Kỹ thuật tram hóa - là kỹ thuật phân điểm ảnh, là một kỹ thuật được sử dụng trong ngành in nhằm phục chế các hình ảnh có tầng thứ. Ngày xưa, khi người ta mới phát minh ra kỹ thuật in và in được những quyển sách đầu tiên, thì việc phục chế các hình ảnh chụp quả là một vấn đề hết sức khó khăn.
Trang 1Biên soạn: Ngô Anh Tuấn
Kỹ thuật
Tập 1: Căn bản
1998
Trang 2Xác định chất lượng quét hình
Phần hướng dẫn sử dụng các kí hiêäu
Trang 3❑ Chế tạo bản in băèng thủ công để tái tạo lại tầng thứ của hình ảnh
❑ Ứng dụng kỹ thuật sao chép
❑ Lịch sử phát triển của tram Autotypisch
❑ Tạo tram Autotypisch bằng kỹ thuật điện tử Chương 2
Các khái niệm cơ bản
❑ Hình tầng thứ và hình có tram
❑ Ý nghĩa của việc tram hóa hình ảnh
❑ Ý nghĩa của khái niệm tram
❑ Hệ thống hóa các loại tram
❑ Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng
❑ Chế tạo tram distanz
❑ Đặc điểm của tram distanz
❑ Tram contakt
❑ Lý thuyết tạo điểm bằng tram contakt
❑ Các phương pháp chế tạo tram contakt
❑ Ưu và nhược điểm của tram contakt
Trang 4❑ Góc lệch tram
❑ Hiện tượng moiré và tác động của nó
❑ Định nghĩa và công thức tính chu kỳ, hướng Moiré
❑ Moiré khi in ba màu
❑ Tram với các góc lệch cổ điển và hiện tượng moiré
❑ Công thức rút gọn cho in màu với các góc lệch cổ điển
❑ Sai số cho phép của các góc lệch khi sử dụng tramcổ điển
❑ Hệ thống tram với góc lệch tính bằng tg của số thực
❑ Sự lệch màu là hậu quả của moiré
❑ Các hệ thống tram mới hạn chế moiré
❑ Các qui luật tránh moiré
❑ Các đặc trưng của tram
❑ Sự tái tạo màu trung thực
❑ Sựï thay đổi mật độ khi chế bản tram
●Thay đổi mật độ từ bản tram negativ sang positiv
●Sự thay đổi mật độ từ bản tram positiv sang bản in
❑ Trung hòa sự thay đổi mật độ qua kỹ thuật tạo tram
❑ Cơ sở lý thuyêát về sản xuất và vận dụng tram contakt
❑ Quá trình tram hóa hình ảnh với tram contakt
❑ Ảnh hưởng của cấu tạo hạt tram contakt tới hàmtruyền tầng thứ
❑ Các biện pháp khắc phục các thiếu sót
●Chiếu sáng phụ
●Chiếu sáng với hai kính lọc
Trang 5❑ Nguyên tắc tạo tram trên máy tách màu điện tử
❑ Tiến trình tạo hạt tram trên máy tách màu điện tử
❑ Tiến trình phân tích hình ảnh
❑ Tiến trình xử lý tín hiệu
❑ Tiến trình ghi
Chương 6
Cơ sở lý thuyết của việc tạo tram trên các máy ghi phim và ghi bản
❑ Các hạt tram nửa tông (Halftone Screening)
❑ Độ phân giải tram (Screen Frequency)
❑ Độ phân giải ghi và hạt tram nửa tông
❑ Kích thước và hình dạng của một điểm ghi
❑ Các mức độ xám
❑ Quan hệ giữa mức độ xám và độ phân giải tram
❑ Vấn đề xoay góc tram trên máy ghi phim
❑ Các giải pháp cho vấn đề xoay góc tram
❑ Kỹ thuật tạo tram góc vô tỷ (irrational tangent screening)
❑ Kỹ thuật tạo tram hữu tỷ
❑ Kỹ thuật tạo tram Supercell
❑ Kỹ thuật tạo tram Stochastic
●Định nghĩa:
●Tram AM và tram FM
● Các lợi ích của tram FM
● Các khó khăn khi sử dụng tram FM
Trang 6❑ Máy quét dạng trống xoay (Drum Scanner)
❑ Máy quét dạng phẳng (Flatbed Scanner)
❑ Cấc bưå phêån chuyïín àưíi tđn hiïåu analog /digital vâ cấc bưå phêån xûã lyá
❑ Phân loại các loại máy quét dạng phẳng
● Loại máy quét di chuyển theo phương X không cóống kính zoom:
● Loại máy quét dịch chuyển theo phương X có ống kính Zoom:
● Loại máy quét dịch chuyển theo 2 phương X,Y không có ống kính Zoom
● Loại máy quét dịch chuyển theo hai phương X,Yvới ống kính Zoom
❑ Hệ thống ghi
❑ Tiến trình ghi
❑ Postscript RIP
● Các file mô tả máy in Postscript
● Bộ diễn dịch postscript
● Các file EPS
● Bộ diễn dịch postscript có thể thay đổi cấu hình
❑ Postscript và tram
❑ Các hàm ghi (Spot Function)
❑ Các loại tram điện tử thường được sử dụng
● Tram EUCLIDEAN
● Tram tròn
● Tram tròn dạng nghịch đảo (inverted round)
Trang 7● Tram vuođng nghòch ñạo
● Tram dáng kim cöông
● Tram ñöôøng
● Tram elip
❑ Caùc dáng maùy ghi film
● Maùy ghi film dáng Capstan
● Maùy ghi film dáng troâng xoay
Chöông 8
Xaùc ñònh chaât löôïng queùt hình
❑ Caâc tiïu chuíín khaâc nhau vïì chíịt lûúơng hònh queât
❑ Ăöơ phín giaêi
❑ Ăöơ phín giaêi nhíơp (Input resolution)
❑ Ăiïím aênh (pixel), ăiïím ghi (dot) hay ăiïím míîu (sample)
● PPI (pixel per inch)
● SPI (sample per inch)
● DPI (dot per inch)
❑ Ăöơ phín giaêi quang hoơc vađ ăöơ phín giaêi nöơi suy
● Ăöơ phín giaêi quang hoơc (Optical resolution)
● Ăöơ phín giaêi nöơi suy
❑ Yïịu töị phoâng to bađi míîu
❑ Vuđng hònh aênh (imaging area)
❑ Khaê nùng thu nhíơn thöng tin trïn möîi pixel ặúơc queât- ăöơ phín giaêi tñn hiïơu (bit detph, color depth)
❑ Khoaêng míơt ăöơ vađ khoaêng míơt ăöơ nùng ăöơng (density range & dynamic range)
❑ Caêi thiïơn khoaêng míơt ăöơ
❑ Quan heô giöõa ñoô phađn giại nhaôp vaø ñoô phađn giại xuaât
Trang 8Con người có khả năng nhận biết thế giới xung quanh bằng nhiềugiác quan, một trong những giác quan đó là khả năng nhìn và nhậnbiết được tông màu, độ sáng tối Trong rất nhiều trường hợp thì sựnhận biết được độ sáng tối là đủ cho mắt nhận biết các thông tin củathế giới xung quanh, chính vì vậy trong sự phát triển của các kỹ thuật
in khác nhau, bao giờ người ta cũng có cùng một cố gắng phân chiacường độ sáng giữa nơi sáng màu và nơi tối màu thành từng bậc Lịchsử phát triển của các công việc này được chia làm bốn giai đoạn.của kỹ thuật tram hóa hình ảnh
(Phần đọc thêm)
Trang 9Chế tạo bản in băèng thủ công
để tái tạo lại tầng thứ của hình ảnh
