-Học với BGĐT sẽ rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của HS: câu chữ động, hình ảnh động, nguồn tư liệu đa dạng phong phú, được xem những đoạn phim phục vụ cho nội dung bài học, được [r]
Trang 1TRƯỜNG THCS TRẦN PHÚ
TỔ : NGOẠI NGỮ
SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN
Trang 2Biên soạn và báo cáo
Trang 4I-Đặt vấn đề:
-Tạo hứng thú cho học sinh qua đó giúp các em ngày càng yêu
thích bộ môn Tiếng Anh và tích cực tham gia vào bài học là một
trong những yêu cầu quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học CNTT đã thể hiện vai trò to lớn của mình trong việc giúp GV thiết kế các hoạt động cho BGĐT nhằm làm cho tiết học đa dạng, phong phú, hấp dẫn; giúp các em hình thành và phát triển kỹ năng
mà phương tiện dạy học truyền thống không thể đáp ứng được
-Tiếp tục hưởng ứng chủ đề năm học 2008-09 “Đẩy mạnh ứng
dụng CNTT trong đổi mới dạy và học”; xác định xu hướng ứng
dụng CNTT vào giảng dạy; đặc biệt là vào bài giảng điện tử là xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh trong trường phổ thông, nhằm hiện thực hoá chiến lược nâng cao trình độ tiếng Anh của HS; để đến năm 2020 Tiếng Anh trở thành thế mạnh của người Việt Nam
-Sau một năm thực hiện triến khai ứng dụng CNTT vào việc đổi mới phương pháp, xuất phát từ thực tế dạy học tại trường THCS Trần Phú nói chung và đối với tổ Ngoại Ngữ nói riêng, chúng tôi cảm
nhận những thuận lợi và khó khăn như sau:
Trang 51.2 Về phía HS:
-Học với BGĐT sẽ rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của HS: câu chữ động, hình ảnh động, nguồn tư liệu đa dạng phong phú, được xem những đoạn phim phục vụ cho nội dung bài học, được tham gia vào các trò chơi thông qua các hoạt động do các thầy cô thiết kế nhiều hơn, tạo khí thế sôi nổi và hứng thú
say mê trong các tiết học.
-Khi được học với bài giảng điện tử, các em học sinh sẽ có sự say mê, tích
cực hơn rất nhiều so với trước bởi vì các tiết học đều lồng ghép được rất nhiều hoạt động như Matching; What & Where; Wordsquare; Crossword; Pelmanism; Posters, Lucky number; Shark Attack; Hangman; … mà khi dùng bảng, nhiều hoạt động rất khó được thực hiện vì mất nhiều thời gian; mà nếu có tổ chức cũng kém phần hấp dẫn nên hiệu quả đạt được rất thấp.
-Thời gian để HS thực hành, luyện tập sẽ nhiều hơn Điều này rất phù hợp với yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp đối với bộ môn Tiếng Anh hiện nay
và cũng phù hợp với xu thế giáo dục hiện đại: đó là tăng cường khả năng thực hành rèn luyện kỹ năng; người học thực sự phải là chủ thể của quá trình học tập; thầy cô giáo chỉ là người tổ chức gợi ý nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của HS.
-HS có khả năng nắm bài được tốt hơn nhờ hỗ trợ của máy tính như hình ảnh,
âm thanh, phim,…Bên cạnh đó, BGĐT còn có một ưu thế nổi trội đó là nhờ tính liên kết, chia sẻ nên các em có thể xem lại bài giảng của thầy cô được đưa lên các website của GV hoặc của trường
aaaa
Trang 61.3.Về phía GV:
-Thuận lợi phải kể đến đầu tiên là chúng tôi có sẵn trình độ Tiếng Anh nên đa số GV tổ ngoại ngữ có kỹ năng sử dụng máy vi tính tương đối tốt; cho nên việc sử dụng máy tính tương đối thuận lợi Nhờ vậy, chúng tôi có thể khám phá tìm hiểu và sử dụng những chương trình và phần mềm dạy học mới được tốt hơn.
-Đảm bảo độ chính xác của nội dung bài học: tránh được nhược điểm ghi từ bị sai hoặc thiếu, giúp bài học trở nên khoa học hơn đảm bảo yêu cầu tối thiểu của một tiết dạy tốt.
-Tiết kiệm được thời gian thực tế trên lớp do không phải ghi bài
do tất cả nội dung và đồ dùng dạy học hỗ trợ; tất cả chỉ thông qua thao tác nhấp chuột; đặc biệt là với những loại bài như Writing;
Languague Focus.
