1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

CHUYEN VE COI VI DO CANG

22 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 149 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xin trích một số giai thoại về con người và tác phẩm của hai ông tới bạn đọc để hiểu thêm về mảnh đất và con người nơi đây.. I..[r]

Trang 1

Lời giới thiệu

Cụi Vị và Đồ Càng là hai nhõn tài của xó Liờn Minh huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định Trong quỏ trỡnh khảo cứu viết “Địa chớ văn hoỏ xó Liờn Minh”, người viết đó sưu tầm được một số tư liệu về hai ụng Xin trớch một số giai thoại về con người và tỏc phẩm của hai ụng tới bạn đọc để hiểu thờm về mảnh đất và con người nơi đõy.

ông làm câu đối:

" Kìa mấy vạn quân ong, Hoàng Hoa ngời ấy đã không sợ;

Huống dăm ba lính kiến, bạch diện ta đây nọ có kinh"

Năm 10 tuổi, nhân có ông bạn của bố đến chơi, ra một vế đối bảo ông đối thử:" Ao thanh trì, nớc trong leo lẻo, cá lội ngất ngơ" ( ngơ = ng = cá) Ông đối lại:" Đá bạch thạch, gợn trắng phau phau, chim ngồi lểu đểu" ( đểu = điểu = chim) ( Một ngời khác đối :" Sông Ngân hà, sao bạc chan chan, vịt nằm ấm áp")

Năm 12 tuổi, ông đi thi tuyển sinh( cả Hán văn và Quốc văn) đỗ cao đợc ngời Pháp chụp ảnh kỷ niệm Khi thi xong ra ngoài nghỉ có một ngời ngoài 50 tuổi cũng đi thi đã mừng ông một vế đối:

" Âu á tri danh, đích thị kì nam dĩnh ngộ"

Ông liền đối lại vừa khiêm nhờng vừa lễ độ :

" Càn khôn định phận, quả nhiên đại lão vãn thành"

(ý nói: Âu – Á biết tên, chính đây là ng ời thông minh kì tài nớc Nam Vế dới:

Trời đất đã định, tất yếu ngời cao tuổi sẽ thành công.)

Cũng năm này, một hôm, ông xuống chơi nhà ngời thân với gia đình , làm nghề bật bông ở Hào kiệt Trớc khi ăn cơm tra, chủ nhà bảo:

" Nghe tiếng cháu học giỏi, ăn cơm xong, cháu làm cho bác một bài thơ khuyên con và

đôi câu đối để bác treo Tết nhé!"

Ông đáp:

" Bác đa giấy bút đây ,cháu viết rồi hãy ăn cơm!".

Không đầy nửa tiếng, ông đã làm xong bài thơ nh sau:

"Này này ta bảo các con ta:

Ăn ở s ao cho khéo đ ạo nhà

Non nớc rồi ra đẹp tựa hoa

Son sắt mấy lời khuyên nhủ đó

Tuổi xanh nên phải học ông già!"

Ông còn kèm theo một đôi câu đối tặng gia chủ:

"Mẫn cán ra tay, thiên hạ ấm;

Chuyên cần dốc sức , cả nhà no

("cán" và" cần" là dụng cụ đồ nghề để bật bông làm chăn, làm áo bông).

Chủ nhà cứ xuýt xoa, tấm tắc:, khenlấy khen để:

" Quả là thần đồng! thần đồng!"

Năm 15 tuổi, đi học về, nghe ông khách kể chuyện Sơn tây lại lụt lần nữa, sau một lúc ,ông làm bài thơ:

"Nghe nói Sơn tây lại lụt rồi

Lụt đâu mà lụt một năm đôi

Thơng thân cá gáy đôi lần vợt

Xót phận bèo ong mấy bận trôi

Trang 2

Bởi đất nớc tràn non Bắc nọ

Há trời mây giận nớc Nam tôi

Xin ông Tạo hoá thơng dân với

Cứ lụt thế này khổ lắm thôi!"

Cũng năm này ông đỗ khoá sinh (Cao đẳng tiểu học).

Năm 17 tuổi, ông đi dạy chữ Hán ở Tứ giáp (Hào kiệt) Năm 18 tuổi, ông làm h ơng s dạy ở ờng Phú Lại Học trò gồm 10 xã trong tổng Mật Vật, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá Năm 21 tuổi

tr-ông làm lễ khao vọng trong xã Lơng kiệt.

