Công nghệ 4.0 thay đổi nhiều trong đời sống hằng ngày thông qua các loại máy tự động đang phát triển mạnh mẽ vì vậy máy ép rơm là 1 máy tự động hoá do các kỹ sư Việt thiết kế, , máy tự động hoá có file 3D và video mô phỏng, mọi người ai cần thông tin chi tiết hơn thì liên hệ mail tuan.me.cadgmail.com
Trang 1HỘI SỬ DỤNG PHẦN MỀM CAD/CAM/CAE-CNC 4CHAUI
- -
CUỘC THI THIẾT KẾ MÁY
ĐỀ TÀI: Máy ép rơm rạ khô thành khối có ứng đụng
Đứng giảng hướng dẫn : Lê Văn Hiếu Nguyễn Tuấn Hùng Thành viên dự thi :
Nguyễn Trọng Duy Hoàng Khải Hưng Nguyễn Mạnh Hùng Bùi Khánh Loan Nguyễn Gia Nam Nguyễn Văn Toản Phạm Quốc Toàn Vũ Thanh Tùng
Lớp phần mềm : Inventor
HÀ NỘI - 2019
Trang 2I
MỤC LỤC
MỤC LỤC I DANH MỤC HÌNH ẢNH III DANH MỤC BẢNG III LỜI NÓI ĐẦU IV
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 Các vấn đề đặt ra 3
1.2.1 Về cơ khí 3
1.3 Phương pháp nghiên cứu 3
1.3.1 Phương pháp thu thập: 3
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: 3
1.3.3 Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp: 3
1.3.4 Phương pháp sàng lọc: 3
1.4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 4
1.5 Dự kiến kết quả đạt được 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG 5
2.1 Lịch sử phát triển 5
2.2 Hệ thống cơ khí chấp hành 6
2.3 Hệ thống điện điều khiển 7
2.3.1 Ưu điểm 9
2.3.2 Nhược điểm 9
2.4 Hệ thống cảm biến 10
2.4.1 Cảm biến tải: 10
2.4.2 Cảm biến rung 3D: 10
2.4.3 Cảm biến tốc độ: 11
Trang 3II
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ HỆ THỐNG 12
3.1 Thiết kế động học 12
3.1.1 Sơ đồ động học: 12
3.1.2 Thiết kế hệ thống và nguyên lí 12
3.2 Thiết kế hệ thống 12
3.2.1 Tính toán xy lanh Thủy Lực 12
3.2.2 Tính toán đường ống hút Đường kình đường ống hút: 16
3.2.3 Tính toán xác định kích thước bể dầu 18
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ 20
4.1 Kết quả đạt được 20
4.2 Đánh giá 21
4.3 Phương hướng phát triển 21
Tài liệu tham khảo 24
LỜI CẢM ƠN 25
Trang 4III
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Đốt rơm rạ trên đường 2
Hình 2: Máy ép rơm 2
Hình 3: Nguồn thủy lực 8
Hình 4: Chi tiết cảm biến tải 10
Hình 5: Hình ảnh chi tiết cảm biến rung 11
Hình 6: Cảm biến tốc độ 11
Hình 7: Hình ảnh các loại piston phổ biến bán trên thị trường 14
Hình 8: Thông số cơ bản của dầu HLP25 HLP36 Error! Bookmark not defined Hình 9: Sơ đồ động học Error! Bookmark not defined DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Các loại piston phổ biến bán trên thị trường 14
Bảng 2: Thông số cơ bản của dầu HLP25 HLP36 18
Trang 5IV
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật Đảng và Nhà nước đã đề
ra mục tiêu “công nghiệp hoá - hiện đại hoá” đất nước Muốn thực hiện được mục tiêu đó chúng ta phải thúc đẩy mọi ngành công nghiệp như: công nghệ thông tin, công nghệ chế tạo máy, công nghệ sinh học, điện điện tử Trong đa ngành, chế tạo máy đóng vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất ra các công cụ cho nền kinh tế quốc dân tạo tiền đề cho các ngành phát triển tốt hơn Vì vậy việc phát triển khoa học kỹ thuật trong ngành chế tạo máy là mục tiêu hàng đầu nhằm thiết kế hoàn thiện và vận dụng phương pháp chế tạo, tổ chức và điều khiển quá trình sản xuất