Từ thế kỷ 15 thì kỹ thuật khắc gỗ hay khắc trên đồng đã đượcphát triển thành kỹ thuật chế bản, mặc dù chưa hoàn thiện nhưng nólà phương pháp đầu tiên phục vụ cho việc tái tạo tầng thứ Đầu tiênthì độ rộng của các đường gạch và sự cắt nhau giữa các đường gạchcho một khả năng để tái tạo tầng thứ Phương pháp này do LUDUIGVON SIEGEN tìm ra vào năm 1642, trong phương pháp này ôngdùng một bản đồng có bề mặt nhám đồng đều, nếu chà lên bề mặtbản đồng một lớp mực đều thì khi in lên giấy ta sẽ có một diện tíchmàu đều đặn, nếu muốn phần diện tích nào đó trên bản đồng sánghơn (mực dính vào ít hơn) ông dùng một cái đũa bằng thép mài lênbản đồng làm cho nó bớt nhám thì chỗ đó sẽ nhận mực ít hơn Bản
in kiểu này có đặc trưng của phương pháp in ống đồng với sự thayđổi cả chiều sâu lẫn diện tích, phương pháp này phát triển nhất vàokhoảng giữa thế kỷ 17-18
Hình 1.1: Bản khắc đồng Kỵ sỹ, cái chết và qủy dữ của ALBRECHT cho
ta thấy khả năng biến đổi ảnh thật thành ảnh ảo, hình bên phải là hìnhphóng to mặt người minh họa cho kỹ thuật này
Trang 10Cũng tạo nên môät hiệu quả như vậy là phương pháp của JEANBAPTISTA LEPRINCE phát minh năm 1760, trong phương pháp nàyngười ta phủ lên bề mặt đồng môät lớp nhựa được nung chảy môätcách đều đặn, lớp nhựa này được tạo bởi các hạt nhựa nhỏ khi ta ănmòn bản đồng thì hóa chất sẽ ăn mòn phần đồng lộ ra giữa các hạtnhựa Sau khi ăn mòn xong lần thứ nhất nếu muốn ăn mòn phần nàonữa thì ta chỉ cần phủ một lớp bảo vệ lên phần nào không cần ănmòn nữa và tiếp tục ăn mòn cứ nhiều lần như vậy ta sẽ tạo được bảnđồng có tầng thứ Phương pháp này giống như phương pháp in ốngđồng với độ sâu thay đổi như ngày nay trong đó nhiệm vụ của cáchạt nhựa có tác dụng như bờ của hạt tram ống đồng, và màu in haymực in sẽ nằm ở các chỗ trũng.
Năm 1798, ALOIS SENEFELDER đã tìm được quá trình in tạođược tầng thứ mà trong đó phần tử graphic riêng rẽ người ta khôngnhận biết được, việc nghiên cứu của ông tiếp theo trong thế kỷ 19cung cấp cho chúng ta những khả năng đầu tiên về phương pháp inoffset sau này
Ứng dụng kỹ thuật sao chép
Năm 1820, JOSEPH NICÉPHORE NIÉPCE đã sử dụng những vậtliệu nhạy sáng để tạo nên lớp bảo vệ trên bề mặt đồng, ông pháthiện ra rằng dung dịch Asphalt được phủ một lớp mỏng trên bề mặtđồng dưới tác dụng của nguồn sáng sẽ bị oxi hóa và không tan Bằngphương pháp này ta có thể tạo được bản in có tên gọi CardinaldAmboise
Trong những năm 1853 đến 1858 WILLIAM HENRY FOX BOT đã phát triển kỹ thuật khắc đồng Bằng phương pháp này ta chỉcó thể chế bản phục vụ cho in số lượng nhỏ vì các bản in bằng đồngkhông chịu được áp lực lớn khi in và chóng bị mòn Với sự phát triểncủa kỹ thuật nhiếp ảnh (PHOTOGRAPHIC) và khả năng sao truyềnqua nhiều vật liệu mang khác nhau GUSTAV LE GRAYE và FRED-
Trang 11TAL-ERIC SCOTT ARCHER vào năm 1851 đã nghiên cứu khả năngtruyền hình ảnh sang bản in, bản đá hay các dạng in khác bằng việcứng dụng lớp crôm gelatine, cùng lúc đó thì phương pháp ăn mòn chobản in nổi cũng được phát triển.
Hai phương pháp ăn mòn: Phương pháp ăn mòn Pariser củaFIRMIN GILLOT vàăn mòn Wiener của CARL ANGERER vẫncòn có ý nghĩa tới nay
Lịch sử phát triển của tram Autotypisch
Lịch sử phát triển của tram Autotypisch bản thân nó cũng đã viếtnên lịch sử của tram, trong đó nhấn mạnh đến quá trình biến đổi từtông màu thật sang tông màu ảo, lịch sử phát triển của nó tiến cùngvới lịch sử phát triển của các kỹ thuật tạo lớp nhũ tương phục vụ cácphản ứng quang hóa và các máy chụp quang cơ
Những mẫu tram Autotypisch đầu tiên được làm từ các lưới lụahay lưới mịn khi chiếu sáng sẽ tạo trên vật liệu nhạy sáng một bảntram Từ năm 1852 WILLIAM HENRY FOX TALBOT đã trình bàyphát minh về việc tạo bản tram trong đó ông sử dụng một bản lụa
Hình 1.2: Bản in đầu tiên đượcchế bản bằng phương pháp saochụp do NICÉPHORE NIÉPCEthực hiện, bài mẫu là một bảnkhắc đồng Đầu tiên nó được phủmột lớp parafin trong suốt trướckhi nó được sao chụp sang lớpAsphalt trên bản đồng rồi nóđược ăn mòn
Trang 12được nhuộm đen, ngay trong giai đoạn đầu tiên này ông đã có ýtưởng để giữa bản nửa tông negative và vật liệu nhạy sáng một tấmlưới để phân tích hình ảnh nửa tông thành những đường gạchhay điểm.
Một loại lưới khác là loại lưới có các điểm xuất hiện không đềuđặn (tương ứng với coinraster ngày nay)
Vào năm 1877, tại Wiene, MAX JAFFÉ đã thực hiện thí nghiệmtram hóa hình ảnh bằng cách đặt giữa vật liệu nhạy sáng và bài mẫumột cái khăn vải được kéo căng, quá trình chụp như vậy sẽ tạo cho
ta một bản tram, cách bố trí như vậy tương tự với tram Distanz ngàynay, kết quả ông tạo được một loại tram còn tương đối thô
Năm 1880, CARL ANGERER đã sử dụng một loại tram đường doông sáng chế ra, trong quá trình chụp tấm tram này sẽ được xoay đimột góc 90 độ sau khi đã chụp được nửa thời gian
Năm 1882, GEORG MEISENBACH cũng đăng ký một phát minhtương tự như vậy nhưng độc lập với những người khác nên ông làngười được coi là phát minh ra tram Autotypisch Trong phát minhnày ông miêu tả một tấm lưới gồm các đường được chụp trên mộttấm kính, tấm kính này dược sử dụng khi chụp phóng lớn bài mẫu vànó sẽ được xoay một góc 90 độ sau khi chiếu sáng được nửa thờigian
Xuất phát từ phát minh của MEISENBACH đã được sử dụng, từnăm 1884 CARL ANGERER đã phát minh ra loại tram có đường kẻgiao nhau
Năm 1885, JACOB HUSNIK với phương pháp tinh vi hơn đã tạođược tram đường với mật độ 40-50 đường/cm, bằng cách này chấtlượng hạt tram được nâng cao
Năm 1878, FREDERIC IVES đã phát minh một phương pháp chếbản cho in báo và hình ảnh đầu tiên được in theo phương pháp nàyvào năm 1880 Việc phát triển tiếp loại tram này thành tram có
Trang 13đường giao nhau (kreuzlinienraster) là thành quả của hai anh emLOUIS và MAX LEVY Hai ông đã hoàn thành công trình của mìnhvào những năm 1890 và phát minh này được ứng dụng tại Châu Âuvới tên gọi là tram Distanz.
