Phân tích các đặc điểm phản ánh sự tương đồng và khác biệt trong quy định của Luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự quốc tế về tội phạm buôn bán người.
Trang 1Bài tập số 1 :
1 Trình bày các quan điểm về khái niệm của Luật Hình sự quốc tế
2 Phân tích các đặc điểm phản ánh sự tương đồng và khác biệt trong quy định của Luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự quốc tế về tội phạm buôn bán người
PHẦN MỞ
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm là vấn đề mang tính toàn cầu trong tình hình tội phạm đang diễn biến rất phức tạp và có khuynh hướng gia tăng Việt Nam đã rất nỗ lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật , đặc biệt là trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự,… và bên cạnh đó đồng thời tích cực tham gia ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế trong lĩnh vực phòng chống tội phạm Nhận thấy tầm quan trọng của Luật Hình sự quốc tế đối với cả Việt Nam và các nước trên thế giới với mong muốn hiểu rõ hơn
về Luật Hình sự quốc tế cũng như so sánh trong một tội phạm cụ thể điển hình là
buôn bán người Em xin phép được nghiên cứu vấn đề sau “Bài tập số 1 : 1.Trình bày các quan điểm về khái niệm của Luật Hình sự quốc tế
2.Phân tích các đặc điểm phản ánh sự tương đồng và khác biệt trong quy định của Luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự quốc tế về tội phạm buôn bán người.”
Trang 2GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Trình bày các quan điểm về khái niệm của Luật Hình sự quốc tế (3 điểm)
Trong hệ thống pháp luật quốc tế, luật hình sự quốc tế là tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp lý quốc tế điều chỉnh các vấn đề pháp lý trong hoạt động hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm của cộng đồng quốc tế
Trong khoa học luật quốc tế và trong thực tiễn, thuật ngữ “Luật hình sự quốc tế” đã được sử dụng phổ biến từ lâu, tuy nhiên, khái niệm này không được hiểu thống nhất trong giới khoa học nghiên cứu về luật hình sự quốc tế Vấn đề lí luận còn chưa
đi đến thống nhất là vấn đề phạm vi điều chỉnh cũng như tên gọi phù hợp cho ngành luật này Trong thực tiễn khoa học luật quốc tế đã tồn tại dứoi nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ Luật hình sự quốc tế, các thuật ngữ này được đặt dựa vào phạm vi điều chỉnh cũng như quan điểm của từng nhà khoa học về nó Sự khác biệt cơ bản và quan trọng nhất giữa các nhà khoa học luật quốc tế là nội dung vấn đề mà ngành luật này điều chỉnh Tuy có nhữung điểm khác biệt khác nhau về quan điểm, tuy nhiên nhữung nhà nghiên cứu đều thống nhất, nhất trí về sự hình thành và phát triển của luật hình sự quốc tế, đây là thực tế không thể chối bỏ được
Luật Hình sự quốc tế là một vấn đề hết sức phức tạp, cũng chính vì điều đó
mà Luật Hình sự quốc tế, hiện nay giới nghiên cứu trong và ngoài nước vẫn có nhiều quan điểm khác nhau Có thể kể đến những quan điểm nổi bật sau đây
Quan điểm đầu tiên, theo GS.TSKH Đào Trí Úc cho rằng :“ Quá trình ra đời, định hình và phát triển của Luật Hình sự quốc tế cho phép chúng ta xác định rằng Luật Hình sự quốc tế là một lĩnh vực công pháp quốc tế với những nguyên tắc, những quy phạm được sử dụng để được điều chỉnh quá trình hợp tác của các quốc gia, các
tổ chức quốc tế trong nỗ lực đấu tranh chống tội phạm Là một lĩnh vực thuộc công pháp quốc tế Luật hình sự quốc tế có đầy đủ các đặc trưng của công pháp quốc tế; đối tượng điều chỉnh là các quan hệ quốc tế, tức là các quan hệ với sự tham gia của các quốc gia và các tổ chức quốc tế, chủ thể của các quan hệ là các quốc gia và các
