1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Co so hai duong hoc

160 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung cuốn sách gồm 7 chương, chương 1 và 2 khái quát vềhình thái học và địa hình đáy của đại dương và biển, chương 3 và 4 trình bày những tính chất vật lý của nước đại dương và các q

Trang 1

PHẠM VĂN HUẤN

CƠ SỞ HẢI DƯƠNG HỌC

NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ

THUẬT HÀ NỘI - 1991

Trang 2

MỤC LỤC

Lờigiớithiệu 3

Chương 1 HÌNH THÁI HỌC ĐẠI DƯƠNGTHẾGIỚI 3

1.1 Phân bố lục địa và nước trênTráiĐất 3

1.2 Đại dương Thế giới vàcácbiển 4

Chương 2 ĐÁYĐẠIDƯƠNG 6

2.1 Địa hình đáy đại dương vàcácbiển 6

2.2 Những dạng địa hình lớn của đáyđạidương 7

2.3 Trầm tích đáyđạidương 10

Chương 3 NHỮNG ĐẶC TRƯNG VẬT LÝ CỦANƯỚCBIỂN 12

3.1 Những đặc điểm của các tính chất lý học của nướctinhkhiết 12

3.2 Thành phần hóa học và độ muối củanướcbiển 12

3.3 Những đặc trưng vật lý củanướcbiển 13

3.4 Những đặc trưng âm học của nước biển và sự truyền âm trongnướcbiển 20

3.5 Những đặc trưng quang học của nước biển và sự truyền bức xạ ánh sáng trongbiển 25

Chương 4 CHẾ ĐỘ NHIỆT MUỐI VÀ NHỮNG QUÁ TRÌNH XÁO TRỘNTRONGĐẠIDƯƠNG 32

4.1 Cân bằng nhiệt củađạidương 32

4.2 Phân bố không gian của nhiệt độ nước trongđạidương 33

4.3 Biến động thời gian của nhiệt độnướcbiển 35

4.4 Phân bố độ muối trongđạidương 36

4.5 Khái niệm về các khối nước ở đại dương và những phương pháp phân tích cáckhốinước 37

4.6 Sự xáo trộn củanướcbiển 41

4.7 Độ ổn định của các lớp nước biển theo phươngthẳngđứng 44

Chương 5.SÓNGBIỂN 46

5.1 Những khái niệm chung vềsóngbiển 46

5.2 Cơ sở lý thuyết cổ điển vềsóngbiển 49

5.3 Sự phát triển củasónggió 56

5.4 Sự đa dạng của sóng gió Các hàm phân bố các yếu tốsónggió 58

5.5 Sóngvenbờ 60

Chương 6.THỦYTRIỀU 62

6.1 Mực nước đại dương và biến độngcủanó 62

6.2 Dao động thủy triều của mựcnướcbiển 63

6.3 Cơ sở lý thuyếtthủytriều 66

6.4 Khái niệm về các phương pháp phân tích điều hòa và dự tínhthủytriều 75

6.5 Khái niệm về các phương pháp tính phân bố thủy triều trongkhônggian 77

Chương 7 DÒNGCHẢYBIỂN 78

7.1 Khái niệm chung và phân loạidòngchảy 78

7.2 Lý thuyết dòng chảy trôicủaEkman 78

7.3 Lý thuyết dòng chảymật độ 82

7.4 Lý thuyết dòng chảy građien trong biểnđồngnhất 84

7.5 Hoàn lưuvenbờ 86

7.6 Dòng triều 87

7.7 Sơ đồ hoàn lưu ngang tổng quát của nước Đại dươngThếgiới 88

Tài liệu thamkhảochính 91

Trang 3

Lời giới thiệu

Cuốn “Cơ sở hải dương học” được biên soạn với mục đích

làmtài liệu tham khảo cho những người làm công tác khí tượng –

thủy văn Nó cũng đáp ứng được yêu cầu học tập của sinh viên

ngành khí tượng – thủy văn.