-Chủ động trong việc khai thác và sử dụng nguồn đồ dùng, tư liệu phục vụ nội dung của tiết học; đặc biệt là các files âm thanh, video clips; các đoạn phim, tranh ảnh,… đảm bảo tiết dạy luôn có
ĐDDH; mạnh dạn thiết kế nhiều hoạt động cho tiết học được hấp dẫn, phong phú.
Trang 72/Khó khăn:
2.1.Về khách quan:
-So với giảng dạy bằng bảng đen truyền thống, khi giảng dạy
bằng BGĐT chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào hạ tầng cơ sở vật chất như nguồn điện, trang thiết bị phục vụ dạy học bằng BGĐT thuộc loại công nghệ cao nên dễ hỏng hóc hoặc gặp sự cố mà
bản thân GV không thể lường trước; HS khi di chuyển đến phòng học bằng BGĐT thường gây ồn làm ảnh hưởng đến các lớp khác Bên cạnh đó, công nghệ luôn phát triển không ngừng, những gì là hiện đại của hôm nay sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu vào ngày mai nên bản thân GV cũng phải không ngừng nâng cấp máy móc
và trình độ của mình để không bị lạc hậu, lỗi thời; việc này đòi hỏi
ở GV thời gian, tiền bạc và cả sự đam mê Số lượng GV dạy
bằng BGĐT ở tổ và ở trường ngày càng nhiều nên điều kiện trang thiết bị hiện có chưa đáp ứng nhu cầu của thực tế Việc soạn
giảng bằng BGĐT do còn mới mẻ nên cũng còn nảy sinh không ít trở ngại trong quá trình dạy học.
Trang 82.2.Về chủ quan:
-Việc soạn giảng bằng BGĐT đòi hỏi sự chuẩn bị công phu hơn,
tư liệu đa dạng hơn nên GV phải chuẩn bị kỹ càng hơn; khai thác
từ nhiều nguồn hơn để khi trình chiếu không bị động; nói chung soạn bằng BGĐT mất rất nhiều thời gian và đòi hỏi máy tính phải nối mạng Internet để khai thác hết tính năng của công nghệ
Ngoài ra, một số phần mềm hay files flash đòi hỏi máy phải có
phần mềm chuyên dụng hỗ trợ; mà điều này buộc GV phải có một trình độ tin học ở một mức độ nhất định mới có khả năng sử dụng
và khai thác công nghệ được hiệu quả
-GV trong tổ hiện dạy học trái môn nhiều cũng làm hao tổn thời gian và sự đầu tư cho môn chính bị hạn chế Bên cạnh đó còn rất nhiều công việc khác như hồ sơ sổ sách, hoạt động ngoài gìơ lên lớp, hội họp,…cũng làm cho quĩ thời gian của GV bị eo hẹp
-Còn một vài GV trong tổ chưa có kỹ năng tin học tốt nên gặp
nhiều khó khăn trở ngại trong việc khai thác, sử dụng công nghệ thông tin.
Trang 9II-Giải quyết vấn đề:
1/Những vấn đề chung.
-Dựa theo đặc điểm chương trình môn Tiếng Anh ở bậc
THCS, chúng ta thấy có những điểm chung được phân theo
2 khối lớp: Khối 6-7 và Khối 8-9 Ở khối 6-7, các kỹ năng
được bố trí lồng vào nhau, đan xen nhưng thiên về nghe-nói; trong khi đó ở khối 8-9, các kỹ năng được dạy tách biệt theo từng tiết học: các kỹ năng được bố trí đồng đều nhau trong mỗi đơn vị bài học Ngoài ra, đặc điểm tâm lý của HS khối 6-
7 cũng khác hơn so với khối 8-9: sôi nổi hơn, hồn nhiên hơn; khối 8-9 thiên về suy nghĩ nhiều hơn, “người lớn” hơn Nắm được đặc điểm này sẽ giúp GV thiết kế các hoạt động phù hợp với trình độ và tâm lý HS cũng như kiểu bài dạy của
mình, như vậy hiệu quả đạt được sẽ cao hơn.
