“Chiều tối” là bài thơ thứ 31 trong tập “Nhật kí trong tù”, bài thơ ghi lại cảm xúc thiên nhiên và cuộc sống lúc ngày tàn của Hồ Chí Minh trên đường chuyển lao vào khoảng cuối thu năm 19
Trang 1Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác! Trang | 1
BÀI MẪU SỐ 1:
Nhắc đến thơ Hồ Chí Minh có lẽ ta sẽ nghĩ ngay đến những vần thơ đầy trăng của Bác nhưng đọc “Chiều tối” mới thấy, Bác không chỉ viết hay về những buổi đêm ngập tràn ánh trăng
mà, dưới tư cách là một nhà thơ, Bác còn mang một phong cách “thơ chiều” vô cùng riêng biệt
“Chiều tối” là bài thơ thứ 31 trong tập “Nhật kí trong tù”, bài thơ ghi lại cảm xúc thiên nhiên và
cuộc sống lúc ngày tàn của Hồ Chí Minh trên đường chuyển lao vào khoảng cuối thu năm 1942,
hình ảnh người tù “tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang xiềng xích” đã để cảm xúc trải ra cùng
không gian bao la, làm nên những vần thơ tuyệt tác vừa cổ kính, vừa trữ tình Qua bài thơ, ta
cảm nhận được vẻ đẹp của Hồ Chí Minh với một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, con
người cùng với ý chí kiên cường và tinh thần thép của người Cộng sản
Mỗi bài thơ trong “Nhật kí trong tù” lại là một nét phác họa vẻ đẹp con người và tinh thần của Hồ Chí Minh: vẻ đẹp của trái tim, khối óc, vẻ đẹp của tinh thần, ý chí, nghị lực, của
lòng khiêm tốn, đức hi sinh cao cả… Được viết vào một hoàn cảnh đặc biệt: Bác bị chính quyền
Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ, bài thơ là sự tỏa sáng của tâm hồn, nghị lực và trí tuệ của Hồ
Chí Minh trong hoàn cảnh ngục tù
“Chiều tối”, đúng như tiêu đề của nó, là một bức tranh thiên nhiên về cảnh chiều muộn ở nơi rừng núi được người tù Hồ Chí Minh ghi lại trên hành trình chuyển lao Vì lẽ đó, vẻ đẹp tâm
hồn Hồ Chí Minh thể hiện trong bài thơ trước hết là vẻ đẹp của một tâm hồn nghệ sĩ với những
rung cảm tinh tế trước vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống của con người:
“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không ;”
Bác nâng niu, trân trọng biểu hiện của sự sống, tinh hoa của thiên nhiên, bởi vậy, ta luôn cảm nhận được những hình ảnh thiên nhiên lúc nào cũng chiếm vị trí nổi bật trong thơ Bác
Thiên nhiên mở ra trước mắt người đọc với những hình ảnh quen thuộc của thi ca cổ điển: cánh
chim – chòm mây – bầu trời cùng với chút ánh sáng cuối cùng còn sót lại của một ngày tàn chỉ
có thể nhìn thấy nơi đỉnh trời đem lại cảm nhân về một không gian giống như các nhà thơ xưa,
tạo ra sự đối lập giữa cánh chim, chòm mây với bầu trời rộng lớn Dường như không gian được
tạo ra từ sự đối lập như vậy cũng đã gợi sẵn một mỗi buồn trong cảnh, và ngay trong cách nhìn
cảnh ta cảm thấy tâm hồn Hồ Chí Minh đã thực sự hài hòa với thiên nhiên Một cách rất tự
nhiên, con mắt nhà thơ phải ngước lên cao để nhận ra một cánh chim mỏi mệt đi tìm chốn ngủ và
một chòm mây cô đơn lặng lẽ trôi, nhìn cảnh như thế, dường như Bác đã xóa nhòa đi cái ranh
giới giữa người tù và du khách tự do, để tâm hồn mình gắn liền với thiên nhiên, dễ dàng hòa
nhập, quyến luyến Có ai
VĂN MẪU LỚP 11: CHIỀU TỐI – HỒ CHÍ MINH
CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ CHIỀU TỐI
Trang 2ngờ, ngay cả trong hoàn cảnh bị áp giải mà thiên nhiên lại vẫn hiện lên trong thơ Bác một cách
tuyệt đẹp như thế
Không chỉ thiên nhiên mà cho dù là hoàn cảnh nào Bác cũng không quên nghĩ đến con người:
“Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết, lò than đã rực hồng.”
