi có phần thân cao, cứng bò thường chê không ăn 49
Hình 23 Cỏ Mulato trồng tại vùng khí hậu nóng (Bình Định) 50
Hình 24 Cỏ Mulato trồng tại vùng khí hậu mát (Lâm Đồng) 50
Hình 25 Dùng cành cây có lá kéo khua để lấp một lớp đất mỏng 51
Hình 26 Thu hoạch cỏ Mulato bằng máy cắt 52
Hình 27 Ngô gieo dày làm thức ăn thô xanh cho bò sữa 53
Hình 28 Ngô chín sáp làm thức ăn thô xanh/ủ chua cho bò sữa 53
Hình 29 Cỏ băm kích thước đạt yêu cầu và ngô băm to không đạt 54
Hình 30 Dầm nén và bao phủ kín hố ủ là chìa khóa thành công của ủ chua thức ăn 55
Hình 31 Các loại men ủ chua thức ăn tại thị trường Việt Nam 56
Trang 7Hình 32 Lót film/ny lon chuyên dụng bảo vệ hố ủ 57
Hình 33 Chèn chặt các góc, các mép hố ủ chua bằng các bao hình trụ 58
Hình 34 Thức ăn ủ chua đạt chuẩn tốt và đạt có thể cho ăn 59
Hình 35 Thức ăn ủ chua hư hỏng không được cho bò ăn 59
Hình 36 Kiểm tra sữa trước khi vắt để phát hiện sữa bất thường, cần thiết thì thử CMT là biện pháp đầu tiên để kiểm soát tế bào Soma trong sữa 61
Hình 37 Lau bầu vú sạch sẽ trước khi vắt, nhúng thuốc sát trùng bầu vú sau khi vắt là biện pháp quan trọng để kiểm soát bệnh viêm vú trên bò sữa 62
Hình 38 Tuân thủ quy trình vệ sinh vắt sữa là biện pháp quan trọng để đảm bảo chất lượng sữa tốt nhất 63
Trang 8PHẦN I CÔNG NGHỆ LÀM MÁT CHỐNG STRESS NHIỆT
I ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG CHUỒNG TRẠI VÀ STRESS NHIỆT
1.1 Điều kiện nhiệt độ thích hợp cho bò sữa
Điều kiện khí hậu, thời tiết lý tưởng cho sự tăng trưởng và sản xuất của bò sữa:
độ > 27oC càng cao, hiệu quả sản xuất sữa càng giảm Trong điều kiện khí hậu, thời tiết của vùng nhiệt đới như Việt Nam, thường thì nhiệt độ không khí vượt mức 25o
C và ẩm độ tương đối vượt mức 80% là một bất lợi gây nhiều tác động xấu lên khả năng sản xuất của bò sữa
1.2 Stress nhiệt ở bò sữa
Khi trời nắng nóng, nhiệt độ môi trường từ 33 - 36oC, vượt xa nhiệt độ thích hợp đối với bò sữa, nên chúng cố gắng duy trì nhiệt độ cơ thể ổn định trong điều kiện nhiệt độ môi trường thay đổi Mục đích của hoạt động ổn định thân nhiệt là giữ được sự cân bằng giữa nhiệt sinh ra trong cơ thể (do hoạt động, sản xuất, trao đổi chất, quá trình lên men ở dạ cỏ để tiêu hóa thức ăn) và nhiệt mất đi do tương tác với nhiệt độ môi trường bên ngoài Bò năng suất càng cao, trao đổi chất càng mạnh, nhiệt sinh ra càng nhiều
Hai phương thức chính để thải nhiệt là làm mát bằng bốc hơi nước kết hợp với dẫn nhiệt và đối lưu Sự bốc hơi nước qua da (đổ mồ hôi) và phổi (thở)
là con đường chủ yếu để thải nhiệt Khi nhiệt độ từ 5 - 16oC thì bò sữa thở 15-30 lần/phút Khi nhiệt độ tăng từ 23 - 33oC, kết hợp với ẩm độ cao thì nhịp thở tăng cao đột ngột có khi lên trên 80 nhịp/phút, bò thở dồn dập và nông Sự thoát nhiệt bằng cách đổ mồ hôi của bò phụ thuộc vào số lượng tuyến mồ hôi và ẩm độ môi trường Nhiệt độ môi trường cao cản trở thải nhiệt từ cơ thể Ẩm độ môi trường cao cản trở bốc hơi nước từ bò
Khi nhiệt sinh ra trong cơ thể lớn hơn nhiệt thải ra từ cơ thể vào môi trường thì thân nhiệt vượt quá 390C bò xuất hiện stress nhiệt
Trang 91.3 Dấu hiệu của stress nhiệt
Các dấu hiệu đầu tiên của stress nhiệt là:
Bò thở nhiều, nhịp thở trên dưới 80 lần/phút
Bò ngừng ăn và ngừng nhai lại
Bò tập trung vào các khu vực cấpnước, uống nhiều nước
Nhiệt độ trực tràng vượt quá 40o
C Khi nhiệt độ trực tràng vượt quá 41oC bước đi của chúng chậm chạp, bò vươn cổ há miệng ra để thở, nước bọt tiết nhiều trào ra ngoài miệng Khi nhiệt
độ trực tràng vượt quá 41,8oC, nhịp thở hạ xuống đột ngột, đây là thể cấp tính cần phải can thiệp ngay Khi trong đàn có từ 70% số bò bị stress thì coi như toàn đàn bị stress
1.4 Ảnh hưởng của stress nhiệt lên sinh sản và năng suất sữa
Bò bị stress nhiệt ảnh hưởng đến nhiều hoạt động sống và sản xuất của bò sữa Tập trung vào các nhóm ảnh hưởng chính:
a Dinh dưỡng
- Khi bò bị stress nhiệt thì giảm ăn vào (do giảm độ ngon miệng) Các
nghiên cứu cho thấy, thì lượng chất khô của thức ăn ăn vào giảm từ 10 - 15% tùy mức độ Các nghiên cứu cho thấy cứ mỗi 1o
C cao hơn 20oC thì bò giảm ăn 0,26 kg vật chất khô và mỗi 1kg vật chất khô ăn vào giảm là tương đương với giảm 2 kg sữa Lượng ăn vào giảm sẽ dẫn đến sự thiếu hụt dưỡng chất cho các hoạt động của cơ thể
- Khi bò bị stress nhiệt, để bù đắp lượng dưỡng chất, khuynh hướng cho
ăn nhiều thức ăn tinh cũng dẫn đến các bệnh biến dưỡng như bệnh acid dạ cỏ Ngược lại, khi bò giảm ăn, nếu không được bù đắp năng lượng từ nguồn thức
ăn, bò sẽ huy động năng lượng từ nguồn mỡ dự trữ và sẽ dẫn đến bệnh ketosis
Hình1 Bò stress nhiệt
Trang 10- Khi bò bị stress nhiệt, bò thường có khuynh hướng uống nhiều nước và
sẽ dẫn đến sự mất cân bằng thể dịch trong cơ thể Uống nước nhiều, bò cũng sẽ
đi tiểu nhiều nên lượng khoáng cũng thất thoát và bò sẽ thiếu hụt khoáng cũng dẫn đến các bệnh lý do thiếu hụt khoáng như bệnh chân móng, bệnh trên da…