Trang 10-Đối với kiểu bài dạy mẫu câu: GV thường dạy theo tiến trình: Warm up – Teach vocabulary – Presentation – Practice – Production; đối với kiểu bài dạy kỹ năng, tiến trình dạy học theo các bước: Warm up – Teach
vocabulary – Pre – While – Post Do đó trong mỗi tiết, GV nên bố trí
khoảng 3,4 hoạt động; như vậy sẽ đảm bảo sự phong phú nhưng vẫn gói gọn trong thời lượng cho phép Nếu ít, sẽ dễ thấy màn chiếu chỉ đơn thuần thay cho bảng phụ; nếu nhiều hơn sẽ không đủ thời gian và dễ bị loãng phần nội dung trọng tâm
-Phần củng cố thường ở cuối mỗi tiết học đây là thời điểm HS có cảm giác mệt nên chúng tôi sử dụng câu hỏi trắc nghiệm xoáy vào phần kiến thức trọng tâm giúp phản hồi mức độ hiểu bài của HS để GV rút kinh
nghiệm cho những tiết học sau, lớp sau
-GV nên có những qui định khi phân nhóm, đội để các nhóm, đội thi đua với nhau khi tham gia các hoạt động tạo sự sôi nổi, khí thế học tập, giúp giảm đi sự mệt mỏi ở các em Cần có qui ước nội dung ghi bài; thiết kế màn hình không đơn điệu quá mà cũng không màu mè quá; nên chú
trọng vào nội dung chính Cỡ chữ nên từ 28-32; riêng phần tiêu đề có thể từ 36-40 Số lượng câu chữ trong mỗi slide cũng nên theo nguyên tắc này
Trang 112/Cách thiết kế một số hoạt động thường dùng.
2.1.Matching.
-Hoạt động này thường dùng ở giai đoạn kiểm tra nghĩa của từ hoạc củng cố bài; nội dung thường là nối số với chữ số; cách đọc viết ngày tháng,… ; về hình thức có thể dùng từ, câu hoặc hình ảnh để nối Thường thì GV cho HS nối bằng mũi tên nhưng cũng có thể nối bằng màu giống nhau Số lượng từ, câu dùng để nối nên khoảng 5-7
-Cách thực hiện:
Chọn biểu tượng textbox (kích thước 1/3 slide) ở thanh công cụ bên dưới; gõ nội dung vào; enter gõ tiếp từ, câu cho đến hết theo thứ tự 1,2,3,…
Chọn textbox vừa tạo; nhấp chọn lệnh copy; dán sang phía bên phải slide Gõ nội dung vào theo thứ tự A, B, C,…
Nhấp chọn mũi tên và vẽ theo vị trí thích hợp Có thể điều chỉnh kích thước, màu và kiểu mũi tên cho hợp lý
Nhấp chọn mũi tên Chọn lệnh Copy và Paste
Tạo hiệu ứng cho mũi tên: Chọn lệnh Slide showCustom Animation
Add effect Chọn kiểu xuất hiện, nhấn mạnh hoặc biến mất Sau đó nhấn shift + F5 để xem hiệu ứng
Trang 122.2 What & Where
-Hoạt động này thường dùng ở giai đoạn kiểm tra từ
nhằm luyện trí nhớ cho HS, số lượng khoảng 5-7 từ.
hợp Nhấn Shift+F5 để xem hiệu ứng.
Trang 132.2.Lucky Number.
-Được sử dụng ở nhiều giai đoạn khác nhau; đặc biệt là trả lời câu hỏi Số lượng khoảng 8-10 số (luôn nhiều hơn số câu hỏi đã cho)
-Cách thực hiện:
Chọn hộp thoại textbox, hình oval hoặc chữ nhật; hoặc một hình tuỳ ý; gõ
số 1 Chọn số 1 rồi chọn màu, kích cỡ cho phù hợp Chọn đối tượng,
copypaste cho đủ số lượng (1-8 hoặc 10) bố trí theo 2 hàng ngang hoặc hình tròn.
Gõ nội dung câu hỏi và câu trả lời cho đủ số lượng câu hỏi (mỗi slide gồm
1 câu hỏi và 1 câu trả lời); sau đó tạo thêm 1 slide là LN.
Tạo hiệu ứng: Chọn số Nhấp chuột phải Hyperlink Insert Hyperlink
Place in this document Slide Title OK Chọn hình Add
EffectEmphasisFill color Nhấp chọn hiệu ứng, nhấp chột phải
Timing Trigger Chọn Trigger Start effect on click of OK Nhấn shift+F5 để xem.
Trang 14-Dùng ở giai đoạn Khởi động hay Kiểm tra từ; áp dụng cho động từ quá khứ, danh từ số it-nhiều; đại từ, hình ảnh,…; số lượng khoảng 5-6 cặp.