Trong suốt quá trình học tập được nhà trường trang bị cho những kiến thức của các môn cơ sở cũng như các môn chuyên ngành kết hợp với thực hành và thực
tế Tiếp đó khi tham gia 4CHaUI chúng em được học thêm những kiến thức về phần mềm Và đã có một cuộc thi Thiết Kế Máy để hướng tới sinh nhật Hội lần
thứ 10, chúng em đã được giao đề tài cho cuộc thi lần này là thiết kế: Máy ép rơm
rạ khô thành khối có ứng dụng
Báo cáo đề tài của chúng em được chia làm 4 chương
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ MÁY ÉP RƠM RẠ TỰ ĐỘNG
CHƯƠNG 3: TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ CHUNG
Trong suốt quá trình nghiên cứu và thiết kế được sự góp ý tận tình của 2 anh
hướng dẫn là anh Lê Văn Hiếu, anh Nguyễn Tuấn Hùng và đặc biệt là anh Phan Đình Đức cũng như các anh khóa trên trong Hội để cùng với sự nỗ lực tuyệt vời
của cả nhóm, sự góp ý của bạn bè đến nay nhóm em đã hoàn thành bài thi thiết kế
máy với đề tài nghiên cứu, thiết kế “ máy ép rơm rạ khô thành khối có ứng dụng”
Do khả năng và tầm nhận thức còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều, với khối lượng công việc đòi hỏi có sự tổng hợp cao nên đề tài của chúng em không tránh khỏi những thiếu sót Chúng em mong các anh chị tiếp tục chỉ bảo và giúp đỡ để em hoàn thành tốt hơn nữa để tối ưa hóa mô hình thiết kế và vận dụng tối đa vào công việc thực tế
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 25 tháng 05 năm 2019
Trang 6V
Nhận xét của người hướng dẫn
Trang 7
VI
Nhận xét của hội đồng phản biện
Trang 8
Nhưng ngược lại với suy nghĩ ấy, rơm gắn liền với đời sống con người Việt Nam
từ hàng nghìn đời nay Rơm cũng tạo nên nét đẹp rất riêng của làng quê Việt Nam qua hình tượng cây rơm, mái rạ Hình tượng đó đã đi sâu vào tâm thức mỗi con người Việt Nam Từ xưa đến nay, rơm rạ luôn là sản phẩm hữu ích, nó là nguồn nguyên liệu cho rất nhiều lĩnh vực sản xuất và là vật phẩm phục vụ muôn mặt đời sống sinh hoạt của người dân
Rơm rạ chiếm khoảng một nửa lượng sản phẩm của cây ngũ cốc như lúa mạch, lúa mì và lúa gạo Trong trường hợp ở nước ta thì rơm rạ chủ yếu phát sinh
từ ây lúa nước Đã có lúc rơm rạ được coi là một loại sản phẩm hữu ích, nhưng do nhu cầu về lương thực mà sản lượng lúa gạo ngày càng gia tăng, cùng với đó là nguồn rơm rạ không thể tận dụng hết, nên rơm rạ đã trở thành một nguồn phế thải khó xử lí trong nông nghiệp
Ngành nông nghiệp cũng gây ra nhiều tác động đến môi trường trong quá trình sản xuất và chế biến, trong đó có rơm rạ là một trong những yếu tố đó Việc thống thủy lợi, ô nhiễm môi trường, mất an toàn giao thông v.v… Do người dân chất rơm thành đống, phơi rơm tràn lan khắp đường, đốt rơm tạo ra làn khói nghi ngút đốt rơm rạ chẳng những lãng phí nguồn nguyên liệu mà còn gây tắc nghẽn hệ che mất tầm nhìn của người đi đường gây ra nhiều vụ tai nạn giao thông
Vào vụ mùa thu hoạch có rất nhiều người dân tuốt lúa ngay trên mặt đường, sau
đó lại chất những đống rơm to, chờ một vài ngày cho khô rồi đốt ngay tại chỗ Cuộc sống bây giờ khá giả hơn trước, nhà nào cũng đầy đủ bếp ga, bếp điện chẳng còn như hồi xưa thu gom rơm về để đun nấu nữa Đó là chưa kể việc vận chuyển