Cô thiếu nữ mải miết xay ngô, ngọn lửa hồng reo vui trong bếp lửa gia đình, lòng Bác như cũng hòa với khung cảnh lao động bình dị ấy, như đang reo vui cùng với âm thanh than
hồng cháy tí tách Hai câu thơ sau còn thể hiện được cảm nhận tinh tế của Bác trước hành động
của con người trong không gian chiều tối Không giống như trong thơ cổ, con người không phải
chịu sự chi phối của cảnh vật mà lại đem sức sống truyền vào thiên nhiên, khiến khung cảnh
chiều tối vốn man mác buồn lại bỗng tràn ngập sinh khí, sự ấm cúng cùng với nhịp sống, lao
động của con người Chính vì tấm lòng Bác luôn hướng về con người, yêu mến con người nên ở
đâu có sự xuất hiện của con người là Người lại tìm thấy được niềm vui Bài thơ không khép lại
cảm giác về bóng đêm đang dần xuống mà lại chan hòa ánh sáng, ánh sáng tạo nên cuộc sống
đời thường giản dị, thân thuộc Ánh sáng và niềm vui của sự sống con người hiện lên ở trung tâm
của bức tranh đã tỏa hơi ấm ra xung quanh, xua tan đi cái cô quạnh, cái mệt mỏi, cái lụn tắt của
cảnh chiều tối nơi núi rừng, khiến người tù cũng thoát khỏi xiềng xích mà quyện mình với cuộc
sống hạnh phúc của con người nơi xóm núi nhỏ
Bên cạnh tình yêu, niềm say mê đối với thiên nhiên, con người, ở bài thơ, ta còn thấy nổi bật lên ý chí kiên cường, tinh thần sắt đá của Hồ Chí Minh.Ta bắt gặp một thoáng buồn bã, cô
đơn, ảm đạm “rất người” của Bác khi nhìn vào hình ảnh “quyện điểu” và “cô vân” , thế nhưng,
trước ngọn lửa hồng, Bác quên đi việc mình vẫn đang phải bước đi trên con đường đầy ải mà để
lòng mình reo vui cùng ngọn lửa, để hình ảnh tỏa ấm trang thơ xua tan cái lạnh lẽo của lòng
người và cảnh vật Với lộ trình “năm mươi ba cây số một ngày”, nơi dừng chân có thể là một nhà
lao mới hay một nhà kho ẩm ướt, nhưng thật kì diệu là trong hoàn cảnh như vậy, Người vẫn làm
thơ, vẫn để cho tâm hồn mình bay bổng lên với một cánh chim, một chòm mây, một làn hương
rừng, một cảnh “làng xóm ven sông đông đúc thế”…Thử hỏi, nếu không có một tinh thần thép,
một bản lĩnh thép, thơ của người làm sao có thể “bay cánh hạc ung dung” như vậy Đó thực sự là
một cuộc vượt ngục tinh thần của Bác, Người đã hoàn toàn chủ động trước mọi hoàn cảnh, đó
chính là vẻ đẹp của ý chí, nghị lực, là tinh thần thép của người Cộng sản Hồ Chí Minh
Đan xen giữa những câu thơ như một mạch cảm xúc ngầm chính là khát vọng thầm kín
và đầy tính nhân văn của Bác Người tù Cách mạng dù kiên cường, dũng cảm đến đâu
cũng luôn mơ ước, khát khao về một tổ ấm, quanh quần bên bếp lửa gia đìn Hình ảnh cánh chim về rừng như đang tìm về tổ ấm của mình, cô thôn nữ xay ngô bên lò than rực hồng, tất
cả làm hiện lên khung cảnh bình dị mà ấm cúng nơi quê hường, nơi mái nhà sum vầy, đoàn tụ
Nghĩ về những hình ảnh đời thường, yên bình ấy, ta có thể thấy được chất “người” vô cùng nhân
bản trong Bác
Trong thơ của Hồ Chí Minh, từ tư tưởng đến hình tượng nghệ thuật đều vận động một cách rất tự nhiên, nhất quán, hướng về sự sống, về ánh sáng và tương lai Ta thấy được một tâm
Trang 3Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác! Trang | 3
hồn lạc quan, niềm tin mạnh mẽ vào Cách mạng, vào một tương lai tươi sáng, “Chiều tối” cũng
không nằm ngoài quy luật đó:
“Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết lò than đã rực hồng.”