Năm1918(ông 22 tuổi), nhân lúc vua Khải Định đi tuần thú tại Thanh Hoá, ông làm bài sớ bằng chữ Hán đón đờng, dâng lên nhà vua khi vua đi qua Nội dung bài sớ nh sau:

1 Nhất viết đại nhất thống( xin các giấy tờ, đề niên hiệu Việt Nam trớc ngày tháng dơng lịch)

2 Nhị viết tồn thánh đạo( xin dịch các chuyện sách cũ, hay đem dạy ở trờng công)

3 Tam viết lệ hiếu phong (xin ra luật trị tội những kẻ không hiếu hạnh với cha mẹ)

4 Tứ viết trừ Phật hại(xin bớt các tợng Phật, lấy chùa làm nơi hội họp hoặc làm trờng dạy học)

Mặc dù có những điều quá tả song với lời lẽ đấu tranh uyển chuyển, hợp lý, nên triều đình không những không bắt tội, mà còn ra thông t hành chính chấp thuận và năm sau tăng lơng cho ông từ 7,5

đồng lên 9 đồng một tháng( tơng đơng với 2 tạ gạo) Trong những năm này( 18 đến 23 tuổi) ông thờng xuyên viết bài cho báo Nam phong Năm 1919 ông chuyển về dạy học ở làng Ninh xá, xã Yên ninh,huyện ý Yên ,tỉnh Nam Định rồi mất tại đó, giữa lúc tuổi đời còn rất trẻ!

Đôi bài thơ của ông do cụ Quỳnh, xóm Tiền cung cấp:

"Khách đến chơi đây xin biết cho

Tuổi tôi mời bốn, nghiệp tôi nho

Thay thầy dạy bảo hai anh nhỏ

Nhờ chủ toan trang một nợ to

Kí chửa làm nên còn phải két

Cử cha đỗ nổi vẫn nên cò

Bút nghiên sách vở ngày nên thú

Chẳng phải rằng tôi dạy học trò (1

1) Năm 14 tuổi, ông theo cha đi dạy học ở xóm Bốn nhà cố phó Cờng

Cố phó Cờng bị vợ mắng vì mải chơi tổ tôm, ông liền làm bài thơ "Chừa tổ tôm"tặng cố nh sau :

"Tổ tôm tôi nghĩ cũng nên chừa

Cóc đợc bao giờ chỉ có thua

Suốt tối không ù, chong mắt ếch

Cả ngày nằm ngủ ,chỏng càng cua

Nghĩ rằng đời chẳng bao thân tép

Nên cũng chơi cho thoả chí rùa

Bó buộc làm chi tuồng dạ cá

Tổ tôm tôi nghĩ cũng nên chừa!"

(1911) Bài thơ dí dỏm với toàn những "tôm, tép, cóc, ếch, cua, rùa, cá"

khiến ngời nghe cảm thấy bật cời mà vui vẻ tiếp thu, sửa chữa., không câu nệ tuổi tác, thế hệ cách xa nhau

Trang 3

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám, ông giúp việc Chính phủ Kháng chiến chống Pháp cùng gia

đình tản c vào Yên định (Thanh hoá) tham gia công tác văn hoá, rồi về Nga sơn Ông mất ở quê năm 1960.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ở Sơn tây hay đến chơi với ông.

Theo gơng nhà thơ Tản Đà, lấy núi Tản , sông Đà làm bút danh, ông Thừa Tộ lấy non Côi sông

Vị làm bút danh của mình Trong cuộc đời ngắn ngủi hơn 60 năm, ông đã để lại hơn 300 bài thơ đ ợc tập hợp trong cuốn "Sợi tơ lòng" nói về đủ các khía cạnh tâm hồn tình cảm của ông trong cuộc sống

mà ông đã trải qua, đã chứng kiến Từ những việc rất nhỏ trong đời thờng nh "hút thuốc lào", " vợ than Tết" đến những việc động trời nh " chiến tranh thế giới", " kháng chiến", " tản c" đều có mặt trong thơ

ông Xuất phát từ quan niệm:

" Chỉ có thú yêu thơ là tuyệt Hỡi ai ai quen biết nàng thơ

Sinh ra và lớn lên giữa Non Côi - Sông Vị, không chỉ mợn tên núi, tên sông làm bút danh của

mình, đồng thời ông cũng thể hiện lòng yêu quê hơng tha thiết, yêu sông, yêu núi dạt dào- Một phần của quê hơng bao la, vĩnh cửu- mà ông muốn gửi hồn vào đó Trong lời đề tựa cuốn "Sợi tơ lòng", viết vào năm 1924 , ông cứ băn khoăn:

Cuốn "Sợi tơ lòng" tớ viết chơi Chẳng lẽ tan theo gió bụi đời Man mác nguồn thơ gieo Bến Vị Mơ màng mây trắng tít Non Côi!