b Sản lượng sữa
- Khi bò stress nhiệt, do ăn kém, bệnh lý đi kèm sẽ làm sản lượng sữa
giảm 10 - 25% Sự tụt giảm sữa có thể khác nhau nhưng ước chừng 1 lít sữa cho
1oC tăng lên ở trực tràng so với bình thường
- Chất lượng sữa của bò cũng bị nhiều ảnh hưởng khi stress nhiệt Khi bò
ăn nhiều thức ăn tinh, thiếu thức ăn thô hàm lượng mỡ sữa cũng giảm Bò bệnh, suy giảm miễn dịch do ăn kém cũng dẫn đến tình trạng giảm hàm lượng protein sữa, tăng tế bào Soma
- Khi ăn kém do stress nhiệt, bò thường có đỉnh sữa thấp và tụt sữa
nhanh
c Tăng trọng, phát dục
- Bò giảm trọng lượng nhanh nếu lượng thức ăn ăn vào giảm
- Sinh trưởng phát dục của bò tơ cũng giảm do ăn kém, bệnh biến
dưỡng
d Sức khỏe gia súc
- Điều kiện nóng ẩm sẽ tạo điều kiện cho các sinh vật, vi sinh vật gây
bệnh phát triển và tấn công vào bò sữa
- Sự giảm ăn sẽ làm thiếu hụt các chất dinh dưỡng, bệnh biến dưỡng và
từ đó làm suy yếu sức đề kháng của bò sữa
- Việc cho ăn thức ăn tinh quá nhiều để bù đắp năng lượng hoặc thiếu ăn
đều dẫn đến các bệnh biến dưỡng và các bệnh kế phát
- Các bệnh tăng cao do stress nhiệt, chủ yếu là acid dạ cỏ, ketosis, chân
móng, viêm vú, cảm nóng…
e Hoạt động sinh sản
- Bò chậm hoặc không lên giống, dấu hiệu lên giống không rõ, có khi lên
giống mà không rụng trứng Thời gian lên giống ngắn hơn 5 - 6 giờ so với bình thường vì vậy khó phát hiện lên giống, khó xác định thời điểm phối giống thích hợp
- Tỷ lệ phối giống đậu thai thấp (từ 52% bình thường giảm xuống còn
30%) Phôi có sức sống yếu, tỷ lệ phôi chết cao, nhất là những ngày đầu sau phối giống Thai sống sót cũng phát triển kém, khối lượng bê sinh ra nhỏ
Trang 111.5 Các giải pháp giảm stress nhiệt cho bò
Có 03 cách giúp bò sữa kiểm soát được stress nhiệt là (1) cải thiện chuồng trại và lắp đặt hệ thống làm mát phù hợp để tạo bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp, (2) cải thiện chế độ nuôi dưỡng chăm sóc đặc biệt là khẩu phần nuôi phù hợp và (3) tăng cường khả năng đề kháng của bò sữa, kiểm soát các tác nhân gây bệnh
a Cải thiện chuồng trại và bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi
Cải thiện chuồng trại nhằm mục đích chống stress nhiệt là phải tạo cho bò một bầu tiểu khí hậu với nhiệt độ, ẩm độ phù hợp, thông thoáng giúp cho bò có thể thải nhiệt cơ thể tốt nhất
- Chuồng nuôi phải cao (từ đất đến xà ngang cao tối thiểu 3m), mái cao
và lợp bằng vật liệu cách nhiệt, vị trí đặt chuồng phải thông thoáng, quanh chuồng trồng cây bóng mát hoặc che mái rộng để cản ánh nắng chiếu trực tiếp
- Một kỹ thuật làm mát chuồng nuôi và tăng khả năng bốc hơi nước là
quạt gió kết hợp với phun nước trực tiếp trên mình bò (vòi sen/vòi phun) Bằng cách này chúng ta đã giúp chúng khả năng tiết mồ hôi nhân tạo, nhờ đó mà chúng giống như những giống bò chịu nhiệt nhờ khả năng tiết mồ hôi Quạt gió làm tăng khả năng bốc hơi nước trên mình gia súc và làm tăng sự mất nhiệt do đối lưu Kỹ thuật này phổ biến ở Israel, nơi nhiệt độ môi trường cao tới 40o
Tăng nhiệt độ
trực tràng
Tăng tế bào
soma trong sữa
Giảm nhai lại Giảm lượng
thức ăn ăn vào
Giảm sức đề kháng
Giảm sản lượng sữa
Bò viêm vú và sức khỏe kém sản lượng sữa
Mất cân bằng
mang thai
Trang 12- Sử dụng quạt công nghiệp, đường kính quạt tối thiểu 60cm, quay với
tốc độ lớn Vòi phun và quạt đặt cao cách lưng bò 1,2 - 1,5m Một chu kì phun
30 giây và quạt 5 phút được cài đặt để tự động phun quạt cho bò vào lúc trời nóng Bằng cách này người ta có thể hạ thấp nhiệt độ chuồng nuôi xuống 27o
C mặc dù nhiệt độ ngoài trời 35o
C
- Các hộ chăn nuôi nhỏ không có điều kiện đầu tư hệ thống quạt và phun
sương tự động thì chỉ cần dội nước lên mình bò Không cần cấp vòi nước liên tục, chỉ cần làm ướt mình khi khô lại dội lại Chu kì có thể là 1 phút dội và 30 phút ngừng
- Điều kiện khí hậu nóng ẩm (độ ẩm cao) như Việt Nam, các hình thức
phun nước lên mái chuồng, phun sương… là không phù hợp (vì sẽ làm giảm sự thoát nhiệt của bò sữa do hạn chế sự bốc thoát mồ hôi) và phun sương còn làm tăng các bệnh hô hấp trên bò/bê
- Giữ mật độ nuôi phù hợp, chuồng nuôi mật độ quá dày sẽ tạo stress cho
bò, tăng nhiệt độ đối lưu, tăng độ ẩm và khí độc trong chuồng
Hình 2 Hệ thống làm mát bò sữa
Trang 13b Phương pháp cho ăn và khẩu phần
- Cần phải cung cấp đầy đủ nước uống cho bò sữa và nếu cần thiết phải
pha thêm chất điện giải đặc biệt lúc nắng nóng cao điểm Nước phải sạch (tiêu chuẩn như người uống), càng mát càng tốt (máng nước bố trí trong các khu vực bóng râm mát, có mái che) Máng nước phải đủ cho bò luôn luôn đầy
- Cho bò ăn làm nhiều bữa ăn để kích thích bò ăn ngon miệng Bữa ăn
chính (số lượng nhiều nhất) nên cung cấp lúc thời điểm mát nhất trong ngày (ban đêm)
- Cho ăn phương pháp TMR (Total Mixed Ration, khẩu phần phối trộn
tổng hợp) với thức ăn thô xanh, cám hỗn hợp, thức ăn bổ sung
- Tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong khẩu phần để đảm bảo bò
ăn ít nhưng vẫn đảm bảo cung cấp đủ các chất dinh dưỡng Đặc biệt chú ý cung cấp đủ năng lượng trong khẩu phần và giải pháp phù hợp là cung cấp chất béo
by pass (chất béo thoát qua, không phân giải tại dạ cỏ) và chất đạm by pass
Hình 3 Chuồng nuôi quá chật chội gây stress cho bò
Trang 14- Do sự mất các chất khoáng đặc biệt là K (Kali) do tăng tiết nước bọt,
mồ hôi và nhịp thở (do stress nhiệt) nên cần phải bổ sung đầy đủ các chất khoáng
- Bổ sung các thức ăn bổ sung pro/prebiotic để tăng cường sự tiêu hóa,
tăng sức đề kháng của bò sữa như bổ sung các chế phẩm nấm men Vai trò của các nấm men trong chăn nuôi bò sữa đã được chứng minh như ổn định pH dạ cỏ (ngăn ngừa bệnh acid dạ cỏ, tăng cường tiêu hóa các chất dinh dưỡng ), giảm tế bào Soma (do giảm tác nhân gây bệnh, tăng cường sức đề kháng )
c Giảm sự hiện diện của các tác nhân gây bệnh và tăng cường sức đề kháng
- Vệ sinh là điều quan trọng nhất trong chăn nuôi bò sữa Một môi
trường sạch sẽ làm hạn chế tối đa sự phát triển các loại vi khuẩn, nấm men, nấm mốc có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của bò Vì vậy, hàng ngày nền chuồng phải được cọ rửa sạch, và yêu cầu phải thoát nước tốt, nền luôn khô ráo Các dụng cụ
Hình 4 Amino plus: đạm thoát qua (by pass) Hình 5 Bergafat : béo thoát qua (by pass)
Hình 6 Một số sản phẩm nấm men có
mặt trên thị trường Việt Nam Hình 7 Khoáng điện giải bò sữa Pfilyte
Trang 15vắt sữa cũng như các dụng cụ chăm sóc bò/bê phải được cọ rửa sát trùng sạch
sẽ, phơi nắng ngay sau khi sử dụng
- Bổ sung các chế phẩm bổ sung giúp hạn chế các tác nhân gây bệnh,
tăng cường sức đề kháng của bò sữa như bổ sung nấm men trong khẩu phần
d Vai trò của nấm men
- Các loại nấm men cung cấp mannan oligosaccharide (MOS) để giảm
lượng sinh vật có hại trong đường tiêu hóa (phần lớn vi khuẩn gây hại thường bám vào thành ruột non để gây bệnh, nhờ cấu trúc tương đồng với tiếp thụ thể trên tế bào biểu mô ruột nên mannose là chiếc “bẩy” để vi khuẩn gây bệnh bám vào và loại thải chúng theo phân, đồng thời ngăn chặn được sự gắn kết giữa vi khuẩn gây bệnh với thành ruột non) Các kết quả nghiên cứu cho thấy khi được
bổ sung vào thức ăn gia súc, có tác dụng làm giảm tỉ lệ và số lượng các dòng Salmonella, Clostridium cũng như E coli trong phân gia súc
- Mannan oligosaccharide (MOS) cũng có vai trò trong việc hạn chế sự
đề kháng với thuốc kháng sinh ở động vật Mới đây, những nhà nghiên cứu ở trường Đại học Kentuckey nhận thấy tỉ lệ dòng Salmonella kháng ampicillin và streptomycin giảm khi có dịch trích từ vách tế bào nấm men vốn chứa nhiều mannan oligosaccharide Việc hạn chế sự đề kháng kháng sinh rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả lâu dài của việc sử dụng kháng sinh ở người và vật nuôi
- Ngoài ra, nhiều nhóm vi khuẩn có lợi như Lactobacilli,
Bifidobacteria… sử dụng MOS như là nguồn cung cấp năng lượng, trong khi các vi khuẩn gây bệnh lại không thể, điều này cũng hạn chế được sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh
Trang 16PHẦN 2 DINH DƯỠNG BÒ SỮA
I NHU CẦU DINH DƯỠNG CHO BÒ SỮA
Nhu cầu dinh dưỡng của bò sữa được xem xét dựa trên các chỉ tiêu chính
là lượng thức ăn ăn vào, năng lượng, đạm, chất béo, khoáng, vitamin, nước
1.1 Lượng thức ăn ăn vào
Lượng thức ăn ăn vào (tính bằng vật chất khô) hay còn gọi tắt là lượng vật chất khô ăn vào là chỉ tiêu quan trọng nhất và cũng là yếu tố thường bị giới hạn nhất trong việc thiết lập khẩu phần ăn cho bò sữa đặc biệt là bò cao sản và bò trong điều kiện stress nhiệt Do đó, trong điều kiện chăn nuôi ở nhiệt đới, mục tiêu đầu tiên của việc thiết lập khẩu phần ăn cho bò là tăng lượng vật chất khô ăn vào và tăng hàm lượng dinh dưỡng trên một đơn vị thức ăn ăn vào
Lượng vật chất khô ăn vào (DMI) tùy thuộc vào các yếu tố:
Trọng lượng cơ thể và khả năng sản xuất (yếu tố năng suất quan trọng hơn)
Giai đoạn cho sữa
Yếu tố môi trường hoặc ngoại cảnh
Hình 8 Bò cần được ăn no trước và hỏm hông là nơi quan sát cho biết điều này
Trang 17a Một số vấn đề cần quan tâm khi tính toán lượng vật chất khô ăn vào
- Bò đầu kỳ vắt sữa thường ăn ít hơn (độ ngon miệng kém) và trường
hợp này ở bò đẻ lứa một thường nghiêm trọng hơn bò rạ Do bò chỉ ăn tốt sau
5-10 tuần sau khi sinh (kéo dài hơn thời gian đạt đỉnh sữa) nên việc nuôi dưỡng bò
ở giai đoạn trước khi đẻ 2 tuần (thường được gọi là giai đoạn chuyển tiếp từ giai đoạn bò cạn sữa sang giai đoạn vắt sữa) là rất quan trọng
- Khẩu phần giai đoạn chuyển tiếp phải tăng dần nhiều thức ăn tinh bột
để kích thích sự phát triển các nhung mao dạ cỏ để tăng hấp thu các acid béo bay hơi, tăng cường chức năng sinh lý dạ cỏ và hạn chế bệnh ketosis, sốt sữa khi bò
đẻ Nếu bò cho ăn tốt lúc chuyển tiếp thì lượng thức ăn ăn vào sẽ đạt lại đỉnh cao bình thường lúc 3 tuần sau đẻ và bò sẽ đạt đỉnh sữa cao nhanh và cao