Câu thơ kết thức bằng ngọn lửa hồng và cảnh bình minh mang lại cảm giác phấn chấn, lạc quan Có thể nói , chữ “hồng” ở cuối bài thơ đã tạo ra một luồng sáng chói rọi ngược trở lại
làm sáng rực bài thơ, làm mất đi sự mệt mỏi, uể oải, sự vội vã, nặng nề, cực nhọc nhất của cuộc
đời Những hình ảnh đối lập giữa niềm vui và nỗi cô đơn, buồn bã, giữa chiều tối và bình minh,
mặt trời hồng đã thể hiện một phong cách thơ Hồ Chí Minh dầy tinh tế và nhạy cảm, một sứ kết
hợp rất tự nhiên giữa màu sắc cổ điển và tinh thần thời đại
Chiều tối giống như bao bài thơ khác, thật nhỏ nhắn trong bố cục nhưng từng câu từng chữ đều như một nét phác họa bức chân dung con người, tinh thần Hồ Chí Minh: một tâm hồn
nghệ sĩ dạt dào tình yêu với thiên nhiên, con người; một ý chí sắt đá vượt lên mọi hoàn cảnh, một
tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng Bức chân dung ấy là sự hòa hợp giữa chất
thép và chất tình, thi sĩ và chiến sĩ, như trong bài “Đọc thơ Bác”, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã
viết: “Vần thơ của Bác, vần thơ thép/ Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”
Trang 4BÀI MẪU SỐ 2:
Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong bài viết Hồ Chủ tịch – hình ảnh của dân tộc có nói đại ý: Hồ Chủ tịch là Người rất giàu tình cảm, và vì giàu tình cảm mà Người đi làm cách mạng
Trong thế giới tình cảm bao la của Người dành cho nhân dân cho các cháu nhỏ, cho bầu bạn gần
xa, hẳn có một chỗ dành cho tình cảm gia đình Bài Chiều tối có lẽ hé mở cho ta nhìn thấy một
thoáng ước mơ thầm kín một mái nhà ấm, một chỗ dừng chân trên con đường dài muôn dặm
Chiều tối là bài thơ thứ ba mươi mốt trong tập Nhật kí trong tù, ghi lại cảm xúc của nhà thơ trên đường bị giải đi qua hết nhà lao này đến nhà lao khác Trên con đường khổ ải ấy, một
chiều kia Người chợt nhận thấy cánh chim chiều
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Câu thơ không giản đơn chỉ tái hiện cảnh vật mà còn bộc lộ cảm nhận của nhà thơ Làm sao biết rõ được là chim đang mỏi, và làm sao nói chắc được mục đích của chim là về rừng tìm
chốn ngủ, như thế ở trong lòng chim mà ra? Câu thơ chỉ là tín hiệu cho thấy là trời đã chiều, mọi
vật hoạt động ban ngày đã mệt, đã đến lúc tìm chốn nghỉ ngơi Câu thơ tương phản với hình ảnh
chòm mây cô đơn ở dưới:
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Câu thơ dịch tuy đẹp nhưng ý thơ có phần nhẹ hơn so với nguyên tác Hán Nó bỏ mất chữ cô trong cô vân, nghĩa là chòm mây cô đơn, trơ trọi rất có ý nghĩa Hai từ trôi nhẹ cũng
không lột tả được ý của mấy chữ mạn mạn độ Bới vì độ là hoạt động nhằm đi từ bờ này sang bờ
kia, ví như độ thuyền đi từ thuyền sang sông, độ nhật ở cho qua ngày, độ thiên không là chuyển
dịch từ chân trời này sang chân trời kia, con đường của mây mới xa vời và vô hạn biết chừng
nào! Còn mạn mạn là dáng vẻ trì hoãn, chậm chạp Chòm mây cô đơn đi từ chân trời này sang
chân trời kia, mà lại còn chậm chạp, trì hoãn nữa thì không biết bao giờ mới tới nơi? Và hiển