Quả vậy, ông luôn luôn mơ màng và man mác Ông mơ màng những nơi thanh cao, tinh khiết, những tuỵêt thú mà ông cho là lơ mơ, nh say, nh tỉnh do thơ đem lại Theo ông, đó mới là cái đẹp vô cùng Sự mơ màng đó, đã đa ông lên tận Cung Quảng, gặp chị Hằng Nga và các thi sĩ nổi tiếng trong

"giấc mơ thơ":

Đêm qua ta mơ màng Thấy ở trong cung Hằng Mùi hoa đa thoang thoảng Túi thơ bày ngổn ngang Tản Đà, Trần Tế Xơng Thanh Quan, Hồ Xuân Hơng Với bà Đoàn Thị Điểm Cùng nhau ngồi một giờng

Ông hình dung ra cảnh ba nữ sĩ đang thay nhau ngâm thơ, hai nam thi sĩ đang gảy đàn mồm; còn Hằng Nga đang uyển chuyển thớt tha đi lại, pha trà, gọt đào tiên đãi khách thơ ông liền đẩy cửa

vào., các thi sĩ bắt tay chào Tản Đà hỏi vồn vã; " Có thơ đa xem nào" Ông dâng cuốn " Sợi tơ lòng"

để xin ý kiến, thì:

Tú Xơng gật đầu mãi Tản Đà lại rung đùi Thị Điểm chê : "Ngông quá"

Thanh Quan rằng: "Khinh ngời"

Và ông ngâm lại bài " Con muỗi "

Xuân Hơng khen: "Lỡm đời

"Tài bắt chớc thơ chị

"Côi Vị, em của tôi !"

Trong không khí cởi mở, thân tình ấy, Côi Vị đợc dịp bày tỏ quan điểm:

"Tha các chị, các anh

Em đây vốn hiền lành, Nhng ngang tai, chớng mắt

` Em không thể làm thinh

Trang 4

Rồi ông đề đạt nguyện vọng:

Em ổ dới trần ai Tục luỵ lắm, trời ơi!

Em muốn lên đây để Xin làm một chân "Bồi"

Và ông lại mơ màng tiếp:

Sáu chúng ta Bồng Lai tiên cảnh Mây nớc bao la Gió vàng, sao bạc Cung thiền lấp lánh gơng Nga Khi trẩy đào Vơng Mẫu

Khi tắm mát Ngân Hà

Nhng tiếc thay, cuộc vui nào rồi cũng đến lúc tàn, kể cả những cuộc vui trong mơ Đã đến lúc phải chia tay Hằng Nga, chia tay các thi sĩ Ông bàng hoàng chợt tỉnh và lại man mác buồn:

Non Côi ám cỏ Sông Vị lầy sa Chia li, dòng lệ sơng sa Canh khuya tâm sự, trăng tà, bóng soi!

Phải chăng, đây cũng là nõi u hoài man mác chung của cả một thế hệ nhà thơ lúc bấy giờ, của cả một dân tộc lúc bấy giờ, trớc cảnh nớc mất nhà tan, nhân dân lầm than, nô lệ Bởi lẽ, Ông sinh vào buổi giao thời, cái buổi mà nhà thơ Tú Xơng đã từng than vãn:

"Nào có ra gì cái chữ nho

Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co Chi bằng đi học làm thầy phán Tối rợu sâm panh, sáng sữa bò."

Cho nên, tâm trạng của ông cũng giống tâm trạng của một số nhà thơ đơng thời Ta hãy lắng nghe nỗi buồn của ông:

Buồn này, buồn vẩn lại buồn vơ

Ai có mua buồn, tớ bán cho Buồn ngắm thuyền nan, cơn sóng vỗ Buồn trông gió táp cánh hoa xơ.

Buồn khi sơng phủ non đầu bạc Buồn lúc mây che bóng nguyệt mờ.