tổ chức quốc tế, nguồn của luật là các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế”, như vậy với định nghĩ nêu trên, GS.TSKH Đào Trí Úc cũng nêu rõ quan điểm của mình, Luật Hình sự quốc tế không phải là một ngành độc lập trong hệ thống pháp luật quốc
tế, mà chỉ là một bộ phận, một lĩnh vực của luật quốc tế, mà chính xác hơn là một lĩnh vực trong ngành luật công pháp quốc tế, và ngành luật công pháp quốc tế này lại là ngành độc lập trong cơ cấu của hệ thống pháp luật quốc gia Điều này có nghĩa
là ngành luật quốc tế (công pháp quốc tế) không phải là một hệ thống pháp luật quốc
tế mà cũng chỉ là một ngành độc lậo và có mối quan hệ biện chứng với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật quốc gia
Quan điểm thứ hai, trái ngược với quan điểm của GS.TSKH Đào Trí Úc, theo GS.TSKH Lê Cảm định nghĩa thì “ Luật Hình sự quốc tế là một ngành độc lập trong
Trang 3hệ thống pháp luật quốc tế, bao gồm các nguyên tắc và các quy phạm xác định những hành vi nào đặc biệt nguy hiểm cho các lợi ích chung của cộng đồng quốc tế là những tội phạm quốc tế (hoặc những tội phạm có tính chất quốc tế), cũng như các biện pháp hình phạt và các chế định pháp lý khác có thể được áp dụng đối với chủ thể có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, đồng thời điều chỉnh những vấn đề hợp pháp của các quốc gia- thành viên Liên hợp quốc trong việc đấu tranh (bao gồm cả phòng và chống) những tội phạm này.” Định nghĩa này xác định phạm vi điều chỉnh cơ bản của Luật hình sự quốc tế là những nguyên tắc, quy phạm điều chỉnh những tội phạm nguy hiểm nhất xâm phạm đến lợi ích chung của nhân loạiu và các chế tài có thể áp dụng đối với các chủ thể thực hiện tội phạm Ngoài ra, trong định nghĩa còn chỉ rõ tác giả đã coi Luật hình sự quốc tế là một ngành độc lập trong hệ thống pháp luật quốc tế, có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng
Cùng với quan điểm trên của GS.TSKH Lê Cảm coi Luật hình sự quốc tế là một một ngành luật thuộc hệ thống pháp luật quốc tế, TS Trịnh Tiến việt đã đưa ra định nghĩa như sau: “ Luật hình sự quốc tế là mọt ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế ghi nhận những hành vi đặc biệt nguy hiểm cho các lợi ích chung cộng đồng quốc tế là các tội phạm quốc tế (và tội phạm có tính chất quốc tế - tội phạm xuyên quốc gia), đồng thời quy định hệ thống hình phạt và các chế định pháp lý có thể được áp dụng đối với những chủ thể vi phạm, cũng như tổng hợp những nguyên tắc xác định quyền và nghĩa vụ của các thành viên cộng đồng quốc tế, nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia trong việc xử lý và phòng chống các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đã nêu”
Theo số đông, cũng như thực tiễn thì có thể thấy, quan niệm Luật hình sự quốc
tế là một ngành luật là có tính hợp lý, có thể lý giải, để trở thành một ngành luật thì Luật hình sự quốc tế cũng như các ngành luật khác đều có đối tượng điều chirnh, phương pháp điều chỉnh riêng, dựa trên nguyên tắc xác định và có mối liên hệ với các ngành khác trong hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
Từ những quan điểm trên, có thể đưa ra được quan điểm sau “ Luật hình sự quốc tế là một ngành luật trong pháp luật quốc tế, bao gồm các nguyên tắc và các quy phạm xác định những hành bi nào đặc biệt nguy hiểm cho lợi ích của cộng đồng quốc tế (hoặc những tội phạm có tính chất quốc tế), đồng thời quy định các loại hình phạt và các chế tài pháp lý khác áp dụng với chủ thể có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, cũng như các trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án và vấn đề hợp tác giữa các quốc gia trong quá trình đấu tranh, phòng ngừa tội phạm này.”