Nội dung cuốn sách gồm 7 chương, chương 1 và 2 khái quát

vềhình thái học và địa hình đáy của đại dương và biển, chương 3 và

4 trình bày những tính chất vật lý của nước đại dương và các quá

trình liên quaqn với chúng.

Phần động lực nước đại dương được trình bày trong

cácchương 5, 6, 7 Ở đây chú trọng đến bản chất và cơ chế của các

quá trình động lực cơ bản trong biển như sóng, thủy triều và dòng

chảy, còn các phương pháp tính toán chúng chỉ dừng lại ở những

khái niệm và cơ sở của phươngpháp.

Sử dụng tài liệu này kết hợp với cuốn “Bài tập hải dương

họcvật lý” (Trường đại học tổng hợp Hà Nội, 1984), bạn đọc có thể

nắm được những nội dung cơ bản về hải dương học.

Bộ môn Hải dương học Trường đại học tổng hợp Hà Nội

Chương 1 HÌNH THÁI HỌC ĐẠI DƯƠNG THẾ GIỚI 1.1 Phân bố lục địa và nước trên TráiĐất

Hành tinh của chúng ta gồm một số lớp vỏ bao bọc Lớp vỏ khíđược gọi là khí quyển, lớp vỏ nước – thủy quyển, lớp vỏ rắn – thạchquyển Toàn bộ sự sống tồn tại trong các lớp vỏ đó gọi là sinh quyển

Hệ thống vật chất phức tập gồm tất cả những quyển đó gọi là vỏ địa

Một nhân tố quan trọng hình thành nên những đặc điểm của tựnhiên trên hành tính chúng ta là sự phân bố không đồng đều của lụcđịa và đại dương trên mặt địa cầu Ở nam bán cầu, trong khoảng 35đến 70ovĩ nam (V.N) đại dương chiếm 95,5 % mặt Trái Đất, phần lụcđịa chỉ là 4,5 % Ở bắc bán cầu, trong đới giữa 40 và 70ovĩ bắc (V.B)lục địa chiếm ưu thế hơn đại dương, ở đây lục địa chiếm tới 56 %diện tích Nhưng nhìn chung, cả ở bắc bán cầu và nam bán cầu đạidương đều chiếm ưu thế Ở bắc bán cầu tỷ lệ diện tích giữa đại dương

và lục địa tuần tự là 60,7 % và 39,3 %, ở nam bán cầu là 80,9 % và19,1 %

Trang 4

Chính do sự phân bố rất không đều của mặt nước đại dươngtrênđịacầumàngườitacóthểchianóthànhbáncầulụcđịavàbán