Thợ trời khéo vẽ tranh buồn tẻ

Có điều mừng, là dân tộc ta và đa số nhà thơ đơng thời, đã sớm thoát khỏi tâm trạng man mác

ấy bằng cách tìm đến với cách mạng Côi Vị cũng vậy! Hoà vào niềm vui chung của nhân loại, ngay khi nghe tin Hít-le chết, ông đã làm bài " Văn tế Hít-le"

Trang 5

khắc hoạ chân dung của "vị tổ s chiến tranh thế giới thứ hai":

Vị giang san mải sớm mê chiều

Không học, không hành, mà thao lợc vá trời lấp biển

" Thơng" dân khổ sở, "xót" nứơc lầm than

Nuôi chí phục thù, hăm hở làm bom, đúc súng

Tài độc đoán, cậy không ai ngăn cản

Lăm le phá cũi xổ lồng,

thét máy truyền thanh.

" Đảng áo nâu" khoe có đủ oai quyền,

xé tờ hiệp ớc

Tiến binh nh tháo nớc vỡ bờ

"Cờ thập ngoặc" phất phơ bay bốn phía

"Khúc khải hoàn" lừng lẫy hát ba quân

Rắp làm ma làm gió, làm chúa tể Châu Âu

Toan nuốt Mĩ, nuốt Anh,nuốt khổng lồ Xô Viết

Hoá nhi hay ghét mặt phi thờng

" Thời thế vẫn căm tay xuất chúng

" Mới hay, gian hùng tạo thời thế, Ghê cha!

" Thời thế hại gian hùng, ngán nhỉ!

Và ông kết thúc:

"Côi Vị muốn :

" mợn tất thẩy núi xơng, sông máu thay làm vật lễ thành dâng

" Tát bao nhiêu bể thảm, nguồn thơng vào văn kính viếng!"

Trong những nõi sầu thảm của con ngời, có lẽ nỗi sầu thảm lớn nhất là chiến tranh Thoát đợc nỗi sầu này, ngời ta cảm thấy nhẹ nhõm đi nhiều Côi Vị cùng mọi ngời Việt Nam đi vào cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp với những câu thơ lạc quan hẳn lên, bởi ông ý thức đợc rằng, đây là cuộc chiến tranh giữ lấy những gì mà cách mạng vừa giành đợc, Ông thay lời ngời mẹ động viên con:

Con ra tiền tuyến phen này

Mẹ mong máu giặc thấm đầy áo con

Đời con là của nớc non Nớc non trông cả vào con mọi bề

Ông thay lời ngời chồng động viên vợ:

Mẹ cò là vợ dân quân Thi dua phải chiếm lấy phần cao hơn I- tờ, phải học luôn luôn

Viết nhanh thoăn thoắt, đọc trơn làu làu Chăn nuôn , trồng trọt, hoa màu

Dân giầu, nớc hẳn cũng giầu từ nay.

Trang 6

Có tiền, có gạo trong tay Thì nên đem giúp những ngày lạc quyên ích nhà, ích nớc, đôi bên

Mẹ cò làm đợc, tôi khen mẹ cò

(Mẹ cò ơi- 1947)

Và chính ngời chồng ấy, cũng rất hăng hái:

Còn trời, còn nứớc, còn non Tôi còn ái quốc, tôi còn thi đua Thi đua cùng với mẹ cò

Tôi không nói khoác, nói đùa bỡn mô

Giặc vô tôi cũng thi đua Thi đua giết giặc, không thua mẹ cò!

Thời gian này, ông tản c ở Yên Định, tỉnh Thanh Hoá Ông hoà nhập vào cuộc sống của vùng tự

do, vui với niềm vui hạnh phúc lứa đôi của thế hệ trẻ, nhng không quên nhắc nhở họ:

Tiện đây xin có lời khuyên

Dẫu vui ân ái, đừng quên nớc nhà

( Thơ mừng đám cới 1947) Bản thân ông dù trút đợc nỗi buồn man mác, nhng không lúc nào, ông khuây khoả nỗi nhớ quê cha đất tổ, nhớ quê hơng xóm làng, nơi có Non Côi- Sông Vị của ông:

Ba năm ăn tết ở ba nơi Nghĩ đến quân thù, giọt lệ rơi Phần mộ lạnh lùng hơng khói vắng

Từ đờng tan vỡ, nắng ma phơi Ruộng ao, đất cát thành hoang cả

Sách cũ ông cha bị đốt rồi Mỏi mắt trông về nơi cố lí Ven trời ẩn hiện bóng Non Côi!

