1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bài tập học kì luật hình sự 2

8 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 18,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để được A cung cấp tiền bạc cho việc ăn chơi, B (16 tuổi 6 tháng) rủ K và N (đều 15 tuổi) tổ chức liên hoan. B lén bỏ thuốc ngủ vào cốc nước uống của K và N làm cho K, N ngủ say để A quan hệ tình dục với cả hai người này. Vụ việc sau đó bị phát hiện, A và B bị bắt.

Trang 1

BTHK Luật Hình Sự

Bài Tập Số 1:

Để được A cung cấp tiền bạc cho việc ăn chơi, B (16 tuổi 6 tháng) rủ K và N (đều

15 tuổi) tổ chức liên hoan B lén bỏ thuốc ngủ vào cốc nước uống của K và N làm cho K, N ngủ say để A quan hệ tình dục với cả hai người này Vụ việc sau đó bị phát hiện, A và B bị bắt

Câu hỏi:

1.Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A và B (2.5

điểm)

Tội danh của A là : Hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Theo ( khoản 1 điều 142 BLHS 2015) A lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là K và N ( 15 tuổi )

Theo điều 17 BLHS 2015 thì : Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm Trong trường hợp này, B là người giúp sức tạo điều kiện tinh thần, vật chất cho A thực hiện tội phạm

Theo nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự chung tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự chung về toàn bộ tội phạm đã xảy ra Nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm đồng phạm về tính chất liên kết hành vi cùng thực hiện một tội phạm, hành vi của mỗi người đồng phạm đều là nguyên nhân gây ra hậu quả tác hại chung Vì vậy Luật Hình sự quy định những người đồng phạm đều

bị truy tố, xét xử về một tội phạm mà họ đã thực hiện, đều bị áp dụng hình phạt của

Trang 2

tội phạm mà tất cả những người đồng phạm đã cùng thực hiện Cho nên tội danh của B là hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Theo khoản 2 điều 142 BLHS 2015 :

A phạm tội hiếp dâm đối với 2 người trở lên nên khung hình phạt của A và B có thể

sẽ bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm

2.Hình phạt nặng nhất mà B có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù ? (1,5 điểm )

Theo nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của người đồng phạm Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự chung: “Tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự chung về toàn bộ tội phạm đã gây ra Luật hình sự quy định những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về một tội phạm mà họ đã thực hiện, đếu áp dụng hình phạt của cùng một tội mà họ thực hiện Mọi đồng phạm đều bị áp dụng nguyên tắc chung về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và nguyên tắc xác định hình phạt.” cho nên A phạm tội gì thì B cũng phải chịu trách nhiệm hình

sự chung về toàn bộ tội phạm đã gây ra Theo khoản 3 điều 143 BLHS thì khung hình phạt cao nhất của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình khi :”

a) Có tổ chức;

b) Nhiều người hiếp một người;

c) Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn

thương cơ thể 61% trở lên;

Trang 3

đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

e) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

g) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.”

Theo đề bài thì B mới 16 tuổi 6 tháng nên áp dụng khoản 1 điều 101 BLHS

Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:

Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

Vì vậy,hình phạt nặng nhất mà B phải chịu là 18 năm tù

3.Vừa chấp hành xong hình phạt 3 năm tù về tội cướp giật tài sản (khoản 1 Điều

171) được 06 tháng mà A lại thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, thì trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? (1,5 điểm)

Theo khoản 2 điều 71 BHLS 2015 :

“2 Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 03 năm trong trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 05 năm;

Trang 4

b) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

c) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a khoản này thì thời hạn được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người

đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.”