Năm 1935, WILHELM SCHUPP đã đưa ra phương phápAutotypish trong đó quá trình tái tạo màu thuần túy đạt được dựatrên phương pháp quang cơ Với các nghiên cứu của WERNERREBNER, EDGAR B COALE và KLAUS SEIDEL thì cấu trúc củamột điểm tram được khảo sát chi tiết và rõ ràng
Một nhược điểm lớn nhất của tram kính là một phần nhỏ nănglượng của ánh sáng (25%) được phục vụ cho việc tạo điểm trong khiphần lớn (75%) bị hấp thụ tại vùng cản sáng Chính vì vậy đã cónhững thử nghiệm thay đường cản sáng phủ Opac bằng các đườngphủ màu hay màu xám Mặc dù, có rất nhiều bằng đăng ký phát
Hình 1.3: Để phục vụ cho việc tạo tram thì JACOB HUSNIK đã sử dụng tram đường với độ mịn khoảng 50 đường/cm Sản phẩm của ông chỉ ra cấu tạo đường hay điểm ở nơi sáng và trung gian nhưng nơi tối lại không có.
Trang 14minh trong lĩnh vực này nhưng chỉ được ứng dụng thực tế vào năm
1964 với nghiên cứu của ERNST SCHUMACHER
Bên cạnh tram Distanz ta cũng có một tỷ lệ nhỏ tram Contakt từrất sớm Với loại tram này ta có sự tiếp xúc trực tiếp với vật liệunhạy sáng
Những ưu điểm của nó chỉ được ứng dụng khi ta có những bảnphim khô với đồ thị tầng thứ dốc đứng
EUGEN ALBERT đã có những nghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vựcnày Năm 1890, ông đã chỉ ra những khả năng thay đổi mật độ củatram đường và tram của ông được gọi là Scalenraster
Năm 1920â ông đã làm việc với nhiều loại tram tương tự
Ý tưởng một loại tram với các điểm có tính chất như Vignet là ýtưởng của E DEVILLE Từ năm 1896, nhưng đến năm 1940 ta cóphim của EASTMAN KODAK, lúc đầu có màu cam sau đó đổi thànhmàu Magenta Ngày nay, tram Contakt vô cùng phong phú do nhiềunhà sản xuất cung cấp
Tạo tram Autotypisch bằng kỹ thuật điện tử
Việc mô tả quá trình phát triển của kỹ thuật tạo tram sẽ khiếmkhuyết nếu ta không nêu những cố gắng đi theo hướng tram hóa hìnhảnh bằng các phương tiện điện tử, đây là các thiết bị có độ chính xácrất cao và quét hình ảnh theo từng dòng và tạo nên hình ảnh có tramkhông cần đến tấm tram
Quá trình thay đổi công nghệ từ in nổi sang in phẳng và cácphương pháp in hiện đại đã chứng tỏ ưu điểm về tốc độ và chất lượngcủa các thiết bị này mà đại diện tiêu biểu là máy tách màu điện tửscanner
Trang 15Năm 1937, máy tách màu điện tử bắt đầu xuất hiện trên thịtrường nhưng chưa chứng tỏ được ưu điểm của nó, sản phẩm tạo ratrên máy tách màu lúc đó là phim âm bản demitone chưa sửa màu.Mãi cho đến năm 1969, hãng Crosfield với máy Magnascann 450đã sử dụng kỹ thuật digital để ghi hình ảnh nên trống phim thôngqua một tấm tram contakt được phủ và ép sát nên bề mặt của tờphim Bằng phương pháp này hạt tram được tạo trực tiếp trên phim.Đến năm 1971, hãng FDI đã giới thiệu một sáng kiến trong lĩnhvực tạo tram là tạo hạt tram điện tử trực tiếp lên phim không quatấm tram Contakt Cũng trong năm này hệ thống tạo tram điện tửcủa máy Hell sử dụng chùm laser phân cực chia các tia laser nhỏ, cáctia laser này theo sự điều khiển của hệ thống máy tính sẽ tạo nênnhững hạt tram lớn nhỏ trên phim và hạt tram tạo theo phương phápnày gọi là tram điện tử.
Ngày nay kỹ thuật tram điện tử phát triển tinh vi hơn với việc sửdụng kỹ thuật máy vi tính với những phần mềm phức tạp đã tạo rarất nhiều loại tram điện tử khác nhau như tram vô tỉ, tram HQS vàmới nhất hiện nay là tram Crystal với các loại tram mới này độ phângiải của hình ảnh sẽ có chất lượng như ảnh chụp và mật độ dòng/cmgấp 1000 lần so với các loại tram cổ điển
Trang 16Ngành in trong thời đại hiện nay là một trong những phương tiệnthông tin đại chúng quan trọng, bên cạnh việc in chữ thì việc in ảnhmàu hay đen trắng là một trong những công việc quan trọng Với đàtiến bộ của khoa học thì việc tái tạo lại tông màu trong quá trình chếbản và in được cải tiến liên tục Ngoài những phương pháp ngoại lệthì kỹ thuật tạo tram là quan trọng nhất, với kỹ thuật này sự cảmnhận của con người về các mức độ sáng tối được thể hiện bằng cácphương tiện của ngành in một cách đầy đủ.
Kỹ thuật tram hóa hình ảnh từ khi ra đời vào năm 1852 cho đếnnay đã được gần 150 năm, hơn một thế kỷ cho việc tái tạo tông màuthật của hình ảnh thành tông màu ảo của bản in quả là một sự pháttriển bền bỉ và đầy sáng tạo, cho đến nay, trong thời đại Tin họccủa chúng ta, kỹ thuâït tram hóa hình ảnh không những không mất đimà vẫn còn tiếp tục phát triển và ngày càng khẳng định được vai tròcủa nó trong việc tái tạo lại tầng thứ của hình ảnh
Ngày nay với sự trợ giúp của các phương tiện điện tử và tin họccác loại tram điện tử đang dần dần thay thế các loại tram cổ điển nhưtram contakt, tram distanz do hiệu quả chất lượng và tính kinh tếcủa chúng
Trang 17Hình tầng thứ và hình có tram
Sự khác nhau giữa hai loại hình ảnh này được nhận biết rõ ràngkhi ta quan sát đường biểu diễn mật độ của chúng, đường biểu diễnnày còn gọi là đồ thị mật độ Đồ thị mật độ biểu diễn cho ta tính chấtvề mật độ của hình ảnh mà qua đó thông tin được truyền Một hìnhdemitone có đường biểu diễn mật độ liên tục (Hình 2.1.a) trong kháiniệm tiếng Đức gọi là halbtone Đường biểu diễn mật độ của hình cótram chỉ dao động giữa hai giá trị cực tiểu và cực đại, khoảng cáchgiữa các điểm cực đại này biểu diễn tông màu của một điểm tram(Hình 2.1.b) trong khái niệm tiếng Đức gọi là Rastertone
Hình 2.1: Biểu diễn sự khác nhau giữa halbtone và rastertone
Trang 18=Hình 2.1.a: Phía trên là đồ thị biểu diễn sự biến thiên mật độliên tục trong khoảng AB trên mái vòm nhà thờ.