Sáng dậy thanh tâm hút thuốc lào

Hút vào một điếu dạ nôn nao Chân trời bốn phía nh quay tít Mặt đất hai chân muốn lộn nhào Tanh tách nớc reo to lại nhỏ Loanh quanh khói toả thấp rồi cao Tơng t chẳng rõ ai ngày trớc

Điếu đã chôn đi lại phải đào.

2 Đi thi

Thi cử năm nay sắp tới kì

Chỉnh,* Bình, Nam hỡi có lo thi Bảng vàng thiên hạ ham mê lắm Mặt trắng ngời ta quý trọng gì

Con chửa làm nên thày chán quá

Cháu mà hỏng mãi chú vui chi Phen này chiến bút cho oanh liệt

Đè bẹp bao nhiêu sĩ tử đi.

3.Đổi.

Trang 7

Làm đôi câu đối viếng đồng tông, Kiểm Vạn đem cho một đĩa lòng

Họ móc can tràng ra tạ lễ Mình moi tim óc để làm công Học hành năm trớc chừng bao của Chữ nghĩa ngày nay đáng mấy đồng Giá chữ đã hời hơn giá thịt

Từ đờng tan nát nắng ma phơi

Ruộng ao đất cát thành hoang cả

Sách cũ ông cha bị đốt rồi

Mỏi mắt trông về nơi cố lí

Ven trời ẩn hiện bóng non Côi.

5- Con muỗi:

Hut máu ngời ta chẳng biết ê

Đù cha con muỗi cứ vo ve Cái vòi châm xuống đau đau lạ Chất độc truyền sang ngứa ngứa ghê

Hễ đến ban đêm là nó tỉnh Làm tan giấc ngủ của mình mê

Tám chân quờ quạng với hào quang

Đời ngời vẫn bảo cua ngang ngạnh

Có giỏi bò lên cắp chị Hằng

(1937)

7-Hồng gai:

Hồng nào hồng chẳng có gai, Phải chăng gai ấy là trời phú cho

Bảo cho những khách tò mò Hái hoa chạm phải thì co tay vào!

8- Ngày xuân:

Ngày xuân ta cũng thử bông đùa

Ta thử cời xem có chát chua Hoa thấy ta cời hoa cũng cảm Trên cành nhăn nhở gió đu đa!

(1940)

9-Ma xuân:

Trang 8

Khen cho con tạo khéo tài rây Bọt nớc lan ra khắp đó đây Nghếch mặt lên chơi càng mát mặt Thò tay hứng thử lại êm tay

Bông hoa sớt mớt dòng châu đọng Lới nhện long lanh mảnh ngọc đầy Nhỏ quá đi thôi mà nhẹ quá

Không nhờ hơi gió cũng bay bay

10.Đón xuân:

Kìa xuân đã đến

Đón xuân vào ta nói chuyện xuân chơi Vắng xuân lâu,ta những nhớ xuân hoài Trải xuân, hạ, thu, đông vừa chín tháng Hai trăm bảy mơi đêm đằng đẵng Lại hai trăm bảy chục ngày thờng Khi gió may, lửa lựu

Lúc lá rụng, rơi sơng Nhìn cảnh vật tang thơng sầu bát ngát Vun vút oanh vàng bay lại hót

Tơi tơi hoa đỏ bật lên cời Xuân đến đây cho cả thế nhân vui Cho CôiVị quãng đời tơi thắm lại Xuân đến mừng xuân ta lại viết Một trời xuân, vơ vét cả vào thơ

Yêu xuân không bến , không bờ !

11-Tết đến:

Hoa đào hớn hở đón xuân sang Tết đã mon men đến cổng làng Câu đối đỏ loè hai vế chữ

Cành nêu cao vót mấy tầng thang Tranh tranh, pháo pháo, con cời nói

"Hoa đào khoe sắc đón xuân sang

Mà cháu tôi sao vẫn ngủ tràn Gãi ghẻ xuân ? ồ trái thói !

"Ơ hờ tết hở ?" Gớm bền gan!

Toan vơ cảnh tết vào trong mộng, Hay ấp nàng thơ ở cái chăn Pháo nói đang rung hồi đánh thức Hoa cời tự dục trống canh tan!"