- Nếu khẩu phần có lượng chất béo (phân giải tại dạ cỏ) cao hơn 5% thì
sẽ giảm lượng thức ăn ăn vào Khi bò ăn nhiều chất béo phân giải tại dạ cỏ, chất béo sẽ làm giảm hoạt động của các vi sinh vật dạ cỏ, bò sẽ ăn ít đi Vì vậy, việc
sử dụng các chất béo chỉ thực hiện sau khi bò đẻ ít nhất 3 tuần sau đẻ và ưu tiên cho sử dụng các chất béo không phân giải tại dạ cỏ (Bypass fat)
- Trong khẩu phần cho bò sữa cần thức ăn thô xanh có hàm lượng chất
xơ trung tính cao
- Nếu khẩu phần có nhiều thức ăn lên men (như ngô ủ chua, hèm bia…)
và ẩm độ của các loại thực phẩm này quá cao (vượt quá 55%) thì sẽ làm cho lượng vật chất khô ăn vào sẽ giảm 2 - 5%
- Nếu máng ăn của bò trống thức ăn trên 4 giờ (hay nói khác đi bò không
được tiếp cận với thức ăn quá 4giờ/ngày) thì lượng vật chất khô ăn vào sẽ bị giới hạn Ví dụ trường hợp bò giữ lại khu chờ vắt sữa quá lâu, thời gian máng ăn trống quá nhiều hay nắng nóng bò tập trung vào chỗ mát, chỗ ẩm ướt mà không đến máng ăn…
- Stress nhiệt cũng là tác nhân làm giảm lượng vật chất khô ăn vào Ví dụ
khi nhiệt độ cao trên 27oC và ẩm độ vượt quá 80% thì lượng vật chất khô ăn vào
có thể giảm 15 - 20% Do đó vào mùa nắng nóng, 60% lượng thức ăn của khẩu phần phải được phân phối vào lúc trời mát (ban đêm)
- Một số yếu tố sinh lý khác cũng ảnh hưởng đến lượng vật chất khô ăn
vào như khẩu phần có nhiều chất xơ khó tiêu làm đầy hệ thống tiêu hoá của bò làm bò không thể ăn thêm, do đó việc chọn lựa thức ăn dễ tiêu hoặc bổ sung các pro/prebiotic làm tăng tốc độ tiêu hoá của thức ăn cũng là một biện pháp cần thiết giúp cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho bò sữa nhất là bò cao sản
- Yếu tố sinh hoá gọi là tín hiệu sinh hoá cũng ảnh hưởng đến lượng vật
chất khô ăn vào Ví dụ khi hàm lượng các chất béo, các chất béo bay hơi không bảo hoà hoặc các ammoniac hay urea trong máu cao sẽ truyền tín hiệu về một trung tâm tại não và trung tâm này sẽ truyền thông tin để kiểm soát việc ăn vào của bò (giảm hoặc ngừng ăn)
Trang 18b Phương pháp tính lượng vật chất khô ăn vào
Đối với bò cho sữa lượng vật chất khô ăn vào có thể được tính bằng cách dựa vào trọng lượng cơ thể bằng cách tính % theo trọng lượng (có điều chỉnh theo giai đoạn cho sữa, tình trạng mang thai…) hoặc tính theo công thức dựa trên trọng lượng và sản lượng sữa quy chuẩn
(i) Tính theo trọng lượng cơ thể và giai đoạn cho sữa, năng suất sữa:
Lượng vật chất khô ăn vào tính theo bảng 1
Bảng 1 Lượng vật chất khô ăn vào của bò đang cho sữa
giai đoạn đầu kỳ cho sữa
(% trọng lượng cơ thể và kg VCK/ngày) Năng suất
Bảng 2 Lượng vật chất khô ăn vào của bò đang cho sữa giai đoạn giữa
và cuối kỳ cho sữa
(% trọng lượng cơ thể và kg VCK/ngày) Năng suất
(ii) Tính theo công thức dựa trên trọng lượng và sản lượng sữa quy chuẩn
Lượng vật chất khô ăn vào tính theo công thức:
Công thức quy đổi về sữa chuẩn:
Sữa 4% béo (FCM) = (0,4 M) + (F15)
Trong đó:
M: kg sữa sản xuất
F: lượng béo sản xuất (sản lượng sữa x tỷ lệ béo trong sữa)
Lượng Vật chất khô ăn vào = 0,018 x Trọng lượng bò + Sản lượng sữa quy
chuẩn x 0,305
Trang 19(iii) Đối với bò cạn sữa
Lượng vật chất khô ăn vào tính theo công thức:
Bảng 3 Quy đổi sữa theo tỷ lệ béo khác nhau về sữa chuẩn
1.2 Nhu cầu năng lượng
Bò sữa cần năng lượng cho các hoạt động sống của cơ thể như duy trì,
điều hòa thân nhiệt, tăng trưởng, mang thai và sản xuất Nếu bò đang cho sữa được cho ăn đầy đủ năng lượng thì 80% năng lượng ăn vào sẽ được dùng cho
hoạt động duy trì và mất đi dưới dạng phân, nước tiểu và chỉ 20% năng lượng
còn lại mới được sử dụng cho sản xuất sữa Khi lượng năng lượng thức ăn ăn
vào vượt quá nhu cầu thì sẽ được chuyển hóa thành dạng dự trữ (bê, bò tơ sẽ dự
trữ ở dạng protein ở các mô cơ, bò trưởng thành sẽ dự trữ ở dạng mỡ) Khi thức
ăn cung không đầy đủ năng lượng hoặc lượng năng lượng ăn vào không đáp ứng
nhu cầu thì bò sữa sẽ lấy năng lượng từ các mô mỡ, mô cơ dự trữ để đáp ứng
nhu cầu của cơ thể
a Nhu cầu năng lượng duy trì
Nhu cầu năng lượng duy trì là năng lượng được sử dụng cho các hoạt
động biến dưỡng bình thường của bò sữa (trong điều kiện môi trường lý tưởng)
để đảm bảo bò duy trì cơ thể, sống khỏe mạnh Nhu cầu này bao gồm nhu cầu
%