Trang 42 Phân tích các đặc điểm phản ánh sự tương đồng và khác biệt trong quy định của Luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự quốc tế về tội phạm buôn bán người (4 điểm)
2.1 Pháp luật hình sự quốc tế về tội buôn bán người
Văn bản pháp luật quốc tế về tội buôn bán người bao gồm Công ước của Liên
hợp quốc về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia Việt Nam
đã tham gia Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia
và Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia Theo quy định của Công ước, thì quốc gia thành viên của Công ước có trách nhiệm ban hành pháp luật và các biện pháp cần thiết khác để coi các hành vi được đề cập trong Công ước là tội phạm, trong đó có hành vi “buôn bán người” Khái niệm “buôn bán người” được quy định tại Điều 3 Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ
em, bổ sung Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm xuyên quốc gia như sau:
“a) “Buôn bán người” có nghĩa là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp
và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực hay bằng hình thức ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, hay lạm dụng quyền lực hoặc
vị thế dễ tổn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người đang kiểm soát những người khác Hành vi bóc lột sẽ bao gồm, ít nhất, việc bóc lột mại dâm những người khác hay hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay phục vụ cưỡng bức nô lệ hay những hình thức tương tự như nô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơ thể;
b) Sự chấp thuận của một nạn nhân của việc buôn bán người đối với sự bóc lột có chủ ý được nêu trong khoản (a) là không thích đáng nếu bất kỳ cách thức nào được nêu trong khoản (a) đã được sử dụng;
c) Việc mua, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là “buôn bán người” ngay cả khi việc này được thực hiện không cần đến bất kỳ hình thức nào được nói trong khoản (a) điều này;
d) “Trẻ em” có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi.”
Theo đó, để xác định có tội phạm mua bán người hay không thì phải dựa vào ba dấu hiệu nhận biết, đó là hành vi, phương thức, mục đích :
- Hành vi thể hiện bằng một trong năm hình thức : Chuyển giao, tiếp nhận, tuyển
mộ, vận chuyển và chứa chấp người bất hợp pháp
Trang 5- Phương thức có tám loại như : Dùng vũ lực, đe doạ, ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng, quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương, cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với những người khác
- mục đích thuộc một trong bốn loại là : Bóc lột vì mục đích mại dâm hoặc bóc lột tình dục, các hình thức lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, lấy các bộ phận cơ thể
Nếu trẻ em bị chuyển giao Tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp bất hợp pháp để nhằm một trong các mục đích bóc lột tình dục, mại dâm, lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự hoặc để lấy các bộ phận cơ thể thì cho dù bằng bất kỳ phương thức, thủ đoạn nào cũng đều là tội phạm mua bán người Trẻ em ở đây được hiểu là những người dưới 18 tuổi Riêng hành vi buôn bán trẻ em không đòi hỏi phải có bất kỳ phương thức nào như đã nêu mà chỉ cần chứng minh được hai yêu tố hành vi và mục đích bóc lột
2.2 Pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm buôn bán người
Nhận thức được tầm quan trọng trong việc nội luật hoá casc văn bản pháp lý quốc tế trong xu thế hội nhập hiện nay, trong Bộ luật Hình sự 2015 đã minh chững
rõ sự hội nhập của Việt Nam với các văn bản pháp luật hình sự quốc tế về tội buôn bán người bằng các quy định tội phạm về mua bán người tại điều 150, tội mua bán người dưới 16 tuổi tại điều 151 và tội cưỡng bức lao động tại điều 297
Tại điều 150 BLHS 2015, quy định này có thể hiểu là nhữung hành vi nguy hiểm cho xã hội cho người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một các cố ý với phương thức dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác
để thực hiện một trong hai loại hành vi là chuyển giao hoặc tiếp nhận người nhằm giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác hoặc bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác Như vậy, tội phạm mua bán người tại điều 150 quy định kaf di người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý thuộc một trong các trường hợp sau :
- Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng bất kì thủ đoạn nào chuyển giao hoặc tiếp nhận người khác để nhằm giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất
- Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng bất kì thủ đoạn nào chuyển giao hoặc tiếp nhận người khác để nhằm bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác
- Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng bất kì thủ đoạn nào tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấo người khác để sau đó sẽ chuyển giao hoặc tiếp nhận người khác nhằm giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất
- Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng bất cứ thủ đoạn nào tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để sau đó sẽ chuyển giao hoặc tiếp nhận người
Trang 6khác nhằm bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác
Tại điều 151 BLHS 2015 quy định tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi cũng
có các trường hợp tương tự như điều 150, chỉ khác tội phạm thuộc điều luật này quy định tuổi của người bị mua bán dưới 16 tuổi
Tội cưỡng bức lao động quy định tại điều 297 BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý thuộc trường hợp:
- Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác với hành vi ép buộc người khác phải lao động gây hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của nhữung người bị ép buộc này
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cưỡng bức lao động hoặc đã bị kết án
về tội cưỡng bức lao động, chưa được xoá án tích mà tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác với hành vi ép buộc người khác phải lao động (trường hợp này không cần có hậu quả xảy ra)
2.3 Sự tương đồng trong quy định của Luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự quốc tế về tội phạm buôn bán người
Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đều thống nhất bằng cách ban hành các quy định nhằm ngăn chặn và chống việc buôn bán người trong đó đặc biệt chú
ý đến phụ nữ và trẻ em; bảo vệ và hỗ trợ các nạn nhân của việc buôn bán này, cùng với việc tôn trọng đầy đủ các quyền con người của họ và thúc đẩy sự hợp tác quốc
tế để đạt được mục tiêu Cụ thể, ta có thể nhìn thấy một số điểm giống nhau đến từng nội dung quy định như sau:
- Về phương thức thể hiện: có việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác
- Về hành vi: đều đề cập đến sự chuyển giao hoặc tiếp nhận và tuyển mộ, vận
chuyển, chứa chấp người khác
- Về mục đích: để giao, nhận tiền, tài sản, ,hoặc lễ vật chất khác hay để bóc lột tình dục cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác
- Có sự phân biệt giữa hành vi mua bán người đã trưởng thành và trẻ em về tinh thần này nhầm để chú ý bảo vệ trẻ em và trừng trị nặng hơn để đối với tội phạm mua bán trẻ em
- Có một số trường hợp cho dù có sự đồng thuận của nạn nhân thì vẫn bị coi là tội phạm
- Đối với việc ép buộc người khác phải lao động sẽ bị coi là tội phạm nếu sử dụng thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác như lừa dối, dụ dỗ…
Trang 72.4 Khác biệt trong quy định của Luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự quốc tế
về tội phạm buôn bán người
Mặc dù có những thằng điểm giống nhau như trên tuy nhiên tùy vào phong tục tập quán điều kiện kinh tế cũng như xã hội của quốc gia đó đang phát triển như thế nào nên phải có một sự khác biệt có thể kể đến như sau:
- Về xác định độ tuổi: mặc dù Ở cà pháp luật hình sự quốc tế và pháp luật Việt Nam đều có chung một ý chí thống nhất đó là xử lý nghiêm khắc hơn đối với hành vi phạm tội mua bán người khi đối tượng mua bán là trẻ em tuy nhiên pháp luật quốc
tế thì xác định trẻ là người chưa đủ 18 tuổi còn theo BLHS 2015 không quy định cụ thể trẻ em là bao nhiêu tuổi nhưng luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em của Việt Nam thì
đã quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi Sự chưa từng thích này đã hạn chế việc bảo vệ nạn nhân và các đối tượng từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi khi mà các đối tượng này không được pháp luật bảo vệ đặc biệt hơn
- Quy định về người thực hành tội phạm Theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam, thì chỉ người thực hiện hành vi mua bán người (hành vi chuyển giao theo quy định của Công ước) được gọi là người thực hành, bao gồm người bán (người chuyển giao) và người mua người (người tiếp nhận) Còn những người thực hiện các hành
vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp để chuyển giao mà Công ước quốc tế coi là người thực hành thì pháp luật Việt Nam chỉ coi là người giúp sức Ngoài ra, theo cơ chế đồng phạm quy định tại Điều 20 Bộ luật hình sự Việt Nam thì ngoài người thực hành, người giúp sức còn có người tổ chức và người xúi giục cũng bị truy tố về Tội mua bán người, Tội mua bán trẻ em nếu việc phạm tội có tổ chức Hệ quả của sự không tương thích này là theo quy định của Bộ luật hình sự nước ta, thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự được người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức (người tuyển