Côi Vị rất yêu hoa, ông thờng mua hoa tháng (hoa tơi) do cô gái bán hoa theo lịch đem hoa đến

để ông cắm vào lọ hoa nơi ông làm việc Cô bán hoa xinh đẹp, thi nhân lại đa tình, nên ông có bài thơ:"

Cô bán hoa:"

"Chị hàng hoa ,chị hàng hoa!

Tôi mong sáng sáng chị qua đờng này.

Cho tôi nhờ chút thơm lây Theo chiều gió thoảng hơng bay vào phòng

Trang 9

Cho tôi mua một vài bông Bông lan, bông cúc, bông hồng xinh tơi

Bao nhiêu một cái nụ cời Của bông hoa ,với của ngời bán hoa ?"

(1936) Vì yêu hoa nh thế, nên khi phải chia li với hoa, ông cảm thấy nh hoa cũng không cầm đợc nớc mắt:

"Ta cúi xuống hôn hoa

Đầm đìa ớt môi ta Nhớ ta, hoa nhỏ lệ Hay sơng đọng đêm qua

(1936)

Vì đa cảm nh vậy, nên ông hay" lo vơ lo vẩn, lo bò trắng răng" nh bài "Xuân với má hồng":

Xuân về trên má đào ai, Xuân đi, trên má đã phai nhạt dần

Má mà mơn mởn thanh tân Hỏi ai không muốn đến gần hôn ai!

Má mà thắm nhạt ,hồng phai Cái hôn không thể dằng dai đến già

Bảo cho những khách quần thoa Thấy hây hây má liệu mà chồng con

Ngày xanh nó chạy bon bon

Nó đi trên má, má mòn mỏi đi

Tô son, xuân sẽ bôi chì

Má hồng tô điểm riêng thì xuân xanh!

Có ai xe chỉ cho bền, Trói chân xuân lại,ở liền mãi đâu?

Trời còn có hạ , thu, đông Hồng nhan có lúc cũng không còn hồng

Mấy năm sau, ông lại viết :"Thu với má hồng" nh tỏ ý sốt ruột thay cho ngời con gái cha chồng:

"Thu sang, núi cũng bạc đầu, Mặt sông xanh ngắt , nữa màu tóc da

Mà ai cha, vẫn hoàn cha,

Đêm thu, vừa gió, vừa ma, lạnh lùng!

Heo may, gió lọt căn phòng, Heo may gió "dục" lấy chồng ,ai ơi!

Heo may,lạnh cả tâm hồn, Không ai ấp ủ, có buồn chăng ai? "

(1941)

Tình cảm dạt dào, ông mợn hình ảnh" thuyền và bến"để gửi gắm nỗi lòng:

"Thuyền không bến lênh đênh bốn biển, Bến không thuyền bến lẻ loi duyên Vui thay, trên bến dới thuyền Buồn thay,bến vắng con thuyền ngợc xuôi Bến không thể rày lui mai tới

Trang 10

Đi với thuyền cho khỏi thờ ơ

Thuyền ơi, mải thú giang hồ

Để cho bến đợi , sông chờ, thuyền ơi!

Bến, bến hỡi, thuyền rời đi tạm Nghĩa nông sâu, thuyền dám quên đâu

Ba đào, phong vũ có nhau Thuận buồm, xuôi gió, lâu lâu lại về Thuyền coi bến là quê là quán Bến coi thuyền là bạn cố tri Hợp tan, tan hợp bao kì

Khứ lu, lu khứ ,nặng về nớc non Bến cha lở ,thuyền còn qua lại

` Bến xa thuyền, bến hãy còn trơ

Thuyền không để bến bơ vơ

Bến không nỡ để thuyền lơ lửng thuyền!

(1930) Lãng mạn là thế, bay bổng là thế, song trong cuộc sống đời thờng, ông lại rất thực tế, ngày tết ngồi vào mâm là ông"chén" thoải mái, tự nhiên:

"Ăn sao cho thích khẩu thì thôi

Lại uống cho say thật lử ngời

Măng, nấm đem ninh gà mái ghẹ

Tơng ,gừng chấm với thịt bò thui

Chai to ,cứ việc mà nghiêng mãi

Miếng nhỏ ,can gì chẳng gắp đôi

Những kẻ rau da là kẻ dại

ở đời chén đã ,mợ mày ơi !