béo 15,9 18,2 20,1 22,7 25,0 27,3 29,6 31,8 34,1 36,4 38,6 40,9 43,2 45,5 3,0 13,6 15,5 17,4 19,3 21,3 23,2 25,1 27,1 29,0 30,9 32,9 34,8 36,7 38,6 3,1 13,8 15,7 17,7 19,7 21,6 23,6 25,6 27,6 29,5 31,5 33,4 35,4 37,4 39,3 3,2 14,0 16,0 18,0 20,0 22,0 24,0 26,0 28,0 30,0 32,0 34,0 36,0 38,0 40,0 3,3 14,5 16,3 18,3 20,4 22,4 24,4 26,5 28,5 30,5 32,6 34,6 36,6 38,6 40,7 3,4 14,7 16,6 18,6 20,7 22,8 24,8 26,9 29,0 31,1 33,1 35,2 37,2 39,3 41,4 3,5 15,0 16,8 18,9 21,1 23,1 25,2 27,3 29,5 31,6 33,6 35,7 37,9 40,0 42,1 3,6 15,2 17,1 19,2 21,4 23,5 25,6 27,8 29,9 32,1 34,2 36,3 38,5 40,6 42,7 3,7 15,5 17,4 19,6 21,7 23,9 26,1 28,2 30,4 32,6 34,7 36,9 39,1 41,2 43,4 3,8 15,7 17,6 19,9 22,1 24,3 26,5 28,7 30,9 33,1 35,3 37,5 39,7 41,9 44,1 3,9 15,9 17,9 20,1 22,4 24,6 26,9 29,1 31,4 33,6 35,8 38,1 40,3 42,6 44,8 4,0 16,1 18,2 20,5 22,7 25,0 27,3 29,6 31,8 34,1 36,4 38,6 40,9 43,2 45,5 4,1 16,4 18,5 20,8 23,1 25,4 27,7 30,0 32,3 34,6 36,9 39,2 41,6 43,8 46,1 4,2 16,6 18,7 21,1 23,4 25,8 28,1 30,5 32,8 35,1 37,5 39,8 42,1 44,5 46,8 4,3 16,9 19,0 21,4 23,7 26,1 28,5 30,9 33,3 35,6 38,0 40,4 42,8 45,1 47,5 4,4 17,1 19,3 21,7 24,1 26,5 28,9 31,3 33,7 36,1 38,6 41,0 43,4 45,8 48,2 4,5 17,4 19,6 22,0 24,5 26,9 29,3 31,8 34,2 36,6 39,1 41,6 44,0 46,4 48,9
Lượng vật chất khô ăn vào (DMI) = 0,018 x Trọng lượng bò
Trang 20trao đổi chất cơ bản và nhu cầu cho các hoạt động cần thiết Nhu cầu này tùy thuộc vào trọng lượng của thú và thông thường khi tính toán người ta thường tăng 5% để bù vào năng lượng cho việc ăn và nhai lại
b Nhu cầu năng lượng cho hoạt động
Đối với bò chăn thả, tùy theo điều kiện xa gần, đồng cỏ bằng phẳng hay đồi núi mà cung cấp thêm năng lượng cho hoạt động
c Nhu cầu năng lượng cho mang thai
Bò sữa mang thai cần thêm năng lượng để duy trì tình trạng mang thai và
sự phát triển của bào thai Từ tháng đầu mang thai đến tháng thứ năm, nhu cầu năng lượng là 1MJ/con/ngày (239 Kcal/con/ngày) cho mỗi tháng mang thai (nếu
bò mang thai 5 tháng thì cần 1.195 Kcal/con/ngày) Nhu cầu năng lượng cho bò sữa mang thai đặc biệt sẽ quan trọng trong 4 tháng mang thai cuối Nhu cầu mang thai được trình bày trong bảng 4
Bảng 4 Nhu cầu năng lượng duy trì cho bò sữa theo trọng lượng
Theo Kcal Theo MJ
Bảng 5 Nhu cầu năng lượng cho bò sữa mang thai theo tháng mang thai
d Nhu cầu năng lượng cho sản xuất sữa
Năng lượng là yếu tố quan trọng nhất cho nhu cầu sản xuất sữa Tùy theo giai đoạn sản xuất sữa mà nhu cầu năng lượng sẽ cao hay thấp và ưu tiên cho nhu cầu nào
Theo Kcal Theo MJ
Trang 21- Trong giai đoạn đầu cho sữa, năng lượng được ưu tiên cho sản xuất
sữa, nếu khẩu phần ăn không cung cấp đủ bò sẽ huy động năng lượng từ mỡ, cơ bắp và làm cho bò gầy và bệnh biến dưỡng (ketosis,…)
- Trong giai đoạn giữa và cuối kỳ cho sữa, năng lượng được ưu tiên cho
quá trình mang thai và hồi phục cơ thể, nếu năng lượng cung cấp không đủ thì
bò sẽ ưu tiên cho nhu cầu duy trì và mang thai, do đó khả năng sản xuất sữa sẽ giảm và không hồi phục trọng lượng cơ thể
Nhu cầu năng lượng sản xuất sữa của bò sữa tùy thuộc vào thành phần của sữa (béo, đạm) Đa số ở các nước thuộc khu vực nhiệt đới và tại các trang trại, hàm lượng đạm của sữa thường không được phân tích, do đó có thể sử dụng công thức tính như sau:
Nhu cầu năng lượng sản xuất 1 lít sữa với thành phần béo là 3,5%, đạm 3,2% được trình bày ở bảng 6
Bảng 6 Nhu cầu năng lượng cho sản xuất 1 lít sữa theo % béo
(và tỷ lệ đạm là 3,2%)
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu năng lượng của bò sữa:
Tầm vóc bò và điểm thể trạng: tùy thuộc vào giống bò mà tầm vóc bò
sẽ có nhu cầu năng lượng khác nhau để hồi phục thể trạng
Nhiệt độ môi trường (stress nhiệt): các nghiên cứu cho thấy stress
nhiệt ảnh hưởng lên nhu cầu năng lượng của bò sữa và làm gia tăng nhu cầu này trên 10%
Bảng 7 Nhu cầu năng lượng cho tăng 1 kg trọng lượng theo giai đoạn cho sữa
Theo Kcal Theo MJ
Trang 221.3 Nhu cầu đạm (Protein)
Nhu cầu đạm của bò sữa cũng tương tự như nhu cầu năng lượng, tùy thuộc vào thể trọng, giai đoạn tăng trưởng, tình trạng sức khỏe, khả năng sản xuất sữa và tình trạng mang thai… trong đó khả năng sản xuất sữa là yếu tố quan trọng Nhu cầu đạm cho duy trì các hoạt động của các nhóm bò được trình bày ở bảng 8, 9, 10
Để tính toán nhu cầu đạm cho sữa, người ta thường áp dụng công thức:
Ngoài cách tham khảo nhu cầu đạm theo bảng tính cho sẵn như trình bày
ở bảng 8, 9, 10 người ta có thể áp dụng công thức tính toán nhu cầu đạm cho duy trì và sản xuất sữa theo công thức sau :
Bảng 8 Nhu cầu đạm duy trì cho bê theo trọng lượng và mức tăng trọng
Trọng lượng Nhu cầu đạm (g/con/ngày)
450g/ngày
Tăng trọng 650g/ngày
Bảng 9 Nhu cầu đạm duy trì cho bò tơ theo trọng lượng và mức tăng trọng
Trọng lượng Nhu cầu đạm (g/con/ngày)
450g/ngày
Tăng trọng 650g/ngày
Nhu cầu đạm = (3,33 Trọng lượng + 1000) x 0,13 + 63 Sản lượng sữa quy chuẩn
Nhu cầu đạm sản xuất sữa = 63g đạm / kg sữa x Sản lượng sữa
Trang 23Bảng 10 Nhu cầu đạm duy trì cho bò sữa theo giai đoạn cho sữa, mang thai
và theo trọng lượng
Ngoài việc tính toán nhu cầu đạm cho bò sữa theo tỷ lệ đạm thô, người ta còn đi sâu vào chi tiết để tính toán nhu cầu đạm của bò sữa theo đạm phân giải tại dạ cỏ và không phân giải tại dạ cỏ (by-pass protein)
1.4 Nhu cầu chất xơ
Xơ của thức ăn thô xanh bao gồm cellulose, hemicelluloses và lignin Bò sữa cần chất xơ để duy trì hoạt động của dạ cỏ như nhai lại, co bóp của dạ cỏ, sự tiết nước bọt để duy trì pH dạ cỏ… Chất lượng xơ tùy thuộc loại thực vật và giai đoạn thu hoạch Xơ là một dưỡng chất quan trọng trong khẩu phần của bò sữa