về nhà, phơi hong khô nhưng không có diện tích mà còn tốn nhiều công sức Hiện tượng đốt rơm rạ tràn lan càng gây ra những ảnh hưởng không tốt Theo các nhà y học, khói bụi khi đốt rơm rạ làm ô nhiễm không khí, gây tác hại lớn đối với sức khỏe con người đặc biệt là trẻ em, người già và người có bệnh hô hấp, bệnh mãn tính sẽ dễ bị ảnh hưởng nhất Sử dụng rơm rạ đúng cách để tạo ra các thành phẩm
Trang 92
giảm thiểu được khối lượng lớn rác thải sau mỗi mùa vụ, cũng như giảm thiểu tác hại của nó đến cuộc sống tự nhiên
Hình 1: Đốt rơm rạ trên đường
Hầu hết các nước đã và đang tìm kiếm các phương pháp tận dụng rơm rạ và
xử lý theo cách an toàn, thân thiện với môi trường Một trong những phương pháp tận dụng rơm rạ là trồng nấm rơm, sản xuất phần bón hữu cơ, sử dụng nó cho sản xuất năng lượng gồm nhiên liệu sinh khối rắn, sản xuất vật liệu xây dựng Để thực hiện các phương pháp trên đặt ra bài toán cần cất trữ và vận chuyển rơm Xuất
phát từ thực tiễn đó nhóm chúng em chọn đề tại “máy ép rơm rạ khô thành khối
có ứng dụng”
Hình 2: Máy ép rơm
Trang 10Các chi tiết, cơ cấu có khả năng làm việc được trong môi trường bụi bặm,
áp lực lớn mà vẫn đảm bảo được độ bền, không xảy ra kẹt Các chi tiết thiết kế đơn giản, dễ chế tạo, giá thành rẻ, ưu tiên các chi tiết, cơ cấu có khả năng dễ thay thế và có sẵn trên thị trường
Lựa chọn các chi tiết, cơ cấu hoạt động trong điều kiện chịu ứng suất lớn
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về việc sử dụng rơm rạ tạo ra các sản phẩm thân thiện với mô trường
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các phương pháp:
1.3.1 Phương pháp thu thập:
Tổng hợp các thông tin cần thiết có thể liên quan đến chuẩn lý môi trường tại khu công nghiệp, nhà máy Các thông tin có thể được thu thập từ các cơ quan chức năng (số liệu thống kê, văn bản pháp quy, …) kết hợp với việc nghiên cứu các tài liệu đã được tiếp xúc trong quá trình ngồi trên ghế nhà trường Ngoài ra, thông tin còn có thể thu thập được qua sách báo, qua nguồn tra cứu trên mạng
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Tìm hiều nghiên cứu các văn bản, các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.3.3 Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp:
Trên cơ sở các kết quả có được do khảo sát, thu thập tài liệu lien quan từ các nguồn khác nhau, phân tích đánh giá tổng hợp các thông tin thu thập được để đưa
ra các lý luận, giải thích các nguyên nhân và rút ra kết luận
1.3.4 Phương pháp sàng lọc:
Dựa trên những kiến thức được học, những thông tin có sẵn và những kết luận được rút ra để đưa ra những đề xuất thích hợp
Trang 114
1.4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Một chiếc máy ép rơm rạ tự động sẽ có nhiều tiêu chuẩn cần được đảm bảo Tuy nhiên, trong phạm vi một đề tài, với những giới hạn về thời gian, kiến thức của sinh viên, cùng với việc chưa được tham khảo thực tế, nhóm Fighter sẽ chế tạo một chiếc máy ép rơm tự động nằm trong phạm vi sau:
➢ Máy ép rơm rạ tự động, dễ thiết kế, tính toán, chế tạo không phức tạp quá