nhiên khi trời tối nó vẫn còn lửng lơ bay giữa tầng không, là hình ảnh ẩn dụ về người tù đang bị
giải đi trên đường xa vạn dặm, chưa biết đâu là điểm đừng! Trong hình ảnh ấy hẳn còn gửi gắm
tình cảm thương mình cô đơn sốt ruột và khao khát có một mái nhà Chỉ hai câu thơ mà vừa tả
cảnh vật, vừa tả cảnh người, tả tình người Đó là cái hàm súc, dư ba của thơ cổ điển
Nếu hai dòng đầu đã nói tới chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ và chòm mây cô đơn chưa biết dừng nơi nào, thì hai câu thơ của bài thơ sau hiện diện một chon ngủ của con người:
Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng
Trong bản dịch, người dịch đã đưa vào chữ tối lộ liễu trong khi thi pháp thơ cổ chỉ muốn người đọc tự cảm thấy chiều tối phủ xuống mà không cần một sự thông báo trực tiếp nào
Điều đó làm lộ tứ thơ Nhưng đó là cái khó của người dịch Điều đáng chú ý là một cảnh lao
động gia đình, rất đỗi bình thường, dân dã: Cô em xóm núi xay ngô hạt, ngô hạt xay xong, bếp
đã hồng Cô em, bếp lửa, tượng trưng cho cảnh gia đình Ngô hạt xay xong, bếp đỏ hồng lại
tượng trưng Cho công việc và nghỉ ngơi Một không khí ấm cúng đối với người lữ thứ Điều
Trang 5Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác! Trang | 5
chú ý thứ hai là trong nguyên tác chữ hồng là ấm, nóng chứ không phải là đỏ, càng chứng tỏ điều
nhà thơ nghĩa đến là sức ấm nóng, chứ không phải sáng hồng Bếp lạnh, tro tàn là tượng trưng
cho sự cô quạnh, lẻ loi Điều chú ý thứ ba là nhà thơ đứng ở núi như thế, y như thể đứng gần gũi
bên cạnh Lại nữa, nhà thơ phải đứng rất lâu mới thấy được cảnh thời gian trôi trong câu: Cô em
xóm núi xay ngô hạt – Ngô hạt say xong bếp đã hồng? Đây chỉ là bài thơ trên đường Vậy đó chỉ
là cảnh tưởng tượng trong tâm tưởng, trước xóm núi bên đường xuất hiện như là biểu trưng của
mái ấm gia đình, nơi đoàn tụ của những người thân thuộc Cái kết này tuy không sáng bừng lên
màu hồng lạc quan của cách mạng như ái đó hiểu, cũng vẫn ấm áp tình người làm cho nỗi lòng
người vơi bớt nỗi cô đơn tĩnh mịch Cùng với hình ảnh ấy, một ước mơ thầm kín về mái ấm gia
đình thấp thoáng đâu đó Nếu ta chú ý tới bài thơ trước này là bài Đi đường
Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng
Một con đường vô tận, và bài sau đó là bài Đêm ngủ ở Long Tuyền:
Đôi ngựa ngày đi chẳng nghỉ chân Món Gà năm vị : tối thường ăn, thừa cỏ rét, rệp xông vào đánh, oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần Thì ta sẽ thấy sự xuất hiện khung cảnh gia
đình kia là rất dễ hiểu Nó chứng tỏ trái tim của nhà cách mạng vẫn đập theo những nhịp của con
người bình thường gần gũi với mọi người
Nghệ thuật của bài thơ là một nghệ thuật gián tiếp cể điển, nói cảnh để nói tình Hình ảnh trong thơ cũng là tâm cảnh Nếu chỉ phẩn tích nó như một bức ranh hiện thực đơn giản, chắc
chắn ta sẽ rời xa thế giới nội tâm phong phú của nhà thơ
Trang 6BÀI MẪU SỐ 3:
Nhật kí trong tù (1942 - 1943) tỏa sáng tâm hồn cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh Tâm hồn tha thiết yêu con người, đất nước bao nhiêu thì cũng thiết tha yêu