=Hình 2.1.b: Phía dưới là đồ thị biểu diễn sự biến thiên mật độvới tông ảo qua kỹ thuật tram hóa hình ảnh
Ý nghĩa của việc tram hóa hình ảnh
Nhiệm vụ của tram hóa hình ảnh : Một bài mẫu với đường biểudiễn mật độ liên tục sẽ được biến đổi thành đường biểu diễn mật độchỉ có hai cấp độ sáng và tối phục vụ cho việc in ấn.
Khái niệm này chỉ được giải quyết với các phương tiện nhân tạo.Với các phương pháp in nổi, in phẳng và in lưới ta chỉ có khả năngtruyền một tông màu (toàn bộ diện tích trên bản in được phủ một lớpmực đều nhau) Chính vì vậy, nên đầu tiên bài mẫu phải được phântích thành những điểm rất nhỏ có diện tích khác nhau tùy thuộc vàomât độ tương ứng của chúng trên bài mẫu Những điểm này có tínhchất in hay không in và không nhận thấy bằng mắt thường khi quansát, với phương thức như vậy hình ảnh demitone đã được phân tíchthành hình ảnh tram (Hình 2.2)
Hình 2.2: Sự tái tạo tông màu của ảnh chụp được thực hiện bằng tramAutotypisch Hình bên phải phóng to giúp ta nhận thấy các điểm in haykhông in trên hình ảnh Hình bên trái được quan sát trong điều kiện bìnhthường cho ta thấy như ảnh chụp
Trang 19=Phương pháp in ống đồng cũng có tính chất này nhưng ngoài ranó còn có nhiều khả năng khác nữa để tái tạo tầng thứ của hình ảnh.
= Để tạo nên một hình ảnh có tông độ ảo (hình ảnh tram) ta cónhiều phương pháp để thực hiện Với tram autotypisch thì giữa bàimẫu và vật liệu nhạy sáng ta có tấm tram có nhiệm vụ phân tích ánhsáng liên tục đến từ bài mẫu thành các module và biến đổi thành cácđiểm in hay không in
=Ngày nay có rất nhiều loại máy để phục vụ công việc này trongđó các bộ phận điện tử sẽ đảm nhận công việc tram hóa hình ảnh
= Để phục vụ cho việc biến đổi từ tông màu thật của bài mẫuthành tông màu ảo còn có một phương pháp nữa ít được ứng dụng làphương pháp in không tram Trong in offset thì lãnh vực này bị hạnchế, trong trường hợp đặc biệt ta chỉ cần chú trọng đến độ phân giảicao chứ chưa chú trọng đến độ contrast của hình ảnh
=Một lĩnh vực ứng dụng khác của việc tram hóa hình ảnh là việctạo độ contrast cho các mức mật độ của bài mẫu được biểu diễn bằngcác diện tích khác nhau của điểm tram Theo phương pháp này trênhình vẽ ta thấy cả một diện tích lớn là đồng nhất và sự nhảy tông rõràng giữa các diện tích khác nhau
Hình 2.3: Qua kỹ thuật tram hóa hình ảnh ta cũng có thể tái tạo những hìnhảnh vẽ Hình bên phải cho thấy các điểm tram trong cùng một diện tíchluôn bằng nhau, hình bên trái cho ta cảm giác các phần diện tích khácnhau được phủ màu một cách đều đặn
Trang 20Ý nghĩa của khái niệm tram
Phương pháp tram hóa hình ảnh là phương pháp biến đổi tôngmàu thật của hình ảnh sang tông màu ảo để in Một định nghĩa tổngquát như vậy bao gồm các phương pháp từ thủ công như bản khắc gỗ,khắc đồng tới phương pháp dùng tram autotypisch rồi tới phươngpháp tạo tram điện tử với các tia laser được số hóa (digitallisiert).Việc mô tả các phương pháp khác nhau để tạo nên hình ảnh có tôngđộ ảo thì thường gặp phải những khó khăn khi hệ thống hóa Tính rõràng của các khái niệm trong lĩnh vực chế bản là không có dẫn đếnviệc cùng một khái niệm nhưng trong nhiều tài liệu khác nhau thì có
ý nghĩa khác nhau Chính vì vậy, ta phải giới hạn định nghĩa cho tramthuần túy trong lĩnh vực chế bản Tram trong chế bản được địnhnghĩa là một phương tiện giúp chúng ta phân tích năng lượng ánhsáng chiếu tới thành các điểm in hay không in khi tác dụng chung vớivật liệu nhạy sáng Trong khái niệm về tram ta chưa nói đến các tínhchất về vật liệu tác dụng cũng như cấu tạo của một điểm tram Đểđịnh nghĩa cho chính xác hơn về tram ta còn có những khái niệm chitiết hơn về các loại tram dùng để tram hóa hình ảnh như tramcontakt, tram distanz hay các khái niệm có bổ sung thêm như tramautotypisch, tram điện tử
Hệ thống hóa các loại tram
Tên gọi cho các loại tram khác nhau được sắp xếp trong một tổchức thư mục Phần đầu thư mục là khái niệm tram dùng cho chếbản, trong đó là tất cả các loại tram được sử dụng trong ngành côngnghiệp in Thư mục con đầu tiên là các khái niệm như tram con-takt, tram distanz, tram Ống đồng được bố trí Từ các tên gọi này tathấy được mục đích sử dụng của các loại tram này, nếu đi sâu vàocác thư mục con của thư mục này ta sẽ có các thông tin về nhiềuđiểm như phương pháp tạo tram, hình dạng tram, màu sắc tram cũngnhư tất cả các đặc trưng của loại tram đó, thí dụ như tram cho máytách màu điện tử, tram âm, tram dương
Trang 21Tuy nhiên còn tùy thuộc vào đặc tính của tram và tính chất sửdụng mà ta có từng sự sắp xếp đặc biệt theo yêu cầu.