Trong trường hợp này,vừa chấp hành xong hình phạt 3 năm tù về tội cướp giật tài

sản (khoản 1 Điều 171) được 06 tháng mà A lại thực hiện hành vi phạm tội nêu trên Nên A chưa được xóa án tích về tội cướp tài sản trước đó của mình

Theo điều 53 BLHS 2015: Tái phạm và Tái phạm nguy hiểm

1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý

2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố

ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý

A chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên

trường hợp phạm tội của A là tái phạm nguy hiểm

Trang 5

4 Khi A quan hệ tình dục với K, N thì B đã dùng điện thoại chụp ảnh Hai tháng

sau, A không chu cấp tiền bạc cho B nữa B dùng những bức ảnh “nhạy cảm” chụp được kèm theo yêu cầu A chuyển vào tài khoản cho B 20 triệu đồng nếu không muốn vụ việc bị phát hiện A chưa kịp chuyển tiền thì cả A và B bị bắt Hành vi này của B có phạm tội không? Tội gì? Tại sao? (1,5 điểm)

Hành vi của B có phạm tội B phạm tội cưỡng đoạt tài sản (khoản 1 điều 170

BLHS 2015)

Khách thể của tội cưỡng đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân và quyền nhân thân của con người;

Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản, bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và con người

Về mặt khách quan, thì tội cưỡng đoạt tài sản được thể hiện bởi hành vi: đe dọa

sẽ dùng vũ lực ; hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản Trong đó:

+ Đe dọa sẽ dùng vũ lực là hành vi thể hiện thái độ, cử chỉ, lời nói tạo cho người bị tấn công cảm giác sợ và tin rằng người phạm tội sẽ dùng bạo lực nếu không để cho lấy tài sản Giữa thời điểm đe dọa sẽ dùng vũ lực với thời điểm dùng

vũ lực có khoảng cách nhất định về thời gian Cho nên, người bị đe dọa có điều kiện suy nghĩ, cân nhắc để quyết định hành động Do vậy, sức mãnh liệt của hành

vi đe dọa sẽ dùng vũ lực chưa đến mức làm cho người bị đe dọa lâm vào tình trạng không thể chống cự được

+ Dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi sẽ làm một việc gây thiệt hại về tài sản, danh dự, uy tín nếu người bị uy

Trang 6

hiếp không thõa mãn yêu cầu chiếm đoạt của người phạm tội (như đe dọa hủy hoại tài sản, tố giác hành vi phạm pháp hoặc hành vi vi phạm đạo đức, loan tin về đời tư…của người bị đe dọa)

– Tội cưỡng đoạt tài sản là tội phạm cấu thành hình thức và được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện một trong các hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm Việc người thực hiện hành vi đe dọa sẽ dùng

vũ lực hoặc có hành vi khác uy hiếp tinh thần người khác có chiếm đoạt tài sản hay không không ảnh hưởng đến việc định tội danh

Chủ thể của tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại tất cả các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 170 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự chỉ là chủ đề của tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 170 BLHS

– Tội cưỡng đoạt tài sản được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội nhận thức rõ hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác do mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác và mong muốn hậu quả đó xảy ra

– Mục đích chiếm đoạt tài sản là yếu tố bắt buộc về mặt chủ quan của cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản

B đã 16 tuổi 6 tháng nên đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạn tài sản

Trang 7

B đã chụp ảnh khi A quan hệ tình dục với K,N và uy hiếp A chuyển vào tài

khoản cho B 20 triệu đồng nếu không muốn vụ việc bị phát hiện Mặc dù A chưa

kịp chuyển tiền thì cả A và B bị bắt nhưng tội cưỡng đoạt tài sản là tội phạm cấu thành hình thức và được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện một trong các hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm,nên B vẫn bị cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản ( khoản 1 điều 170 BLHS năm 2015)

Tài liệu tham khảo :

https://luatminhkhue.vn/nguyen-tac-xac-dinh-trach-nhiem-hinh-su-cua-nhung-nguoi-dong-pham -.aspx

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/trach-nhiem-hinh-su/Bo-luat-hinh-su-2015-296661.aspx

https://conganquangbinh.gov.vn/tim-hieu-noi-dung-dieu-170-bo-luat-hinh-su-nam-2015-ve-toi-cuong-doat-tai-san/

Ngày đăng: 25/04/2021, 00:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w