thiên nhiên cuộc sống bấy nhiêu Tâm hồn ấy trong những tháng ngày tù đày tăm tối luôn hướng
về tự do, ánh sáng, sự sống và tương lai Trên đường bị giải đi trong chiều buồn ở tỉnh Quảng
Tây - Trung Quốc lòng nhà thơ - người tù bỗng ấm lên và phấn chấn vui vẻ trước thiên nhiên đẹp
và hình ảnh cuộc sống bình dị ấm cúng Cảm xúc nhà thơ viết bài thơ Mộ Bài thơ được sáng tác
cuối thu 1942
Bài thơ có hai bức tranh rõ nét: hai câu đầu là cảnh hoàng hôn, hai câu sau là cảnh sinh hoạt
Cảnh hoàng hôn
Trên con đường thanh vắng, thiên nhiên như một hồng thơ đang đón đợi:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Bức tranh hoàng hôn đã được xác định thời gian lúc chiều đang trôi chậm và không gian
là bầu trời bao la lúc ánh nắng chỉ còn le lói rồi nhường chỗ cho bóng tối lan dần Phía xa là cánh
chim bay mải miết về tổ, trên cao là chòm mây trắng lẻ loi trôi lơ lửng Thiên nhiên được miêu tả
với vài nét chấm phá nhưng đã gợi ra khung cảnh bát ngát, trong sáng êm đềm của hoàng hôn
vùng rừng núi Thiên nhiên có vẻ đẹp trong trẻo, thơ mộng nhưng quạnh quẽ đượm buồn Vẻ đẹp
ấy rung cảm bởi tâm hồn xao xuyến yêu thương của Bác
Hai câu thơ sử dụng bút pháp chấm phá miêu tả, nhất là cách sử dụng thi liệu mang đậm sắc cổ điển: lấy cánh chim biểu tượng cho hoàng hôn, còn hoàng hôn thì biểu tượng cho nỗi
buồn, nhất là đối với người tha hương càng gợi thêm nỗi buồn xa xứ, lòng thương nhớ cố hương,
Thôi Hiệu viết:
Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
(Hoàng Hạc lâu)
Và người đi trên đường xa trong cảnh hoàng hôn ấy dễ cảm thấy cô đơn và chạnh lòng
Bài thơ có cách cảm thụ thế giới quen thuộc của thơ xưa, thiên nhiên như đồng cảm với tâm sự của con người Hình ảnh con chim sau một ngày kiếm ăn vất vả như ẩn dụ hình ảnh
người tù mỏi mệt sau một ngày đường bị áp giải Chòm mây buồn như ẩn dụ tâm trạng cô đơn
buồn bã của tù nhân Tứ thơ cổ điển mà vẫn hiện đại, vì thiên nhiên với con người có sự đồng
cảm chứ không đồng nhất Thiên nhiên mệt mỏi còn có chốn nghỉ, cô đơn mà được tự do, còn
người tù không biết đi về đâu và mất tự do không biết đến bao giờ Nên nhà thơ đang khao khát
tự do và một mái ấm gia đình Tả cảnh mà chứa tình, hàm ý sâu xa, đó là vẻ đẹp hàm súc dư ba
của thơ cổ điển
Tóm lại, hai câu thơ gợi tả cảnh thiên nhiên đẹp mà buồn, vì ‘‘người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Trang 7Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác! Trang | 7
Buồn vì xa Tổ quốc, buồn vì bị bắt tù oan, buồn vì mất tự do không biết đến bao giờ
Nhưng trước vẻ đẹp của cảnh ấy lòng người ít nhiều cũng tìm được niềm vui thư thái
Điểm đặc sắc nghệ thuật của bài thơ là chỉ miêu tả không gian với hai hình ảnh đang vận động: cánh chim bay và chòm mây trôi nhưng diễn tả được sự luân chuyển của thời gian: chiều
đang trôi chầm chậm về đêm
Không gian thay đổi, khung cảnh sinh hoạt của một bản làng miền núi được mở ra một cách tự nhiên:
Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng
Hai câu thơ sử dụng bút pháp điểm nhãn của thơ cổ điển, nhưng hình ảnh thơ bình dị, chân thực lại được ghi bởi bút pháp hiện thực Hình ảnh cô gái mải miết xay ngô và xay xong
bên lò lửa rực hồng gợi bức tranh đời sống có vẻ đẹp bình dị, ấm cúng, yên vui Riêng đối với
người tù mệt mỏi, mất tự do thì cảnh ấy trở nên vô cùng hấp dẫn, quý giá, thiêng liêng, vì nó lệ
thuộc về thế giới tự do Chỉ có ai đã từng trải qua những cánh đời đau khổ đầy giông bão mới
thấy hết giá trị của từng phút giây cảnh đời bình yên Do đó bức tranh đời sống trở thành nguồn
thơ dạt dào, thể hiện niềm xao xuyến, sự rung động mãnh liệt hồn thơ
Lò lửa hồng là hình ảnh nổi bật trung tâm của bức tranh thơ, làm nổi rõ hình ảnh của cô gái Nó sưởi ấm bức tranh thiên nhiên hiu hắt lạnh lẽo và sưởi ấm tâm hồn nhà thơ Vậy là, hình
ảnh cuộc sống con người là điểm hội tụ vẻ đẹp bài thơ, tỏa sáng ánh và hơi ấm xung quanh Hình
ảnh lò lửa hừng hực đặt bên cạnh cô gái tạo ra vẻ đẹp trẻ trung, đầy sức sống của cảnh thơ
Hoàng Trung Thông cho rằng chữ hồng là nhãn tự của bài thơ là vì vậy Ý thơ cuối khỏe, đẹp
bộc lộ niềm vui, lòng yêu đời, yêu cuộc sống tinh thần lạc quan của Bác
Như vậy hai câu thơ là sự quan sát của người đi đường nhưng là cái nhìn của người đang khao khát tìm về cuộc sống bình yên giản dị Thế nên khi bắt gặp hình ảnh cuộc sống con người
giữa miền sơn cước, tình yêu và niềm vui đã tràn ngập cõi lòng Không phải ngoại cảnh tác động
đến con người mà chính cảm xúc của con người trùm lên ngoại cảnh Thiên nhiên đẹp nhưng
chưa đủ mang đến niềm vui Cuộc sống đẹp đã mang đến niềm vui chan chứa Điều ấy đã thể
hiện phẩm chất nhân văn cao đẹp của nhà thơ
Nguyên tác chữ Hán không có từ tối, bản dịch thơ thừa từ Không miêu tả đêm tối mà vẫn cảm nhận được là nhờ ánh lửa lò than Lấy ánh sáng để làm nổi bóng tối, nghệ thuật là ở đó
Hình tượng thơ vận động rất tự nhiên, bất ngờ, khỏe khoắn: từ lạnh lẽo, hắt hiu đến ấm nóng, sum vầy, từ tối đến sáng, từ buồn sang vui đó là điểm đặc sắc trong phong cách thơ của
Bác, thể hiện niềm tin yêu cuộc đời dù đang ở trong những tháng ngày đau khổ nhất
Bài thơ Chiều tối có sự hài hòa giữa phong cách cổ điển với hiện đại, giữa thiên nhiên với tâm hồn Bài thơ đã cho người đọc thưởng thức bức tranh thiên nhiên đẹp và cảm nhận được
vẻ đẹp của tâm hồn lớn Một tâm hồn phong phú, giàu cảm xúc, một tình cảm hồn hậu, thiết tha
với thiên nhiên, cuộc sống con người; luôn hướng về sự sống và ánh sáng, một tinh thần lạc quan
trong gian khổ
Bài thơ thể hiện phong cách nghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại
Trang 9Truy cập website www.hoc247.vn để tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu khác! Trang | 9
BÀI MẪU SỐ 4:
Màu sắc cổ điện của thơ Hồ Chí Minh thường thể hiện trước hết ở sự sử dụng những hình ảnh ước lệ trong thơ cổ:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòn mây trôi nhẹ giữa tầng không;
Cảnh chiều trong thơ cổ thường là thế: “Chim hôm thoi thóp về rừng” (Nguyễn Du),
“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Bà Huyện Thanh Quan)…