Trang 5

cầu đại dương: bán cầu lục địa với 53 % diện tích là lục địa Á, Âu,

Phi, Bắc Mỹ và phần lớn Nam Mỹ với cực ở khoảng nước Pháp, bán

cầu đại dương với 90,5 % mặt phủ nước, cực ở Niudilơn và chỉ chứa

châu lục Úc, một phần nhỏ Nam Mỹ và châu lục Nam Cực

1.2 Đạidương Thế giới và cácbiển

Đại dương Thế giới là tập hợp những thủy vực đại dương và

biển của Trái Đất với đặc điểm quan trọng nhất là trải rộng liên tục

Tuy nhiên sự tồn tại của các lục địa rải rác trên mặt Đại dương Thế

giới không thể không làm cho những phần nào đó của Đại dương Thế

giới khác với những phần khác về một số phương diện và cho phép

người ta phân chia thành các đại dương, các biển và những bộ phận

nhỏ hơn nữa Khi phân chia những bộ phận của đại dương có tính đến

những dấu hiệu như địa hình đáy, sự hiện diện của các quần đảo, các

hệ thống hải lưu độc lập, hoàn lưu khí quyển, phân bố nhiệt muối, các

điều kiện sinh học

Hệ thống phân chia các bộ phận của Đại dương Thế giới do các

nhà khoa học lớn đề xướng đã thay đổi nhiều lần trong lịch sử Đến

nay, trong sách báo các khoa học địa lý chấp nhận hệ thống phân chia

thành Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Bắc Băng

Dương với một số đặc trưng hình thái như bảng 1 Ở bắc bán cầu,

thường biên giới tự nhiên của các đại dương là bờ các lục địa Chỉ ở

nam bán cầu, tại vòng nước Nam Cực các đại dương tự do ăn thông

sang nhau, không có biên giới tự nhiên Các biên giới của các đại

dương được vẽ theo các mũi đất phía nam của ba lục địa: kinh tuyến

20oĐ đi qua mũi Hảo Vọng được coi là biên giới giữa Đại TâyDương và Ấn Độ Dương Kinh tuyến 147oĐ đi qua đảo Taxman ởphía nam châu Úc là biên giới của Ấn Độ Dương và Thái BìnhDương Biên giới của Thái Bình Dương và Đại Tây Dương là đườngngắn nhất nối mũi Hoocnơ với quần đảo NamSetlen

Bảng 1 Những đặc trưng hình thái của các đại dương

Các đại dương

Diện tích Thể tích,

106km3

Độ sâu trung bình, m

Thái Bình Dương 178,7 49,5 707,1 3957 Đại Tây Dương 91,6 25,4 330,1 3602

Đại dương Thế giới 361,3 100 1338,5 3704

Những hiện tượng và quá trình diễn ra trong Đại dương Thếgiới là thống nhất về chất tại tất cả các vùng của nó, điều này cũng lại

là một nét nhấn mạnh tính thống nhất của Đại dương Thế giới.Nhưng về lượng, những quá trình và hiện tượng này biến đổi từ địađiểm này đến địa điểm kia tùy thuộc vị trí địa lý và khí hậu củanhững bộ phận của đại dương, ảnh hưởng của lục địa kế cận và mức

độ xâm nhập của các dòng lục địa cũng như địa hình đáy và mức độngăn cách của các bộ phận đại dương với vùng khơi của nó Vì vậyngười ta tiếp tục phân chia các đại dương thành những bộ phận chitiết hơnnữa

Các biển và các vịnh biển là những khu vực ngoại vi của thủy

4

Trang 6

vực đại dương, thường nằm ở vùng thềm lục địa, sườn lục địa hoặc ở

các lòng chảo giữa lục địa và giữa các đảo

Tùy thuộc các dấu hiệu hình thái và thủy văn, các biển được

chia thành các biển ven, biển bên trong lục địa và giữa các lục địa,

biển giữa các đảo v.v Chúng là những khu vực tách biệt ít nhiều với

thủy vực đại dương, có những nét khác với phần còn lại của đại

dương Những nét khác biệt đó có thể là cấu tạo của vỏ Trái Đất ở

đáy, thành phần và các tính chất của nước Độ muối của các biển

thường khác với độ muối trung bình của Đại dương Thế giới Chính

là ở một số biển mà người ta quan trắc thấy những giá trị cực đại

hoặc cực tiểu của độ muối Biển cũng khác với đại dương về chế độ

nhiệt, tính chất triều, các điều kiện sinh thái, hệ thống hải lưu, tất cả

những nét đặc thù là do sự tương tác của biển với đất liền kếcận

Các biển venthường nằm ở phần kéo dài dưới nước của lục

địa, một số ít trường hợp ở đới chuyển tiếp Các biển ven phân cách

khỏi đại dương bởi các chuỗi đảo, các bán đảo hay những ngưỡng

ngầm Thí dụ về các biển ven là các biển Baren, Karơ, Lapchevô,

Đông Xibêri, Chucôt (nằm ở phần kéo dài của lục địa ở dưới nước

Bắc Băng Dương), Bêrinh, Ôkhôt, Nhật Bản (nằm ở đới chuyển tiếp,

phân cách với Thái Bình Dương bằng các chuỗi đảo), Hoàng Hải,

Đông Trung Hoa (các biển thềm lục địa Thái BìnhDương)