Khẩu phần nghèo xơ giàu chất bột đường (thức ăn hạt) sẽ làm cho độ pH
dạ cỏ giảm (acid hoá) và gây bệnh acid dạ cỏ là bệnh biến dưỡng gây nhiều tác hại và phổ biến trong điều kiện chăn nuôi bò sữa như nước ta
1.5 Nhu cầu khoáng
Nhu cầu khoáng thiết yếu của bò sữa bao gồm nhóm khoáng đa lượng (số lượng cần nhiều, thường tính bằng gram) và khoáng vi lượng (số lượng cần ít, thường tính bằng mg hoặc ppm) Ngày nay, người ta có khuynh hướng áp dụng phân loại chất khoáng theo chức năng sinh lý: nhóm khoáng tham gia cấu trúc
cơ thể (Canxi, Phospho), khoáng tham gia quá trình điều hòa thẩm thấu, cân bằng kiềm acid (Natri, Kali, Clorua, Magne) và nhóm khoáng tham gia cấu trúc enzyme (Sắt, Đồng, Kẽm, Mangan, Cobalt, Selenium, Iod, Crome…)
Trong chăn nuôi bò sữa nhu cầu khoáng cho bò sữa đối với các chất khoáng cũng bao gồm nhu cầu cho duy trì, mang thai, tăng trưởng và sản xuất sữa Nhu cầu này được điều chỉnh bằng hệ số hấp thu của khoáng chất đó
(i) Canxi: Canxi (Ca) là chất khoáng quan trọng nhất đối với bò sữa Ngoài
các vai trò quan trọng trong cấu trúc xương, cấu trúc màng tế bào của bò sữa, tham gia các hoạt động biến dưỡng (hoạt hóa các enzyme), dẫn truyền xung động thần kinh, Ca còn được tiết khá nhiều trong sữa Do đó nhu cầu của Ca đối với bò sữa là rất cao và quan trọng
Đạm thô (g/con/ngày) Đạm thô (g/con/ngày)
Trang 24(ii) Phospho (P): Phospho tham gia cấu trúc xương, cấu trúc các phần
mềm cơ thể (cơ), các hợp chất hữu cơ trong cơ thể (Phospholipid, Phosphoprotein, các acid Nucleic…), tham gia thành phần các enzyme (các enzyme tham gia chuyển hóa năng lượng như ATP), tham gia các hợp chất cân bằng kiềm/acid trong các hệ đệm (H2PO4-, HPO- - )… Nhu cầu P của bò sữa cũng
khá cao nhưng thường được cung cấp khá đầy đủ vì các vi sinh vật dạ cỏ có khả năng phân giải các dạng phytin (dạng phospho ở dạng acid phytic) trong các loại thức ăn ngũ cốc Tuy nhiên trong một số trường hợp, người ta nhận thấy có sự thiếu hụt Phospho (Hypophosphatemia) do các rối loạn biến dưỡng và đặc biệt
là vào giai đoạn cuối thai kỳ (nhu cầu của thai và của con mẹ) và giai đoạn mới
đẻ (do 1 lượng lớn P tiết vào sữa non) Sự thiếu hụt này sẽ dẫn đến hiện tượng
bò cái bị liệt và không đứng lên được Trường hợp này thường bị lầm với các trường hợp hạ Ca, Mg và đường huyết (trong trường hợp nhiễm độc thai kỳ)
(iii) Magne (Mg): Magne (Mg) tham gia cấu trúc bộ xương (cấu tạo mạng
lưới chelate của xương để tích lũy Ca làm cho cấu trúc xương chắc chắn), phần mềm và có các chức năng quan trọng khác như tham gia quá trình trao đổi năng lượng cơ thể (Mg và Ca có mối quan hệ mật thiết trong việc giữ cân bằng thần kinh, nếu Ca dư sẽ ức chế Mg và ngược lại Khẩu phần ăn dư thừa Ca sẽ ảnh hưởng đến sự hấp thu Mg Ghi nhớ là Mg không được dự trữ nhiều trong xương
mà chủ yếu hấp thu từ khẩu phần ăn cung cấp Các nghiên cứu còn cho thấy các trường hợp hạ Mg huyết vào cuối thai kỳ do năng lượng thức ăn ăn vào thiếu, thiếu do pH dạ cỏ tăng (bò ăn quá dư thừa đạm làm cho lượng NH3 gia tăng) hay
pH dạ cỏ giảm (do bò ăn nhiều thức ăn tinh) Thiếu Mg thường gây hiện tượng
co giật
(iv) Các nguyên tố khoáng có chức năng cân bằng điện giải, áp suất
thẩm thấu: Các nguyên tố Natri (Sodium), Kali (Potassium) và Clorua (Chlor)
là ba nguyên tố có chức năng cân bằng áp suất thẩm thấu, điện giải, ổn định pH của huyết tương và các mô bào và tạo chênh lệch điện thế ion/cation để dẫn truyền xung động thần kinh trong các neuron thần kinh
(v) Một số loại khoáng tham gia cấu trúc “enzyme, hormone” như:
Cobalt là khoáng nằm trong cấu trúc của Vitamin B12 Đối với bò sữa (và các động vật nhai lại khác), các vi sinh vật dạ cỏ có thể sử dụng Cobalt vô cơ để
tổng hợp Vitamin B12; Iod (I): Iod là một khoáng vi lượng có vai trò quan
trọng Iod tham gia cấu tạo hormone Thyroxine (của tuyến giám trạng) là hormone có vai trò trong quá trình trao đổi chất, quá trình hô hấp tỏa nhiệt của tế
bào Thiếu Iod bò sẽ sinh trưởng kém, sinh sản kém, sức đề kháng kém; Đồng (Cu): Đồng là thành phần của nhiều enzymes cytochrome oxidase có vai trò
trong việc dẫn truyền, trao đổi ion trong chuỗi men hô hấp tế bào; phát triển cấu tạo màng bọc myelin cho tế bào thần kinh; đảm bảo cho việc phát triển bình thường của bộ xương; thúc đẩy hấp thu Sắt (Fe) trong hệ thống tiêu hóa và giải phóng sắt ra khỏi hệ thống tế bào lưới, tế bào nhu mô gan để đưa Fe theo máu
đến tủy tạo hồng cầu) Kẽm (Zn): Kẽm là một trong những loại khoáng vi lượng
đóng vai trò quan trọng trong biến dưỡng của bò sữa thông qua việc tham gia cấu trúc các loại enzyme tham gia các quá trình biến dưỡng Carbohydate, đạm,