mộ, người vận chuyển, người chứa chấp) khi truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi mua hoặc bán người (người chuyển giao hoặc người tiếp nhận)
- Khác biệt về một số dấu hiệu cơ bản của tội phạm cưỡng bức lao động: pháp luật quốc tế xác định một số dấu hiệu cơ bản của tội cưỡng bức lao động như: Việc người
bị hại bị hạn chế đi lại, hoặc bị cô lập, bị bạn được về thân thể và tình dục, bị đe dọa trực tiếp hoặc gián tiếp, bị giữ toàn bộ giấy tờ tùy thân và tài sản có giá trị, bị chậm
và không trả lương, bị lệ thuộc vì nợ nần, phải làm ngoài giờ, không đảm bảo các điều kiện tối thiểu về an toàn lao động, chỗ ở và ăn uống, nhưng các dấu hiệu này không được mô tả trong cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS 2015 và chỉ khi có một trong ba tính tiếp được nêu tại khoản 1 điều 297, thì người có hành vi cưỡng bức lao động mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự là thể hiện sự chưa thống nhất giữa pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế
- Quy định về mục đích bóc lột của tội phạm Mục đích phạm tội mua bán người theo quy định của Bộ luật hình sự nước ta chưa bao hàm hết mục đích phạm tội buôn bán người theo quy định của Công ước quốc tế Cụ thể, pháp luật Việt Nam mới chỉ quy
Trang 8định mục đích để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân, để đưa ra nước ngoài, để sử dụng vào mục đích mại dâm hoặc mục đích vô nhân đạo được quy định là các tình tiết định khung hình phạt Còn các mục đích khác như: bóc lột tình dục; cưỡng bức lao động hoặc cung cấp dịch vụ, bao gồm lao động để trả nợ hoặc gán nợ; lao động nô
lệ hoặc các hình thức tương tự; phục dịch như nô lệ, bao gồm nô lệ tình dục; lấy tạng; sử dụng cho hoạt động trái pháp luật hoặc phạm tội; cưỡng bức hôn nhân hoặc biến thành nô lệ thông qua hôn nhân; cưỡng bức hoặc cưỡng ép đi ăn xin; bắt tham gia vào xung đột vũ trang v.v… thì chưa được quy định
PHẦN KẾT
Luật Hình sự quốc tế là một phần quan trọng trong công cuộc giữ gìn trật tự, bảo vệ an ninh của các quốc gia Sự chặt chẽ giữa pháp luật quốc tế với quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam là điều cần thiết đảm bảo đặc biệt là đối với tội mua bán người là loại tội phạm xuyên quốc gia phổ biến từ trước tới nay, nó đe dọa đến các quyền con người quyền công dân được tất cả các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ Việt Nam đã tham gia ký kết các điều ước quốc tế đa phương tiện liên quan đến tội phạm buôn bán người nên cần phù hợp với cả pháp luật quốc tế
và cả đối với đất nước ta Trên đây là phần giải quyết vấn đề của em đối với “Bài tập số 1” Do kinh nghiệm còn ít khso tránh khỏi nhưng sai xót mong thầy/cô góp ý
để bài viết được hoàn thiện hơn Cảm ơn thầy/cô đã theo dõi bài viết
Trang 9MỤC LỤC
PHẦN MỞ 1 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
1 Trình bày các quan điểm về khái niệm của Luật Hình sự quốc tế (3 điểm) 2
2 Phân tích các đặc điểm phản ánh sự tương đồng và khác biệt trong quy định của Luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự quốc tế về tội phạm buôn bán người (4 điểm) 4
2.1 Pháp luật hình sự quốc tế về tội buôn bán người 4 2.2 Pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm buôn bán người 5 2.3 Sự tương đồng trong quy định của Luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự quốc tế về tội phạm buôn bán người 6 2.4 Khác biệt trong quy định của Luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình
sự quốc tế về tội phạm buôn bán người 7
PHẦN KẾT 8 DANH MỤC THAM KHẢO 10
Trang 10DANH MỤC THAM KHẢO
1 So sánh tội phạm mua bán người theo quy định của pháp luật quốc tế với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, Tạp chí khoa học kiểm soát, Số 01-2017
2 Sửa đổi, bổ sung tội mua bán người và tội mua bán trẻ em theo hướng nội
luật hóa công ước quốc về tội buôn bán người, TS Mai Bộ - Phó Chánh
án Tòa án quân sự trung ương
3 Đặc điểm của Luật hình sự quốc tế nhìn từ góc độ so sánh với Luật hình
sự quốc gia / Nguyễn Thị Bình, Nghề Luật.Học viện Tư pháp,Số 1/2015
4 Bàn về việc xử lý tội phạm mua bán người trong giai đoạn hiện
nay, Nguyễn Bá Linh
5 Xu hướng quốc tế hóa của luật hình sự Việt Nam và vấn đề đặt ra cho lập pháp hình sự, TS Đào Lệ Thu, ĐH Luật Hà Nội, 14/09/2020
6 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017
7 Những điều cần biết về Luạt Hình sự quốc tế, Luật Việt, 23/05/2019