Thí dụ về cách sắp xếp các loại tram theo yêu cầu sử dụng:
=Sắp xếp theo khoảng cách giữa tấm tram và phim: tram distanz, tram contakt
= Sắp xếp theo công nghệ chụp: tram âm, tram dương
= Theo màu sắc trên tấm tram: tram xám, tram dương hồng
= Theo cách tạo tram: tram quang cơ, tram điện tử
= Theo hình dáng của hạt tram: tram vuông, tram tròn, tram ellipse
= Theo phương pháp in: tram offset, tram ống đồng
Tram autotypisch tram distanztram contakt tram Điện tử
Tram autotypisch là loại tram phục vụ cho việc biến tông màuthật thành tông màu ảo Vậy tất cả các loại tram phục vụ cho việcbiến tông màu thật thành tông màu ảo đều được gọi là tram auto-typisch Trong một khuôn khổ hẹp hơn chúng ta có thể coi tram auto-typisch là tất cả các loại tram tạo ra hạt tram có diện tích thay đổi(còn gọi là tram tự giãn), ví dụ như tram contakt, tram distanz Vậytram autotypisch là định nghĩa tổng quát cho tram distanz và tramcontakt Sự phân biệt giữa hai loại tram này là do vị trí của tấm tramgiữa bài mẫu và vật liệu nhạy sáng Trong khi tram distanz có mộtkhoảng cách giữa tram và vật liệu nhạy sáng thì tram contakt có sựtiếp xúc trực tiếp Trong thực tế khái niệm tram distanz còn được gọilà tram kính do lịch sử phát triển của nó
Tram Điện tử là tram tạo nên không qua lưới tram như tram takt, tram distanz mà trực tiếp ghi lên phim do việc xử lý tái hiệntheo từng dòng và ghi lên phim dưới dạng các tia laser để tạo nênhạt tram Khác với các loại tram cổ điển, tram điện tử về cấu tạo củanó có nhiều điểm khác biệt và ưu việt hơn mà chúng tôi sẽ phân tích
con-ở phần sau
Trang 22Tram kỹ thuật
Tram kỹ thuật là tất cả các loại tram phục vụ cho việc tạo nên cấutrúc của hình ảnh trên toàn bộ diện tích, thuộc về tram kỹ thuật cótram Copie, tram Blebe, tram Satelite Tất cả các loại tram nàyđược định nghĩa trong DIN16601 Tên của nó không cho chúng tabiết chúng thuộc về loại tram nào trong định nghĩa tram mà chỉ là têngọi do người tạo ra nó cho nó Với tram kỹ thuật ta có thể tạo nênmột tông màu đều đặn trên toàn bộ diện tích hay với các cấu trúcmẫu Nếu ta phải tái tạo tầng thứ bằng loại tram này thì tram kỹthuật sẽ được cấu tạo bởi những phần tử hình học nhỏ sao cho mắtthường không thể phân biệt được, mặt khác với cấu trúc to hơn tớimôät giới hạn nào đó ta vẫn có thể tái tạo các tông màu Các tính toántrong lĩnh vực này rất thú vị vì ta có hai khả năng Khả năng thứ nhấtlà: tái tạo tông màu và khả năng thứ hai là cấu trúc của điểm tram,cuối cùng nếu khoảng cách giữa các phần tử của tram kỹ thuật quálớn không thể tái tạo được tông màu thì ta vẫn còn cấu trúc nền củanó phục vụ cho việc trang trí Các loại tram kỹ thuật xét theo hìnhdạng và cách bố trí thì vô cùng phong phú
Hình 2.4: Trong lĩnh vực độ phân giải của mắt thì các khả năng kết hợpcủa tram kỹ thuật là không giới hạn Ta có thể hệ thống hóa tram kỹ thuậttheo hình dạng của điểm tram và cách bố trí các điểm tram
Trang 23Tram distanz
Cùng với sự phát triển của các ngành vật lý, hóa học, cơ khí, toánhọc ngành in của chúng ta cũng từng bước phát triển trên cơ sởứng dụng những thành tựu và khám phá của các ngành trên, tramdistanz là một ví dụ điển hình
Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng
Cho ánh sáng từ nguồn 0 truyền qua một lỗ tròn nhỏ có đườngkính AB trên màn Q, sau màn Q ta đặt môät màn quan sát H và nhậnđược vệt sáng DE Theo định luật truyền thẳng của ánh sáng, nếu tathu nhỏ đường kính AB của lỗ tròn thì vệt sáng DE cũng nhỏ lại Tuynhiên, thực nghiệm chứng tỏ rằng khi thu nhỏ lỗ tròn tới một mức độnào đó thì trên màn H xuất hiện nhiều vân tròn: sáng nhất ở tâm vànhạt dần ra xung quanh Tùy theo cường độ của ánh sáng chiếu quakhe hẹp mà quầng sáng thu được trên màn quan sát lớn hay nhỏ
trước khi xuất hiện tram điện tử
B Q
D E C
H
Hình 3.1: Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng
Trang 24Chế tạo tram distanz
Với thực nghiệm trên đây người ta đã nghĩ đến việc phân tích bàimẫu bằng cách chiếu vào nó một nguồn sáng, ánh sáng phản xạ haythấu minh từ bài mẫu đến vật liệu nhạy sáng sẽ bị chặn lại bởi mộtloạt khe hở trên một tấm màn chắn và tùy thuộc vào cường độ nguồnsáng đi qua khe hở tương ứng với nó thì trên phim sẽ nhận đượcnhững nốt tram lớn hay nhỏ Với những suy nghĩ trên người ta chếtạo ra tram kính
Tram kính được chế tạo bằng cách: lấy hai tấm kính tuyệt đốiphẳng với độ dày khác nhau, tấm thứ nhất có độ dày 1.8 - 2 mm, tấmthứ hai có độ dày 3.5 - 4 mm được phủ một lớp bảo vệ bền axít Sauđó, các tấm kính này được khắc với một đầu khắc bằng kim cươngcủa một máy khắc rạch trên lớp bảo vệ những đường khắc đều nhau,những đường này không được chạm vào mặt kính, rồi cho ăn mònnhững đường này bằng axít, sau khi ăn mòn người ta tẩy bỏ lớp bảovệ và phủ màu đen những đường ăn mòn Những nơi không được ănmòn vẫn còn đặc tính trong suốt, sau đó hai bản tram đường với mậtđộ khác nhau sẽ được dán chặt với nhau, mặt tram úp vào nhau vàtạo được hiệu ứng tram đường giao nhau Do kết quả đó, ta tạo đượcnhững ô trong suốt trên màn đen, mỗi ô trong suốt ứng với một khehẹp mà ta đề cập tới trong hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng
Hình 3.2: Tram kính
Trang 25Đặc điểm của tram distanz
Chiều rộng của đường kẻ trên tram kính bằng khoảng cách giữahai đường liên tiếp Phụ thuộc vào số đường kẻ trên 1 cm Kính tramcó các số liệu 18, 20, 30, 34, 40, 48, 54, 60, 70 Kính tram 34 trên1cm2 có 1156 ô vuông (34x34), khi chụp ảnh kính tram được đặttrước vật liệu nhạy sáng, ánh sáng đến từ bài mẫu trước khi tác độngvào phim phải đi qua màng lưới tram Một phần ánh sáng sẽ bị hấpthụ bởi nền đen (đường kẻ đen), phần còn lại đi qua những ô trongsuốt và tạo thành từng chùm riêng rẽ tác động lên bề mặt vật liệunhạy sáng Do kết quả đó hình ảnh được tạo thành trên vật liệu nhạysáng do rất nhiều các nốt lớn nhỏ khác nhau tạo thành, những nốt đógọi là nốt tram Một cách tổng quát người ta có thể nói rằng với tramkính các đường cản sáng phải có độ rộng gần bằng các đường trongsuốt Trên cơ sở các thí nghiệm mới nhất, người ta khẳng định tỷ lệtrên có ảnh hưởng quyết định đến độ rộng mật độ mà tram có thể táitạo được, với một tỷ lệ che phủ trong suốt 1:1 thì nó chỉ tái tạo mộtkhoảng rộng mật độ D = 1,4 Nếu những đường cản sáng lớn hơn mộtchút thì ta có thể tái tạo được mật độ lớn hơn và loại tram có tính
Hình 3.3 Tram Altongradar (Klimsch, Frankfurt)
Hình 3.4: Tram Altongradar với:A: Điểm giao nhau
B : Các đường với mật độ caoC: Các đường với mật độ thấpD: Các điểm trong suốt
A B C D
Trang 26mềm hơn Các loại tram mới có một tỷ lệ 1,1/0,9 (che phủ/trong suốt)thì khoảng rộng mật độ có thể tái tạo được là 1,6 Trong thực tế,người ta sử dụng rất hạn hữu các loại tram distanz với các đườngđược phủ đen Với các đường được phủ màu magenta không cảnsáng ta có thể tái tạo được detail rất tốt Loại tram như vậy củaKlimisch được gọi là Altongradar, với tính không cản sáng của cácđường, nó tạo ra các điểm giao nhau có mật độ cao.