-Cách thực hiện:
Chọn hình oval hoặc chữ nhật; chọn hộp thoại textbox vào trong hình; gõ từ hoặc chèn hình ảnh vào.
Tạo hiệu ứng: Chọn hiệu ứng xuất hiện và biến mất cho
từ hoặc hình ảnh Nhấp chọn hiệu ứng, nhấp chuột phải
Timing Trigger Chọn trigger Start effect on click
of OK.
Cần qui định thời gian Dùng công cụ Visual Basic để
chèn đồng hồ đếm ngược và bảng điểm cho các đội
chơi.
Trang 152.4.Rub out & Remember.
-Dùng ở giai đoạn kiểm tra từ Số lượng khoảng 6-8 từ.
-Cách thực hiện:
Chèn khoảng 6-8 hình Trong mỗi hình chèn 2 textbox;
gõ từ tiếng Anh và nghĩa tiếng Việt vào 2 textbox này.
Tạo hiệu ứng: Chọn hiệu ứng biến mất và xuất hiện như các bước ở trên Chọn hiệu ứng trigger Nhấn shift+F5
để xem.
Trang 16Gõ câu hỏi đề dẫn Dùng textbox để gõ đáp án.
Dùng AutoShape trước đáp án gõ A, B, C hoặc D.
Dùng hiệu ứng Trigger để khi HS chọn đúng thì đổi màu
đỏ, nếu chọn sai sẽ thành màu đen
Trang 173/Những lưu ý khi thiết kế các hoạt động.
-Phải có yếu tố thẩm mỹ: tính thẩm mỹ của các từ, câu hoặc hình ảnh sẽ có tác dụng tích cực tới ý thức của HS.
-Phải có tính sư phạm: rõ ràng, dễ nhìn; tác động tích cực tới tâm lý các em Hình ảnh chèn vào không được gây phản cảm; kiểu chữ dễ đọc, tránh rườm rà.
-Phải đảm bảo tính chính xác, khoa học về câu chữ;
chuyển tải được nội dung chính của bài học.
-Tiến hành phân nhóm, đội cho lớp ngay từ đầu năm học đảm bảo sự đồng đều của các nhóm.
-Phổ biến qui định rõ ràng cho mỗi hoạt động, đảm bảo
sự công bằng giữa các đội.
Trang 18III-Kết luận:
-Rõ ràng, nếu biết khai thác CNTT thì việc giảng dạy bằng BGĐT sẽ
mang lại những hiệu quả to lớn mà phương tiện dạy học truyền thống không thể đáp ứng được; vậy nên dù điều kiện còn khó khăn, thời gian còn eo hẹp thì GV phải nhận thức rằng đây sẽ là xu thế dạy học tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp hiện nay
-GAĐT có tính năng chia sẻ, liên kết, điều chỉnh; cho nên chúng ta có thể trao đổi bài giảng với nhau nhằm học hỏi rút kinh nghiệm và tiết
kiệm bớt thời gian công sức Chúng ta hãy đầu tư hôm nay để có thể thu hoạch vào những năm sau này
-Bước đầu bao giờ cũng gian khó, không tránh khỏi những vấp ngã; tuy nhiên “thất bại là mẹ thành công” nên chúng ta cần tăng cường sử dụng CNTT vào BGĐT để tăng hiệu quả dạy học; làm cho HS tích cực hơn; trường học trở nên thân thiện hơn Các thầy cô chưa rành về CNTT có thể tự tìm tài liệu nghiên cứu và nhờ tổ CM góp ý thêm
-Cho dù dạy học sử dụng phương tiện truyền thống hay hiện đại cũng cần chú ý hiệu quả chúng mang lại cho các em Chính hiệu quả thiết
thực từ những bài học sử dụng BGĐT là sự khẳng định chắc chắn rằng tất cả chúng ta ở đây phải tích cực khai thác CNTT; đưa CNTT vào bài dạy và tổ chức các hoạt động nhằm mang lại hiệu quả cao nhất
Trang 19-Dù đã đầu tư rất nhiều để nghiên cứu và viết chuyên
đề này, song do ít nhiều mang tính chủ quan, nên không thể đầy đủ Rất mong các đồng nghiệp đóng góp bổ
sung Xin chân thành cảm ơn
Nếu cần xem lại chuyên đề này, mời các thầy cô truy
cập website: violet.vn/chacun83
Trang 20Rub Out & Remember
Slow chậm
Quick nhanh
Safe
an toàn
Good giỏi, tốt
Skillful
điêu luyện
Careful cẩn thận
5
Trang 21PELMANISM