Thực ra việc sử dụng ước lệ không phải chỉ có trong thơ cổ Nhưng trong cổ thi, bút pháp ước lệ được sử dụng rất phổ biến, thậm chí trở thành một quy định nghiêm ngặt Vì thế, ước lệ
trở thành một đặc trưng thi pháp của văn chương trung đại, phản ánh tư tướng mĩ học của cộng
đồng văn học (gồm người viết và người đọc văn) thời ấy : quan niệm thế giới nghệ thuật phải là
thế giới được cách điệu hoá, lí tưởng hoá Nhìn chung ước lệ đối lập với tả thực
Nhưng ở thơ Hồ Chí Minh, ước lệ không hẳn là ước lệ Hãy đặt mình vào hoàn cảnh cảm hứng của nhà thơ mà xem : cảnh chiêu tối nơi núi rừng được quan sát và diễn tả một cách rất
chân thật, tự nhiên, không hề có sự gò gẫm theo ước lệ Nói cách khác : dưới ngòi bứt của Hổ
Chí Minh, ước lệ bao giờ cũng được vận dụng một cách tự nhiên, phù hợp với cảnh thực, tình
thực Chiêu tối (mộ) là lúc ánh sáng ban ngày gần tắt hẳn Lúc ấy ở giữa chốn núi rừng ("Chim
mỏi về rừng", "Cô em xóm núi"), chân trời bị che khuất, chút ánh sáng cuối cùng còn sót lại của
một ngày tàn chỉ có thể nhìn thấy nơi đỉnh trời Một cách tự nhiên, con mắt nhà thơ phải ngước
lên cao để nhận ra một cánh chim mỏi một đi tìm chốn ngủ nơi một vòm cây nào ("tầm túc thụ")
và một chòm mây cô đơn ("cố vân") lững thững trôi qua ("mạn mạn độ thiên không")
Cảnh là cảnh thật, mà tình cũng vậy Cảnh đượm buồn, phù hợp với tâm sự của nhà thơ cũng không thể nào vui được Bác Hồ rất gần gũi với chúng ta, chính vì trong hoàn cảnh ấy,
Người cũng buồn như chúng ta vậy thôi : thân phận tù đày, một mình nơi đất khách, lại trải qua
một ngày bị đày ải trên đường, chân xiềng tay xích, xa cách đồng bào, đồng chí, trong lòng
không lúc nào nguôi nhớ quê hương,
Tuy nhiên, thơ Hồ Chí Minh thường có một đặc điểm rất độc đáo này : mạch thơ, hình ảnh thơ cũng như tư tưởng thơ ít khi tĩnh tại mà luôn luôn vận động một cách mạnh mẽ và bất
ngờ hướng về sự sống và ánh sáng :
Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết, lò than đã rực hồng
Nếu nói về cảnh thì sự chuyển cảnh như thế cũng rất tự nhiên Khi đêm đã buông xuống hẳn tấm màn đen của nó thì con mắt nhà thơ tất nhiên phải hướng về nơi nào có ánh sáng Đó là
ánh lửa rực hồng trong lò than nhà ai bên xóm núi soi tỏ hình ảnh một cô gái xay ngô để chuẩn
bị bữa ăn chiều Ở câu thứ ba, người dịch thơ đã thêm vào một chữ "tối" không có trong nguyên
tác:
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc (Cô gái nơi xóm núi xay ngô)
Trang 10Kể ra lúc ấy trời đã tối thật rồi, thêm vào chữ "tối" hẳn không sai, nhưng cái tinh tế của bài thơ quả có vì thế mà mất mát đi chút ít Không nói tối mà tả được tối vẫn hay hơn Đây là
cách dùng ánh sáng để tả bóng tối, người xưa gọi là "vẽ mây nẩy trăng" (hoạ vân hiển nguyệt)
Lò than nơi xóm núi nào kia hẳn đã được nhóm lên từ trước, nhưng nay trời tối hẳn, nó mới rực
sáng lên như vậy
Lê Trí Viễn còn phát hiện thêm chỗ tinh vi này ở câu ba và câu bốn trong nguyên tác của bài tứ tuyệt khi lặp lại theo một trật tự đảo ngược, mấy chữ "ma bao túc" và "bao túc ma hoàn":