Như chúng ta đã biết bài mẫu nửa tông có độ đen trắng khácnhau, vì vậy khả năng phản xạ ánh sáng của từng chỗ trên bài mẫusẽ khác nhau Những chỗ trắng nhất sẽ phản xạ ánh sáng nhiều nhấtvà những chỗ đen nhất sẽ phản xạ ánh sáng ít nhất Tương ứng vớichỗ trung gian thì ánh sáng sẽ phản xạ với các mức độ tương ứng khiqua tấm tram kính sẽ được phân chia thành các nốt tram có độ lớnnhỏ khác nhau, tỉ lệ tương ứng với mức độ phản xạ ánh sáng từbài mẫu
Khi quan sát nốt tram trên âm bản hay trên kính mờ qua phóngđại chúng ta thấy cấu tạo của chúng như sau:
Vùng trung tâm có độ đen lớn nhất và độ đen của nó giảm dầnkhi càng xa trung tâm do khi đặt kính tram trước phim với mộtkhoảng cách nhất định thì vùng trung tâm của nốt tram sẽ nhận đượcánh sáng nhiều nhất và càng ra xa thì độ sáng càng giảm dần
Trang 27Khẩu độ diaphram có ảnh hưởng đến diện tích nốt tram Khẩu độcủa diaphram càng lớn thì diện tích nốt tram cũng lớn theo và ngượclại Ngoài ra, khẩu độ diaphram lớn và ánh sáng giảm dần từ trungtâm hạt tram ra ngoài nên ta nhận được nốt tram có hạt đen to, nhưngđồng thời cũng nhận được vùng mờ lớn Nhưng nếu ta chụp với khẩuđộ diaphram nhỏ thì tỉ lệ vùng đen sẽ lớn hơn vùng mờ Từ đây tacũng thấy rằng nếu chụp với khẩu độ diaphram lớn sẽ tạo vùng mờlớn và nốt tram không được đanh Hình dáng của diaphram sẽ quyếtđịnh hình dáng của nốt tram Chụp qua diaphram vuông sẽ nhậnđược nốt tram vuông, chụp qua diaphram tròn sẽ được nốt tram tròn.
Hình 3.6 : Hình dáng nốt tram qua hình dáng diaphram
Trang 28Khoảng cách giữa kính tram và bề mặt phim cũng ảnh hưởng đếndiện tích nốt tram Kính tram đặt xa bề mặt phim thì diện tích nốttram càng lớn và ngược lại Nhưng nếu đặt kính tram quá xa bề mặtphim thì không nhận được các nốt tram, còn nếu áp sát kính tramvào bề mặt phim thì sẽ tạo được các nốt tram riêng rẽ có diện tíchbằng nhau Khi khoảng cách giữa kính tram và bề mặt phim khôngđổi nhưng rút ngắn buồng tối thì diện tích nốt tram lớn lên và ngượclại kéo dài buồng tối thì diện tích nốt tram nhỏ lại
Như vậy diện tích nốt tram phụ thuộc vào khẩu độ diaphram vàkhoảng cách giữa kính tram với bề mặt phim và độ co giãn củabuồng tối Lợi dụng những yếu tố có thể thay đổi đó người ta có thểchụp những âm bản có chất lượng cao và thỏa mãn yêu cầu kỹ thuậtcủa từng công việc Chứng minh bằng hình vẽ (Hình 3.5) ta thấy tạiđiểm a tập trung 100% ánh sáng đi qua diaphram, tại điểm b một nửaánh sáng đi qua diaphram bị đường kẻ của một tram che mâát do đó
I II
III
Hình 3.7: Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng không chỉ có tác dụng tạo thànhđộ đen khác nhau trong nốt tram mà nó còn có tác dụng làm tăng diện tíchnốt tram so với kích thước chính thức của nó I và II khi thu nhỏ khẩu độdiaphram hay rút ngắn khoảng cách giữa hai kính tram với bề mặt phimsẽ cho một nốt tram nhỏ; III: khi rút ngắn buồng tối lại sẽ cho nốt tram lớnhơn
Trang 29ở đây chỉ nhận được 50% ánh sáng đi qua diaphram Ở điểm c khôngcó ánh sáng vì hình chiếu của diaphram bị che khuất hoàn toàn bởiđường kẻ của nốt tram và đây là ranh giới giữa các nốt tram.
Diện tích nốt tram tăng lên so với kích thước chính của nó bởihiện tượng nhiễu xạ phụ thuộc vào đường kẻ trên 1cm của kính tramcó thể biểu diễn bằng công thức:
Với α : độ nghiêng tia sáng khi đi qua nốt tram trong suốt
a : Chiều rộng của nốt tram trong suốt
b : Chiều rộng của đường kẻ đenNhưng thực tế người ta thường dùng loại tram có đường kẻ đen vàđường trong suốt bằng nhau, do đó công thức trên có thể viết:
Rõ ràng khi kính tram càng có nhiều đường kẻ trên 1cm (a nhỏđi) thì diện tích nốt tram tăng lên Nếu dùng kính tram có 20 đườngkẻ trên 1cm thì diện tính nốt tram tăng 3.52% Nhưng nếu dùng kínhtram có 80 đường kẻ/1cm thì diện tính nốt tram tăng lên 51.2%.Theo hình ta có phương trình:
Những đại lượng trong phương trình là những đại lượng biến đổi,trong khi chụp thì a và S là những đại lượng biết trước Người thợchụp căn cứ vào độ đậm nhạt cần thiết của âm bản tram mà thay đổi
D hoặc r Hai đại lượng này gọi là những yếu tố thay đổi trong quá
a D = _
2asin α= _
a+b
asin α=
a
Trang 30trình chụp tram Khi thay đổi một yếu tố để giữ cho phương trìnhđược cân bằng cần phải thêm hệ số K vào vế bên phải:
Trong trường hợp hệ số K=1, những nốt tram sẽ chớm chạm vàonhau và độ đen phân bố trong nốt tram có hình dốc đứng, độ đengiảm dần từ trung tâm ra ngoài
Khi K > 1, những nốt tram đứng riêng rẽ và độ đen phân bố trongnốt tram có hình chóp cụt dốc đứng Trong trường hợp này tỷ lệ hạtđen tương đối lớn so với toàn bộ diện tích nốt tram
Hình 3.8: Trường hợp hệ số K=1
Hình 3.9: Trường hợp K > 1
a D = K _ khi đó
a.S
K= _
D.r
Trang 31Ở trường hợp K < 1, thì một phần diện tích nốt tram chồng lênnhau, độ đen của nốt tram phân bố theo hình chóp có đỉnh nhọn vàđộ dốc kém hơn Như vậy độ đen giảm dần từ tâm ra ngoài rất nhanh.