Các biển giữa các lục địathường tập trung vào những đới hoạt

động kiến tạo với các hiện tượng địa chấn và các quá trình núi lửa

Thủy vực biển tiếp giáp với các lục địa ở mọi phía; các eo biển tươngđối hẹp nối biển với đại dương; mức độ trao đổi nước tương đối thấp

Trang 7

Địa Trung Hải, Hồng Hải, vịnh Mếch Xích là những biển điển hình

loại này Nhóm biển nằm giữa các lục địa Á và Úc cũng thuộc loại

những biển giữa các lục địa Độ sâu của các biển này thường rất lớn

(Địa Trung Hải tới 4500 m, biển Băngđa tới 7400 m, vịnh Mếch

Xích tới 3600 m )

Các biển bên trong lục địacó đường viền bờ thuộc cùng một

lục địa: biển Ban Tích, Bạch Hải, Adốp, vịnh Hấtxơn v.v Đây

thường là những biển nông nằm gọn trong những vùng thềm lục địa,

điều kiện tự nhiên gắn chặt với tự nhiên của đất liền bao quanh

Các biển giữa các đảođược bao quanh bằng chuỗi đảo hay

vòng cung đảo tương đối kín Thuộc vào số các biển này gồm có các

biển nằm giữa các lục địa Á và Úc như biển Sulavexi, Băngđa, Sulu

và một số biển độc lập như biển Philippin, Phitgi, Xôlômôn v.v

Ngoài ra, trong sách báo địa lý và hải dương học còn tồn tại

những tên gọi biển nằm ở phần khơi đại dương không có biên rõ rệt

Biển Sagaxô độc đáo thuộc loại đó, nó “không có bờ”, nước rất

trong với nhiệt độ cao và những loại động thực vật đặc biệt Có

những biển không liên quan với đại dương như Caxpi và Aran, là

những biển kín, cũng còn gọi là những biển hồ Nước của những

biển này rất khác với nước đại dương

Một số biển thực sự, nhưng theo tập quán lịch sử và hàng hải

lại được gọi là vịnh như vịnh Hấtxơn, vịnh Mếch Xích, vịnh Pêch

Xích , trong khi đó một số vùng với những điều kiện địa lý của một

vịnh biển thì lại được gọi làbiển

Trang 8

Vịnhlà phần đại dương hoặc biển ăn sâu vào đất liền Người

tathường vẽ biên giới vịnh một cách quy ước bằng đường thẳng nối

các mũi cửa vào hay theo một đường đẳng sâu nào đó, vì các vịnh

bao giờ cũng ăn thông với biển hay đại dương qua phần tỏa rộng của

mình Tùy thuộc nguồn gốc, cấu tạo bờ và hình dáng mà người ta gọi

một số vịnh không lớn là những phiôt, vũng, lagun hayliman

Nhiều biển và vịnh được nối với đại dương hoặc nối với nhau

bằng cáceo biển– thường đó là những phần hẹp của biển hay đại

dương nằm giữa hai khu vực đất liền

Cũng như biển, vịnh biển và eo biển có riêng chế độ thủy văn

của mình, đặc biệt là hệ thống dòng chảy

Khi gọi tên các biển và các bộ phận của chúng người ta thường

dùng các tên địa lý Chỉ ở các vùng cực tên gọi thường liên quan với

tên của những người phát hiện ra chúng

Các câu hỏi để tự kiểm tra

1) Sự phân chia Đại dương Thế giới thành những bộ phận Biên

giới của các đạidương

Độ sâu, m Phàn trăm diện tích Đại dương Thế giới

Trang 9

Những dẫn liệu về tỷ lệ phần trăm mà các cấp độ sâu chiếm sovới toàn bộ diện tích Đại dương Thế giới (hay dùng đường cong caođồ) có thể cho phép tính toán một số đặc trưng hình thái của Đại