Kết thúc cuôc đời viên chứcthừa phái "sáng cắp ô đi, tối cắp về", ông đợc" thăng "chức "quản

"trong gia đình, ông làm bài thơ "Tự thán":

Mời tám năm qua một chức "thừa" * Ngày nay thăng chức "quản gia nô"

Bạn cùng bếp núc, râu mày nhọ Quẩn với màn chăn, chí khí co, Thơ phú phải lòng chi tớ nữa

áo cơm làm bộ với ta ?

Đời ngời quá nửa còn nh thế Chẳng rõ về sau có khác xa ?

Về già, nhớ lại thời thơ ấu, ông thấy nuối tiếc, nhớ nhung và càng cảm thấy quí thời gian đã trôi

qua, ông viết bài "Sống với thời gian":

Hồi ta còn bé

Ăn khoẻ, ngủ khoẻ Bắt cào cào, dào hang dế Phá tổ chim, tìm trứng sẻ

Bỏ đom đóm vào mũi nhau Nhét thuốc lào vào miệng ngoé Mong cho chóng đến ngày ba mơi tết Xin mẹ tiền mua bánh pháo kêu

Đốt vào sau chó

Đốt vào sau mèo

Nó chạy là ta thích Nhảy lên, cời tít, vỗ tay reo.!

Trang 11

Ngày xanh trôi veo veo, Bóng xuân đã xế chiều.

Tóc hồ lốm đốm

Da hồ nhăn nheo Tiếc quá ! trời ơi! ta tiếc quá!

Thời kì sung sớng đợc bao nhiêu?

Năm 1960, tập thơ ông gấp lại, ông đã đi vào cõi vĩnh hằng, để lại niềm tiếc thơng vô han cho gia đình và bà con họ hàng lối xóm Tập thơ"Sợi tơ lòng" của ông với trên 300 bài thơ chép tay cha ra mắt bạn đọc thì bị thất lạcdo chiến tranh Trong lời đề tựa ở đầu tập thơ, có lẽ cụ đã tiên đoán phần nào số phận của nó:

Cuốn "Sợi tơ lòng" tớ viết chơi, Chẳng nhẽ tan theo gió bụi đời?

Man mác nguồn thơ gieo bến Vị Mơ màng mây trắng đỉnh non Côi!"

Chúng tôi, lớp con cháu hậu sinh,thấy tiếc quá,tiếc quá , nên cố công lục tìm trong lớp bụi thời gian, qua trí nhớ của ngời con trai duy nhất của cụ là ông Vũ Quang Tuyên, mỗi ngày một

ít, chắp nối lại suốt 5-6 năm qua, đến nay cũng chỉ mới đợc một số bài đem ra trình làng Hi vọng rằng sẽ còn đợc bổ xung tiếp!

MộT Số BàI THƠ TRàO PHúNG:

a -Nói chuyện với ngời điếc:

Buồn xem sách, sách không một quyển.

Gọi Tiềm sang nói chuyện cho vui

Hai tai Tiềm lại điếc lòi

.Thế là ta nói ra lời ta nghe

Bảo" đi mợn cùi dìa thợ cạo

Đem ngay về mà nạo tai đi!"

Tiềm nghe Tiềm chỉ cời khì

Ngẩn tò te hỏi :" Cái gì , hở ông?

Mai ông có ăn lòng không á?

Ông ăn gì,cháu dở món ăn!"

Làm ta đợc bữa cời lăn

Thấy cời, Tiềm cũng nhăn răng ra cời.

Trời ơi! Đất hỡi ! Tai ơi !

b - Dấm đài:

Chuyến tàu Hà nội đi Nam Một chàng áo đoạn gấm lam chỉnh tề

Nằm trên giờng gác ngủ khì

Mê man đến nỗi" dấm tè" không hay

Một bà ngồi dới nguy thay

Bị chàng công tử "dấm" ngay vào đầu

Cả cô bán bánh trên tàu Chả giò, diêm thuốc, trầu cau ớt đầm

Bao nhiêu hành khách cời ầm.

Anh chàng xấu hổ , vẫn nằm cò khoeo.

"Dấm đài" cái mặt lêu lêu,

Tu mi nam tử mà bêu riếu đời

Làm cho ta phải phì cời, Lại càng hú vía: không ngồi chỗ kia!

c -Trái khoáy:

Anh hàng thuốc chúc ngời ta mạnh

Ngày đăng: 28/04/2021, 11:47

w