Khi thay đổi hệ số K, ta sẽ được diện tích nốt tram khác nhau vàsự chênh lệch độ đen từ trung tâm ra ngoài cũng như hạt đen lớn haynhỏ
Hệ số K càng lớn có nghĩa là D hoặc r càng nhỏ thì độ tương phảncủa âm bản càng thấp, nốt tram ở chỗ đen càng đanh
Hệ số K càng nhỏ, có nghĩa là D hoặc r càng lớn thì độ tươngphản của âm bản càng cao, nốt tram ở chỗ đen cũng như ở chỗ trắngcàng to
Tram contakt
Do quá trình phục chế với tram distanz gặp nhiều khó khăn:
=Tram kính là những tấm kính lớn, khi di chuyển nặng nề, khókhăn, dễ đổ vỡ
=Tạo tram kính rất khó và phức tạp
Hình 3.10: Trường hợp K < 1
Trang 32=Mặt thuốc của tram kính và mặt thuốc của phim đặt cách nhaunên ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của phim, vì vậy người taphải nghiên cứu tìm ra loại tram có thể tiếp xúc với bề mặt của vậtliệu nhạy sáng và có chất lượng cao hơn, đó là tram contakt
Lý thuyết tạo điểm bằng tram contakt
Tram contakt cũng như tram distanz có nhiệm vụ biến đổi chùmsáng đồng nhất thành cường độ sáng biến thiên và có chu kỳ phù hợpvới tông màu của bài mẫu Kết quả của quá trình này là ta sẽ cónhững điểm tram có độ lớn khác nhau Hai loại tram contakt và dis-tanz phân biệt với nhau bằng các cơ sở lý thuyết của việc tạo trammà trong đó chủ yếu là sự khác nhau giữa cấu tạo các điểm tram.Điểm tram contakt có độ đậm khác nhau, ở trung tâm có độ đenlớn nhất, càng xa gần ngoài rìa thì độ đen càng giảm dần
Tùy theo cường độ ánh sáng chiếu tới những điểm tram có độ lớnkhác nhau được tạo thành trên màng nhạy sáng
WENER REBENER đã miêu tả đặc điểm của hạt tram contaktqua sự phân bổ mật độ (Hình 3.11.a), nhưng KLAUS SEIDEL chorằng việc miêu tả như vậy chưa chính xác và mới chỉ ra một chiều,theo ông sự phân bổ một hạt tram contakt được biểu diễn bằng nhữngđường tròn có mật độ Mô hình này giúp ta có thể nhận biết được khảnăng hấp thụ ánh sáng của từng điểm tram Phân bố mật độ của tramcontakt sẽ quyết định sự phân bổ mật độ trên phim để tạo nên đượcbản phim tram tốt hơn
Ta thấy rằng ánh sáng chiếu tới phim không bao giờ có được mộtcường độ lớn hơn là cường độ ánh sáng chiếu tới bài mẫu Điều nàyphải nhắc tới ở đây đêå phân biệt tram contakt với tram distanz (trongtram distanz ta sẽ có những điểm có cường độ lớn hơn) là ánh sángchiếu tới bài mẫu và vật liệu nhạy sáng có độ lớn khác nhau Khoảngrộng mật độ cơ sở mà tram contakt có thể tái tạo bị giới hạn bởikhoảng mật độ trên tram contakt Khoảng rộng mật độ max và min
Trang 33của tram contakt bằng khoảng mật độ mà ta có thể tái tạo được, điềunày được đặc trưng cho các tram contakt xám, với các tram contaktmàu Magenta thì độ rộng mâät độ hữu ích phụ thuộc vào nguồn sángsử dụng Cấu tạo mật độ của tram sẽ quyết định hình dạng đồ thịtầng thứ khi tạo tram và đặc trưng cuả tram Các loại tram contakt rấtphong phú, mỗi loại sẽ có một đặc trưng riêng, chính vì thế cho từngsản phẩm sẽ có một loại contakt cho phù hợp.
Hình 3.11.a:Phân bổ hạt tramtheo REBENER
Hình 3.11.b: Phân bổhạt tram theo SEIDEL
Tram Contakt dương Tram Contakt dương
Trang 34Sự tiếp xúc trực tiếp đóng một vai trò to lớn trong quá trình chiếusáng, chính vì vậy ta có thể sử dụng một cách dễ dàng máy chụpquang cơ vì trong bất cứ tình huống nào ta cũng có sự tiếp xúc trựctiếp giữa vật liệu nhạy sáng và tram contakt Nhưng trong quá trìnhcontakt từ âm bản sang dương bản thì điều này không giữ được(không bảo đảm) vì ta phải có ba lớp rộng với vật liệu đế chồng lênnhau, trong trường hợp này ánh sáng phải đi qua cả các vật liệu đếnữa Trong thực tế ta xử lý như sau: mặt thuốc của phim và mặt thuốccủa tram contakt như trường hợp chụp quang cơ được chồng lên nhauvà bài mẫu chồng lên trên cùng vì vậy hậu quả là ánh sáng khi điqua âm bản sẽ bị tán sắc ở vật liệu đế của âm bản và dẫn đến hiệntượng là khoảng rộng mật độ có thể tái tạo được sẽ bị thu hẹp Quyếtđịnh lựa chọn giải pháp nào sẽ phụ thuộc vào việc ta nhấn mạnhdetail hay độ rộng mật độ.
Sự tiếp xúc trực tiếp giữa tram và phim (trường hợp a) sẽ cho tađộ contrast lớn nhưng detail ít
Sự tiếp xúc trực tiếp giữa âm bản và phim (trường hợp b) sẽ cho
ta độ contrast nhỏ nhưng nhiều detail
123
213
Hình 3.12 : Sự bố trí khác nhau khicontakt (ép phim)
1 Âm bản2.Tram Contact3.Phim
Trang 35Các phương pháp chế tạo tram contakt
Để chế tạo ra một tấm tram contakt có thể tái tạo màu chính xác
ta gặp rất nhiều khó khăn phải vượt qua ngay cả trong trường hợp đãchấp nhận một số đòi hỏi gần đúng khi chế bản (phần 3.5) ta cũngphải đặt ra một vấn đề nữa là một điểm tram phải có phân bổ mậtđộ như thế nào, để trả lời câu hỏi này ta có thể sử dụng các nghiêncứu toán, lý của SEIDEL Những cơ sở lý thuyết này phải được sửdụng trong thực tế và nó là vấn đề chủ yếu khi chế tạo tram contakt.Điều đó có nghĩa là muốn tạo được sản phẩm với những tính chấtđịnh trước thì ta phải xác định được sự phân bố mật độ của một điểmtram với một sai số chấp nhận được, nhưng vẫn có một câu hỏi là làmthế nào để có một tấm tram tối ưu? Với những lý do ta có thể hiểuđược là nhà sản xuất không bao giờ công bố phương pháp chế tạotram contakt của họ, chính vì vậy ở đây chúng ta không trình bàyđược chi tiết người ta làm như thế nào Phương pháp cổ điển nhất đểchế tạo nên một tấm tram contakt là tạo từ tram Kính Với môt nguồnsáng cố định qua các khe hở trên kính tram ta sẽ có sự phân bổ nănglượng tạo nên các điểm trên phim Với đồ thị Gradation trung bìnhhoặc có độ dốc không lớn thì tram distanz sẽ chứng tỏ ưu điểm củanó vì tram Kính được tạo bằng máy và nó tạo nên được những hạttram rất đều đặn Ông REBNERđã chỉ ra tram contakt tạo từ tramKính có tính chất như tram kính vì nó không có đặc trưng negativ haypositiv một cách rõ ràng Ông dựa trên cơ sở là tất cả các tính chấttruyền tầng thứ của tram kính cũng như của tram contakt được tạobởi tram kính trong các điều kiện thủ công là như nhau Bằng cáchthay đổi các loại tram distanz hay thay đổi khẩu độ thì khi chế tạo raTram contakt ta cũng không gây ảnh hưởng tới được tính chất truyềntầng thứ của tram contakt Qua thí nghiệm của CLAU SEIDEL thìnhững điều khẳng định của REBNER được loại trừ Một sự phân bổmật độ bất kỳ của một điểm tram contakt có thể được định trước nếu
ta có kiến thức về các thông số chiếu sáng và các thông số của tramkính SEIDEL lại chứng minh rằng không những sự phân bổ nănglượng của ánh sáng đằng sau tấm tram kính mà cả đồ thị tầng thứ của
Trang 36vật liệu phim cũng ảnh hưởng quyết định đến cấu tạo một điểm tramcontakt.