Trang 25chất béo, acid nucleic… Zn còn tham gia cấu trúc các hormone hoặc tham gia quá trình tổng hợp các hormone Zn là thành phần của thymosin một loại hormone do tế bào tuyến ức tiết ra và có vai trò trong miễn dịch tế bào Đặc biệt, thiếu kẽm sẽ làm thay đổi quá trình tổng hợp Prostaglandin (ảnh hưởng đến sinh sản), ảnh hưởng đến quá trình tạo chất sừng móng Thiếu kẽm bò sữa giảm lượng thức ăn ăn vào, giảm tăng trưởng, sinh sản kém, cho sữa giảm, chân móng yếu, khả năng đề kháng bệnh tật giảm, kém…
1.6 Nhu cầu Vitamin
Vitamin được phân thành 2 nhóm Vitamin tan trong dầu (A, D, E và K)
và Vitamin tan trong nước (Vitamin nhóm B và C) Vitamin có vai trò quan trọng trong hệ thống biến dưỡng của cơ thể bò vì nó tham gia cấu trúc nhóm ghép trong nhiều hệ thống enzyme, xúc tác có phản ứng sinh học để duy trì các hoạt động bình thường của cơ thể Đối với bò sữa, ngoại trừ Vitamin A và Vitamin E, hầu như các loại Vitamin khác cơ thể bò sữa đều có thể tổng hợp được như Vit D được tổng hợp ở da, Vit C được tổng hợp ở gan và thận, Vit nhóm B và K được các vi sinh vật dạ cỏ và đường ruột tổng hợp Ngoài trừ trong các trường hợp bệnh lý thì hầu như không cần bổ sung các Vitamin này trong khẩu phần
1.7 Nhu cầu nước
Nước chiếm 60 - 70% trọng lượng cơ thể bò sữa Nước cần thiết cho nhu cầu duy trì và cân bằng thể dịch của cơ thể, tiêu hoá thức ăn, biến dưỡng các chất dinh dưỡng, vận chuyển các chất dinh dưỡng đến các mô, bài tiết các độc chất và chất thải, trao đổi thân nhiệt Có thể nói nước là chất dinh dưỡng quan
Hình 9 Biểu hiện của một bê thiếu đồng
Trang 26trọng nhất cho bò sữa Bò sữa thu nhận nước thông qua uống và có một phần trong thức ăn Bò thải và mất nước qua chất thải (nước tiểu, phân, mồ hôi), hô hấp, sản xuất sữa mất đi tuỳ thuộc vào hoạt động của bò sữa, nhiệt độ, tần suất
hô hấp, lượng thức ăn ăn vào,lượng nước uống, sản xuất sữa và các yếu tố khác
Ở bò vắt sữa, lượng nước uống cung cấp 80 - 90% nhu cầu nước của bò sữa
Cần phải lưu ý đến các hành vi và tập tính uống nước của bò sữa Bò thường uống nước lúc cho ăn và vắt sữa 50% lượng nước bò uống tập trung vào khoảng thời gian 1 giờ sau khi vắt sữa Cần bố trí đầy đủ máng nước cho bò uống đặc biệt là gần khu vực vắt sữa Chú ý đến độ sâu của máng nước sao cho
bò có thể sục mõm vào sâu 25 - 50cm
Nước cho bò uống cần phải sạch, không mùi đặc biệt Chú ý đến vấn đề nhiễm bẩn và các độc chất của nước Tóm lại, nước uống cho bò/bê phải đạt tiêu chuẩn nước uống người uống được và lượng nước luôn sẵn có cho bò uống tự
do
II PHÂN NHÓM THỨC ĂN CHO BÒ SỮA
Thức ăn cho bò sữa được phân nhóm theo nhiều cách khác nhau:
1 Phân theo dạng sản phẩm Ví dụ, thức ăn thô xanh, thức ăn hạt, thức ăn tinh, thức ăn phụ phế phẩm
2 Phân theo loại dinh dưỡng cung cấp chính Ví dụ, thức ăn cung cấp đạm, năng lượng
3 Phân loại theo nhóm thành phần và vai trò
Hình 10 Luôn luôn cho bò uống đầy đủ nước và nước phải sạch
Trang 27Phương pháp phân loại hiện đang được áp dụng là phân theo nhóm thành phần và vai trò cung cấp dinh dưỡng
Thức ăn cho bò sữa được phần thành 5 nhóm chính:
Nhóm 1 Thức ăn thô:
Bao gồm:
Thức ăn thô xanh: Cỏ, thân cây bắp
Thức ăn thô khô: Rơm, cỏ khô Alfalfa, thân dây đậu, rơm tươi
Thức ăn ủ chua: Bắp, cỏ, rơm tươi ủ chua
Nhóm 2 Thức ăn tinh
Bao gồm:
Thức ăn cung cấp đạm (protein): Khô dầu đậu tương, bã đậu nành…
Thức ăn cung cấp chất bột đường: Các loại hạt (ngô, lúa mạch, lúa
mì…), các loại cám (cám mì, cám gạo), các loại củ (khoai lang, sắn )
Thức ăn cung cấp đạm và chất bột đường: DDGS (bã chưng cất
ethanol sấy khô)
Thức ăn cung cấp đạm và chất xơ: Khô dầu bông vải
Hình 11 Các loại thức ăn thô xanh thô khô cho bò sữa
Trang 28 Thức ăn cung cấp đạm, năng lượng, khoáng, vitamin…: Cám hỗn
Các loại thức ăn cung cấp ít chất dinh dưỡng nhưng chủ yếu giúp làm tăng
độ khoáng hoặc cung cấp Vitamin nhóm B
Nhóm 4 Thức ăn cung cấp khoáng, Vitamin
Các loại thức ăn cung cấp một số khoáng, Vitamin cần thiết hoặc chất có chức năng hỗ trợ tiêu hóa, tăng cường hấp thu dinh dưỡng hoặc điều trị, ngăn ngừa các bệnh…
Các loại thức ăn cung cấp khoáng, Vitamin: Premix
Các loại cung cấp khoáng dạng hữu cơ: Available (cung cấp kẽm,
đồng, Mangan, Cobalt, Crôm), Sel Plex (cung cấp Sel dạng hữu cơ)
Hình 12 Các loại thức ăn tinh cho bò sữa
Trang 29Nhóm 5 Thức ăn bổ sung
Hiện nay, các tài liệu dinh dưỡng cho bò sữa có khuynh hướng chuyển
các thức ăn bổ sung ra khỏi nhóm premix cung cấp khoáng và vitamin Nhóm thức ăn bổ sung thường bao gồm các nhóm:
Chất đệm trung hòa ổn định pH dạ cỏ: Các chất bổ sung làm nhiệm
vụ ổn định pH dạ cỏ như Natri Bicarbonate (NaHCO3) giúp tăng lượng thức ăn
ăn vào
Prebiotic: Prebiotic là chế phẩm thức ăn cung cấp cho các vi sinh vật
dạ cỏ và đường ruột Việc bổ sung các chế phẩm prebiotic nhằm hỗ trợ và thúc đẩy các vi sinh vật có lợi phát triển, hạn chế các vi sinh vật có hại Ví dụ: sản phẩm Bospro
Probiotic: Probiotic là chế phẩm cung cấp các loại vi sinh vật có lợi