Có thể sử dụng chi tiết, module, thiết bị, mạch điều khiển đã có bán sẵn trên thị trường để giảm thiểu chi phí
➢ Máy ép rơm rạ tự động phải đảm bảo lực ép để rơm có thể liên kết lại đươc thành khối với kích thước yêu cầu là 600x 400x 350mm Sau đó sẽ được buộc chặt lại không cho rơm bị bung ra và dễ dàng trong quá trình
vận chuyển về kho hoặc nơi lưu trữ
1.5 Dự kiến kết quả đạt được
Máy ép rơm rạ thành khối có ứng dụng: Cuộn rơm, rơm khô lồng bồng chiếm nhiều diện tích Máy ép rơm nén chặt gọn thành khối kiện giảm chi phí vận chuyển lưu trữ Dự kiến thiết kế máy ép rơm với lực ép 40 tấn, kích thước
kiện ép 600x 400x 350 mm
Trang 125
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG 2.1 Lịch sử phát triển
Trong nghành công nghiệp sản xuất, chế tạo, vận chuyển cần một lực lớn
để có thể nâng, hạ vật có trọng lượng lớn (khoảng từ vài kilogam đến hàng tấn ) hay chế tạo thiết bị dùng trong việc sản xuất chế tạo máy móc, các chi tiết
máy cấu trúc kim loại ban đầu có cơ tính không tốt phải qua rèn để làm tăng cơ tính đảm bảo việc chế tạo các loại phụ tùng chịu tải, chịu lực lớn
Phương pháp chế tạo máy móc sớm nhất là dùng búa người thợ rèn dùng kìm kẹp chặt miếng kim loại đã được nung đỏ rồi sử dụng búa tác dụng lực trực tiếp vào vật được rèn Nhưng phương pháp này tốn sức và mất nhiều thời gian, mà chỉ rèn được vài vật dụng nặng vài kilogam dẫn đến năng suất thấp
Phát triển thêm một bậc con người đã chế tạo ra búa hơi nước và búa khí nén có thể rèn được vật dụng nặng tới vài tấn Tuy nhiên, những chi tiết máy lớn hơn thì không thể rèn được Do đó đòi hỏi cần có một cụ mới đạt giới hạn cao hơn
Vì thế năm 1794 Joseph Bramah kỹ sư người Anh đã phát minh Máy ép thủy lực
dựa theo Định Luật Truyền Áp Suất (Định luật Pascal) trong chất lỏng và được
cấp bằng sáng chế vào năm 1795
Xét về mặt lý luận thì thấy có thể chế tạo được những máy ép thủy lực có
áp lực lớn vô hạn, nhưng cấu tạo của chúng rất phức tạp, trên thế giới hiện nay những máy rèn thủy lực lớn nhất chưa vượt qua 15000 tấn, máy rèn khuôn cũng chưa vượt qua 100000 tấn Hiện nay có mấy chục máy ép thủy lực trên 10000 tấn
nhưng chỉ có một vài nước có thể chế tạo ra chúng Ứng dụng của các thiết bị thủy lực, máy ép thủy lực có lẽ còn rất nhiều điều mà chúng ta cần phải tìm hiểu
và nghiên cứu sâu hơn nữa để tạo ra những loại máy móc với những công dụng hữu ích bất ngờ
Hiện nay, Ngành Gia công áp lực đang rất phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới bởi chính những sản phẩm của ngành công nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong sản xuất công nghiệp Để sản xuất ra những sản phẩm đó thiết bị không thể thiếu là: máy búa và máy ép thủy lực, máy
ép cơ khí…Máy ép thủy lực ngày càng được sử dụng rộng rãi với nhiều chủng loại và tính đa dạng về sản phẩm cũng như công năng của chúng như: dập thể tích, rèn tự do, ép chảy, ép đùn, uốn nắn kim loại, dập vuốt
Trang 136
(dập thủy tĩnh, thủy cơ),…Bên cạnh đó chúng ta cũng không thể không
kể đến những tính năng, ưu điểm cơ bản của máy ép thủy lực làm nó càng trở nên thông dụng, đó là:
· Làm việc êm, cho áp lưc ép cực đại theo lực ép danh nghĩa và có thể duy trì áp lực đó trong suốt quá trình công nghệ
· Điều khiển lực ép mềm dẻo, dễ dàng theo yêu cầu công
nghệ và theo kết cấu khuôn
· Kết cấu máy đơn giản, các bộ phận được sử dụng đều được tiêu chuẩn hoá cao nên giá hành hạ
· Có nhiều dạng điều khiển khác như: điều khiển thủ công, điều khiển PLC, điều khiển CNC Do vậy các thông số công nghệ được điều chỉnh chính xác, đảm bảo hiệu suất làm việc và công suất máy
2.2 Hệ thống cơ khí chấp hành
Các thành phần của hệ thống máy ép thủy lực bao gồm: máy ép bộ phận truyền dẫn, phần thu hồi chất lỏng, bộ phân phối, các van, các đường ống nối, cút nối để liên kết tất cả các phần tử kể trên thành một hệ thống nhất
Nguồn cung cấp chất lỏng áp suất cao cho máy ép quyết định dạng dẫn động của máy ép Hệ thồng cung cấp chất lỏng quyết định sơ đồ thủy lực và tác động của máy ép
Các loại dẫn động gồm dẫn động kiểu dùng bơm và dẫn động kiểu dùng bộ tăng áp Trong dạng dẫn động dùng bơm được phân làm 2 loại,
có dùng bình tích áp và không dùng bình tích áp Khi dùng loại dẫn động không có bình tích áp nguồn cung cấp chất lỏng áp suất cao cho máy ép chỉ thực hiện ở các bơm
Hệ thống dẫn động có bình tích áp là hệ thống chất lỏng công tác được cấp đồng thời từ bình tích áp và bơm ở hành trình công tắc
Đối với các hệ thống dẫn động kiểu tăng áp, chất lỏng được cấp cho máy
ép trong hành trình công tắc nhờ bộ tăng áp, chất lỏng công tác được cấp theo từng lượng nhất định Bộ tăng áp là bơm xilanh áp suất cao
Chất lỏng cũng là một đặc trưng của máy ép thủy lực, chúng quyết định đặc điểm kết cấu của máy ép Dầu khoáng là dạng chất lỏng công tác dụng trong máy ép thủy lực có áp lực không lớn Chúng có nhiều ưu
Trang 147
điểm như độ nhớt cao, hệ số biến dạng thể tích nhỏ, không gâ y ăn mòn chi tiết Nhưng dầu khoáng đắt, ngược lại dùng nhũ tương làm chất lỏng công tác có giá thành hạ thường dùng cho các máy ép thủy lực có lực danh nghĩa lớn, lượng chất lỏng lớn, tính kinh tế tốt
Khi dử dụng kiểu dẫn động kiểu bơm có bình tích áp, bình tích áp
có nhiệm vụ tích trữ năng lượng trong toàn bộ chu trình công tác của máy ép để thực hiện hành trình công tắc Nhờ đó làm đều tải cho bơm
và động cơ điện Nhược điểm của dẫn động kiểu bơm có bình tích áp là năng lượng tiêu hao phụ thuộc vào trở lực biến dạng của phôi và dung lượng của bình tích áp
Đối với loại dẫn động kiểu bơm không có bình tích áp thì công suất định mức của động cơ và bơm được xác định thông qua công suất lớn nhất do máy ép tạo ra Bộ dẫn động sẽ tiêu thụ năng l ượng tạo ra công có ích cho máy ép
Sự dẫn động từ bộ tăng áp dùng cho hơi hoặc khí nén, năng lượng tiêu thụ cũng không phụ thuộc vào trở lực biến dạng của phôi Nó có thể đảm bảo thực hiện được một số lớn các hành trình ngắn và lặp lại Dẫn động từ bộ tăng áp cơ khí sẽ đảm bảo tiêu thụ năng lượng không phụ thuộc vào công thực hiện, nó cũng đảm bảo các hành trình lặp lại và lượng biến dạng đồng đều của dầu đầu búa vào phôi kim loại
Cơ cấu chấp hành: xylanh có tác dụng chuyển thủy năng thành cơ năng tạo lực ép cho máy ép
2.3 Hệ thống điện điều khiển
Trạm nguồn bao gồm:
-Bơm nguồn: Cung cấp áp suất và lưu lượng cho toàn bộ hệ thống thủy lực -Động cơ điện là thiết bị chuyển năng lượng điện thành cơ năng
-Thùng dầu là thiết bị chứa lượng dầu cần thiết cho hệ thủy lực
-Thước đo dầu là thiết bị để xác định mức dầu trong thùng dầu
-Nắp thùng dầu để tránh bụi bẩn rơi vào thùng dầu
-Đế van là thiết bị để tổ hợp các đường ống thủy lực tạo đế lắp các van
-Đồng hồ đo áp: Dùng để đo áp suất tại đầu ra của bơm, từ đó xác định được điều kiện làm việc cụ thể của bơm trong từng trường hợp khác nhau
-Khóa lắp trước đồng hồ áp suất để bảo vệ đồng hồ khi không dùng đến
Trang 158
-Van an toàn: Để đảm bảo áp suất của hệ hệt hóng không vượt quá giá trị cho phép nhằm bảo vệ an toàn cho các thiết bị hệ thống không bị phá hỏng và hệ thống làm việc đúng yêu cầu của thiết kế
-Van phân phối 4/3: Van có 4 cửa nhưng hoạt động ở 3 vị trí, van này có đặc điểm
là ở chế độ chờ( không tải) tại vị trí van chưa hoạt động dầu sẽ qua van và hồi về
bể
-Van 1 chiều có điều khiển: lấy tín hiệu từ áp suất dầu trong hệ thống để hoạt động
- Cụm làm mát: Thiết bị làm mát dùng để làm mát dầu trong hệ thống, tránh trường hợp dầu quá nóng dẫn đến thay đổi tính chất của dầu dẫn đền dầu bị sôi → làm xuất hiện bọt khí trong dầu → hệ thống làm việc không ổn định ( có thể gây rung, giật…)
- Cụm lọc dầu: Cụm này gồm có bộ lọc đi kèm với van 1 chiều có đặt mức áp suất Dầu sẽ đi qua van 1 chiều khi bộ loại hoạt động quá mức cho phép
- Van tiết lưu: Điều chỉnh lưu lượng vào xylanh
→ Trạm nguồn là trạm chuyển hóa năng lượng cơ thành thủy năng cung cấp cho
hệ thống
Hình 3: Nguồn thủy lực
Trang 169
-Hệ thống khí nén thủy lực bao gồm các phần tử điện tử và cơ cấu chấp hành được nối với nhau thành hệ thống hoàn chỉnh để hoàn thành hoàn chỉnh những
yêu cầu đặt ra
- Tín hiệu đầu vào: Nhấn nút công tắc, công tắc hành trình
-Phần xử lí thông tin: xử lý tín hiệu nhận vào theo quy tắc logic xác định làm thay đổi phần tử điều khiển: Van, động cơ
- Cơ cầu chấp hành: thay đổi trạng thái của phần tử điều khiển là đại dương của động cơ điều khiển: xy lanh, động cơ khí nén dầu
- Phần công suất: Điện công suất nhỏ, dễ hoạt động, nhanh
+Khí: công suất vừa, quán tính tốc độ cao
+Thủy: công suất lớn -quán tính ít -ổn định tốc độ thấp
2.3.1 Ưu điểm
- Truyền được công suất cao và lực nhờ các cơ cấy đơn giản, hoạt động với độ tin cậy cao đòi hỏi ít chăm sóc và bảo dưỡng
- Điều chỉnh được vận tốc làm việc tinh và không cấp nhờ các thiết bị điều khiển
kỹ thuật số hóa, dễ thực hiện tự động hóa theo điều kiện hay chu trình có sẳn
- Kết cấu nhỏ gọn, kết nối giữa những chi tiết với nhau dể dàng bằng việc mối nối ống
- Dể biến chuyển động quay của động cơ thành chuyển động tịnh tiến của cơ cấu chấp hành
- Có khả năng giảm khối lượng và kích thước nhờ áp suất thủy lực cao
- Nhờ quán tính của bỏm và động cơ thủy lực, nhờ tính chịu nén của dầu nên có thể sử dụng vận tốc cao mà không sợ va đập mạnh như trường hợp cơ khí hay điện
- Dễ theo dõi và quan sát bằng áp kế, ngay cả những hệ mạch phức tạp
- Tự động hóa đơn giản nhờ những phần tử tiêu chuẩn hóa
- Dể dàng phòng quá tải nhờ van an toàn