Một phương pháp mới để chế tạo ra tram contakt là phương phápcủa PAUL WEISHAUPT Ông đã thiết kế một đầu ghi xoay, trongđó từng điểm tram sẽ được chiếu lên phim, phần chiếu sáng đượcthiết kế sao cho ta có thể tạo được các điểm có đặc trưng khác nhau
Vì cấu tạo của một điểm được lưu trữ nên các tram được tạo ratrong các thời điểm khác nhau nhưng có tính chất tương tự nhau sẽcó cùng một đặc trưng Do đòi hỏi của khách hàng ngày càng caohơn nên có rất nhiều thiết bị để kiểm tra chất lượng điểm tram
Ưu và nhược điểm của tram contakt
Tram contakt từ khi xuất hiện trên thị trường đã đẩy lùi tram tanz trong rất nhiều lĩnh vực ứng dụng, để giải thích điều này chúng
dis-ta phải tìm hiểu những ưu điểm của tram condis-takt
1 Tram contakt do vật liệu đế của nó rẻ tiền hơn nhiều so vớitram distanz, mặt khác đứng về mặt trọng lượng và tính dễ vỡ thìviệc sử dụng tram contakt dễ dàng hơn rất nhiều Thực tế, ta thấy cácđiểm của tram contakt được chế tạo có sự phân bổ mật độ hầu nhưbất kỳ, điều đó dẫn đến sự phong phú về các loại tram contakt trênthị trường cho mỗi loại bài mẫu hay thậm chí cho kỹ thuật tạo tramđặc biệt ta cũng có loại tram contakt phù hợp Nếu ta đã chọn đượcloại tram contakt phù hợp thì những biện pháp nhằm cải tiến khảnăng truyền tầng thứ khi tạo tram là không cần thiết Chính vì vậykhả năng tiêu chẩn hóa loại tram contakt này rất lớn
Tóm lại sự phong phú về đặc trưng của tram contakt là ưu điểmchủ yếu của nó so với tram distanz
2 Khi tạo tram ta có sự tiếp xúc trực tiếp giữa vật liệu phim vàtram contakt sẽ tái tạo mật độ không phụ thuộc vào các thông số củaquá trình chiếu sáng, ví dụ như khoảng cách giữa tram kính và vậtliệu nhạy sáng để tạo nên sự phân bổ mật độ điểm tram, chính vì vậy
Trang 37công việc tạo tram với tram contakt được đơn giản hóa rất nhiều.Quá trình xác định khoảng cách tram như khi dùng tram distanz làkhông có.
Thông thường bao giờ bên cạnh ưu điểm cũng có khuyết điểm màchúng ta phải nhìn nhận Để tạo nên một sự tiếp xúc hoàn hảo khitạo tram, ta phải cần đến những máy hút chân không rất mạnh, trongmáy chụp quang cơ hay máy tách màu cổ điển thì cùng môät côngsuất hút chân không ta phải hút cả phim lẫn tấm tram contakt Điềunày tạo nên những vấn đề kỹ thuật khó khăn, nếu khổ phim càng lớn
ta càng có nhiều bong bóng khí xuất hiện dẫn đến việc hạn chế chấtlượng phim được tạo ra
Hiện tượng tạo quầng Newton khiến các nhà sản xuất phải tạocho được loại phim có hạt tram rất mịn, mặt khác trước khi chụp taphải rải lên trên bề mặt phim môät lớp bột chống quầng Newton.Tram contakt phải chịu độ mài mòn cơ học lớn, chính vì thế độbền của tram contakt bị hạn chế
Hiện tượng tích điện cho ma sát trong các điều kiện không khíkhô và nóng cũng ảnh hưởng đến chất lượng bản tram
Trang 38Khi nghiên cứu về các loại tram người ta không thể bỏ qua cácyếu tố cơ bản tạo thành cũng như các phương pháp tính toán về tram.Trong quá trình truyền tầng thứ bằng tram, các đặc trưng cơ bản củacác loại tram sẽ đóng vai trò quyết định Ngày nay, theo sự tiến bộvượt bậc của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, tramđiện tử ngày càng tỏ vẻ ưu điểm nổi bật của nó và cũng có nhiềuphương pháp tạo tram điện tử khác biệt nhiều so với các phươngpháp truyền thống; tuy nhiên khi nghiên cứu và tính toán về tramđiện tử, người ta vẫn phải dùng đến các phương pháp tính về tramtheo các loại tram truyền thống
các ảnh hưởng của nó trong
quá trình chế bản
Trang 39Góc lệch tram
Góc lệch tram chỉ có định nghĩa cho các loại tram có phân tử bốtrí đều đặn, góc lệch của tram được định nghĩa bằng độ lệch của cấutrúc so với góc vuông
Thí dụ: Đối với tram hạt (tram vuông, tròn, ellipse ) có góc lệch
00cũng là góc lệch 900 Còn các loại tram đường (Linien Raster) thìchỉ có một góc lệch
Đơn vị để đo độ lệch là độ, đó là góc lệch tuyệt đối của tram.Khi in chồng các tram sẽ có góc lệch tương đối với nhau, thí dụ nhưhình vẽ (theo hình vẽ thì βlà góc lệch tương đối)
Vì tram sẽ lệch theo hai hướng phải và trái nên ta phải quy chuẩnhướng lệch tram theo chiều kim đồng hồ cho dễ tính
Hiện tượng moiré và tác động của nó
Khi chúng ta in chồng màu có thể có những đường sọc hay từngnhóm điểm xuất hiện Hiện tượng này gọi là moiré
Nguyên nhân của hiện tượng moiré là do tác động vêà vị trí tươngđối của các hạt tram với nhau dẫn đến sự tổng hợp màu khác nhau
Hình 4.1: Góc lệch tram
Trang 40Khi in chồng màu có thể xảy ra hiện tượng các hạt tram của cácmàu khác nhau chồng khít lên nhau hay nằm cạnh nhau Hiện tượngđó sẽ làm cho chúng ta cảm nhận sai lệch màu (Xem hình vẽ)
Nếu quan sát hình vẽ ta thấy các hạt tram in chồng khít lên nhausẽ tạo nên sự tổng hợp màu khác với hạt tram nằm cạnh nhau Hấpthụ ánh sáng của hạt tram chồng khít lên nhau là cực tiểu và nơi cáchạt tram không chồng lên nhau là cực đại, nếu khi in xuất hiện chukỳ thay đổi giữa hai cực đại và cực tiểu này thì sẽ xuất hiện moiré.Khi in với các góc lệch cổ điển thì hai cực đại và cực tiểu trên sẽxuất hiện cùng với việc tạo nên các Rosette có tâm điểm và khôngcó tâm điểm
Hình 4.2: Vị trí của các hạt tram khi chồng lên nhau
a Các hạt tram chồng khít lên nhau
b Các hạt tram nằm cạnh nhau
Hình 4.3: Vị trí tương đối của cáchạt tram