cho hệ vi sinh vật dạ cỏ và đường ruột của bò, ổn định pH dạ cỏ, đường ruột, tăng cường biến dưỡng Ví dụ: các loại nấm men như Actisaf, Leuvecell, Diamond V
Chế phẩm chuyên biệt: Ngăn ngừa các bệnh viêm vú và chân móng,
giảm tế bào Soma trong sữa Ví dụ: Penergentic
Các chất hấp phụ độc tố nấm mốc: Giúp hấp thụ các độc tố nấm mốc
từ thức ăn trong khẩu phần
Các chế phẩm sinh học chuyên biệt: Giúp tăng cường tiêu hóa, tăng
hấp thu chất dinh dưỡng, cung cấp các enzyme hoặc giảm các tác hại đến môi trường (giảm mùi hôi)…
Hình 13 Các loại thức ăn bổ sung khoáng, vitamin, probiotic cho bò sữa
Trang 31III PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN
3.1 Các phương pháp cho ăn
Trong chăn nuôi bò sữa hiện nay có các phương pháp cho ăn phổ biến như sau:
- Chăn thả và chăn thả kết hợp cho ăn thức ăn tinh khi vắt sữa Phương
pháp này thường được áp dụng tại các nước có điều kiện chăn nuôi trên đồng cỏ,
mô hình bán thâm canh như New Zealand, Úc
- Nuôi nhốt hoàn toàn, bò cho ăn thức ăn thô xanh riêng, thức ăn tinh và
các loại thức ăn phụ phế phẩm riêng lẻ Phương pháp này không phù hợp với sinh lý bò sữa, làm pH dạ cỏ biến động lớn, dễ tạo ra các trường hợp acid dạ cỏ
và ảnh hưởng đến hoạt động ổn định của vi sinh vật dạ cỏ
- Nuôi nhốt hoàn toàn và bò được cho ăn khẩu phần phối trộn tổng hợp
(TMR, Total Mixed Ration) Phương pháp này là khoa học và phù hợp nhất cho sinh lý bò sữa, đặc biệt là tạo sự ổn định pH của dạ cỏ, giúp cho các vi sinh vật
dạ cỏ hoạt động ổn định
- Nuôi nhốt hoàn toàn và bò được cho ăn khẩu phần phối trộn từng phần
(PMR, Part Mixed Ration) Phương pháp này là phối hợp giữa 1 phần khẩu phần phối trộn tổng hợp với bổ sung cho nhóm bò cao sản (và cũng thường được áp dụng đối với các trang trại vắt sữa bằng robot) Phương pháp này cũng tương đối phù hợp với sinh lý bò sữa, ít tạo ra sự biến động pH của dạ cỏ
3.2 Cho ăn theo phương pháp riêng lẻ
Trong điều kiện các trang trại có quy mô chăn nuôi nhỏ, không có thiết bị TMR, thì phương pháp cho ăn riêng lẻ thức ăn thô xanh, thức ăn tinh, thức ăn phụ phế phẩm Phương pháp này không phù hợp với sinh lý dạ cỏ, tạo sự biến
Hình 14 Tháp thức ăn cho bò sữa
Trang 32động pH lớn, bò dễ bị acid dạ cỏ… Để hạn chế tình trạng này cần chú ý các vấn
đề sau:
- Thức ăn thô xanh/ thô khô (rơm, cỏ) luôn có sẵn trên máng ăn, tươi
mới Cho ăn thức ăn các loại nhiều lần trong ngày Cách này giúp thức ăn luôn tươi và với lượng ăn mỗi lần ít nên sẽ kích thích bò ăn nhiều hơn Cho ăn 1 ít vào buổi sáng sớm trước khi bò được ăn thức ăn tinh Thức ăn thô xanh phải được băm nhỏ để tránh trường hợp bò chỉ chọn phần lá ăn bỏ phần thân nhiều vật chất khô, chất dinh dưỡng Người chăn nuôi nên thay thế dần các loại cỏ có thành phần dinh dưỡng thấp như cỏ voi bằng các loại cỏ có chất lượng dinh dưỡng tốt hơn như cỏ Mulato, Cỏ Mombasa, Cỏ Ruzi…
- Bò cần được cho thức ăn tinh sau khi vắt sữa để giữ bò đứng (tránh để
vú bò tiếp xúc với nền chuồng dơ khi cơ vòng bầu vú chưa đóng lại) Thức ăn tinh có thể trộn với các loại thức ăn phụ phế phẩm để làm ẩm sệt nhưng không được pha loãng Việc cung cấp các bữa ăn thức ăn tinh với lượng ít và nhiều lần
có thể giúp giảm thay đổi môi trường pH dạ cỏ
- Các phụ phẩm bổ sung protein nên được cho ăn với nguồn thức ăn
cung năng lượng hoặc/và nguồn thức ăn cung năng lượng trước khi ăn thức ăn cung Protein Các vi sinh vật dạ cỏ luôn cần năng lượng và protein để hoạt động
và phát triển
- Các loại thức ăn bổ sung như chất béo by pass, premix khoáng, nấm
men… cần được trộn kỹ với thức ăn tinh, phụ phế phẩm khi cho bò ăn
- Tăng số lần cho ăn trong một ngày sẽ làm giảm sự thay đổi pH dạ cỏ
và giúp ổn định môi trường dạ cỏ pH của dạ cỏ được ổn định và thích hợp là yếu
tố giúp tiêu hóa chất xơ
3.3 Cho ăn theo phương pháp phối trộn tổng hợp (TMR)
Khẩu phần phối trộn tổng hợp (TMR) là khẩu phần phối trộn các loại
thức ăn thô xanh, thức ăn tinh, thức ăn phụ phế phẩm… và cho ăn cùng một lúc Phương pháp cho ăn này giúp hệ thống vi sinh vật dạ cỏ hoạt động ổn định, từ
đó giúp sử dụng hiệu quả lượng thức ăn ăn vào và nâng cao khả năng sản xuất của bò sữa Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi phải chia nhóm đàn bò theo khả năng sản xuất, nguồn thức ăn ổn định, xác định được nhu cầu dinh dưỡng, xây dựng được khẩu phần phù hợp, có thiết bị phối trộn Vì vậy, phương pháp cho
ăn theo khẩu phần tổng hợp chỉ phù hợp cho những trang trại quy mô vừa và lớn
3.4 Phương pháp cho ăn theo phối trộn từng phần (PMR)
Phương pháp này là phối hợp giữa 1 phần khẩu phần phối trộn tổng hợp với khẩu phần cho ăn riêng lẻ, hoặc kết hợp bổ sung cho nhóm bò cao sản (và cũng thường được áp dụng đối với các trang trại vắt sữa bằng robot) Tên khác của phương pháp là PTMR Phương pháp này cũng tương đối phù hợp với sinh
lý bò sữa, ít tạo ra sự biến động pH của dạ cỏ