Sơn thôn thiếu nữ ma hao túc, Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng " Thời gian trôi dần theo cánh chim
và làn mây, theo những vòng xoay của cối ngô, quay quay mãi "ma bao túc - Bao túc ma hoàn"
và đến khi cối xay dừng lại thì "lô đĩ hồng", lò đã rực hồng, lúc trời tối, trời tối thì lò rực lên"
Hai câu trên là cảnh buồn, lòng người cũng không vui, thể hiện ở cánh chim mỏi mệt vẻ rừng và
chòm mây cô đơn trôi chầm chậm qua lưng trời Nhưng hai câu sau lại là một niềm vui thể hiện
ở ánh lửa hồng bỗng rực lên Ánh sáng và niềm vui của sự sống con người bỗng hiện lên ở trung
tâm của bức tranh thơ để toả hơi ấm ra xung quanh, xua tan đi cái cô quạnh, cái mệt mỏi, cái lụn
tắt của cảnh chiều tối nơi núi rừng Nguyễn Du nói : "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ"
Chân lí ấy rất ứng với hai câu thơ đầu Tất nhiên phải nói cho rõ, ở hai câu này, người buồn lại
gặp cảnh buồn :
Chim mỏi vê rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
Nhưng ở hai câu sau thì cảnh lại vui Vậy thì hẳn là người cũng vui Như đã phân tích ở trên, làm sao có thể vui được khi một mình với nỗi nhớ quê, đằng sau lưng là một ngày đường
vất vả vừa trải qua, còn trước mặt lại là một nhà lao khác đầy muỗi rệp dang chờ đợi ! Đã thế lại
đứng giữa một cảnh chiều muộn nơi núi rừng trên đất khách quê người Thì ra những vui buồn
của Hồ Chí Minh nhiều khi không thể giải thích bằng cảnh ngộ riêng của Người, mà phải liên hệ
với vui buồn, sướng khổ của dân tộc, của nhân loại mới hiểu được Trên đường bị đày ải, người
tù - thi sĩ, nhìn về một xóm núi, bỗng quên hẳn nỗi bất hạnh của riêng mình, sẵn sàng chia sẻ
niềm vui nho nhỏ, đời thường của gia đình một cô gái nhà ai bên bếp lửa hồng Người ta nói, chủ
nghĩa nhân đạo của Hồ Chí Minh đã đạt tới mức độ quên mình là như thế ("Nâng niu tất cả chí
quên mình" - Tố Hữu) Mà đâu chỉ ở một bài Chiều tối Hàng loạt bài thơ khác trong Nhật kí
trong tù đã chứng tỏ điều ấy (Chiều hôm, Người bạn tù thổi sáo, Vợ người bạn tù đến nhà lao
thăm chồng, Cảnh đồng nội, Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh, Nắng sớm, Phu đường, )
Một trong những đặc trưng cơ bản của phong cách thơ nghệ thuật Hồ Chí Minh là sự hoà hợp rất tự nhiên giữa màu sắc cổ điển và tinh thần thời đại Có thể xem Chiều tối là một trong
những trường hợp tiêu biểu Nét phong cách này thường thể hiện rõ nhất ớ những bài thơ tả cảnh
thiên nhiên - một đề tài chủ yếu của cổ thi và chính Hồ Chí Minh đã có nhận xét : "Cổ thi thiên
ái thiên nhiên mĩ" (Khán "Thiên gia thi" hữu cảm) Màu sắc cổ điển thường thể hiện ở việc sử
dụng những hình ảnh tượng trưng, ước lệ, có khi mượn cả những hình ánh, những tứ thơ của
người xưa, ở bút pháp chấm phá vài nét mà muốn ghi lại được linh hồn của tạo vật, ở phong thái
cái tôi trữ tình, ung dung tự tại, ngắm cảnh làm thơ Những điều ấy ít nhiều đéu thấy có ở bài
Chiều tối Nhưng trong thơ cổ, thiên nhiên thường chiếm vị trí chủ thể Con người trong đó
thường ẩn đi, chìm đi, dường như muốn hoà tan vào thiên nhiên, nhập thân vào cái vĩnh cửu của