Trang 10

dương Thế giới Thể tích của Đại dương Thế giới sẽ bằng 1338,5

triệuk m3.N ế u m ậ t đ ộ t r u n g b ì n h c ó k ể đ ộ n é n c ủ a n ư ớ c l à 1 , 0 3 7 Độ lặp lại của các cấp độ sâu ở các đại dương khác nhau cũng

giống nhau và giống như độ lặp lại của các cấp độ sâu ở toàn Đạig/cm3, thì khối lượng nước đại dương sẽ là

1,3881015

% khối lượng Trái Đất

tấn bằng 0,24 dương Thế giới, điều này phần nào nói lên nguyên nhân hình thành

chung của các đại dương

Nếu san bằng bề mặt Trái Đất, thì đại dương sẽ bao phủ địa cầubằng một màng nước đều khắp dày 2700 m, thành thử nếu ta hìnhdung Trái Đất là quả cầu đường kính 25 cm, thì màng nước đạidương chỉ là lớp nhựa sơn ngoài dày 0,1 mm Từ đây suy ra rằngnhững kích thước của những chuyển động theo phương ngang vàphương thẳng đứng trong đại dương, mà sau này chúng ta sẽ xemxét,

Hình 1 Hình nghiêng bao quát của đáy đại dương (theo Leônchep O.) Phần rìa

lục địa dưới nước: 1 – thềm lục địa; 2 – sườn lục địa; 3 – chân lục địa Đới

chuyểntiếp: 4 – lòng chảo biển ven; 5 – vòng cung đảo; 6 – rãnh sâu Phần lòng

đáy đại dương: 7 – bình nguyên sâu; 8 – dãy núi giữa đại dương; 9 – địa hình đồi

dưới sâu

Hình 2 Đường cong cao đồ của Trái Đất (theo Leônchep O.)

Trang 11

sẽ khác nhau như thế nào

2.2 Những dạng địa hình lớn của đáy đạidương

Theo những quan điểm hiện đại, có thể phân chia những cấu

trúc vĩ mô của đáy đại dương sâu: a) rìa lục địa dưới nước; b) đới

chuyển tiếp; c) những dãy núi giữa đại dương; d) lòng chảo đại

dương

Rìa lục địa dưới nướcchiếm 22,6 % đáy Đại dương Thế giới,

viền quanh tất cả các lục địa, gồm những dạng địa hình lớn sau

đây:

1) Thềm lục địalà phần kéo dài trực tiếp của nền lục địa Nơi

đây đáy đại dương hạ thấp dần đều tới độ sâu 200m,có khi sâu hơn,

tới 2000 m như ở biển Ôkhôt, và độ dốc nhỏ, dưới 2o Địa hình đáy

thường khá phẳng, nhưng nhiều khi phát hiện thấy các dạng cổ

phản ánh địa hình nền đất liền kế cận Bề rộng lớn nhất quan sát

vùngthềmlụcđịaBắcBăngDương;ởbờchâuÂu,cácbờđôngcủa

Trang 12

châu Mỹ, bờ đông nam Nam Mỹ của Đại Tây Dương; bờ đông châu

Á và vùng quần đảo Dônđơ của Thái Bình Dương Trong khi đó ở

vùng bờ tây của Bắc Mỹ và Nam Mỹ, ở bờ châu Phi thềm lục địa rất

hẹp

Thời gian gần đây các thềm lục địa Đại dương Thế giới có giá

trị kinh tế to lớn, là nơi khai thác dầu khí, phát hiện những mỏ phốt

phát, quặng kim loại và tập trung phần lớn sản lượng đánh bắt cá và

hải sản Đồng thời thềm lục địa liên quan trực tiếp với hàng hải và

mọi hoạt động kỹ thuật khác của các dân tộc

Từ phía biển và đại dương, thềm lục địa giới hạn bởi sườn lục

địa

2) Sườn lục địalà phần dưới nước của lục địa, nằm ở độ sâu từ

khoảng 200 m đến khoảng 2500 m Nơi đây đáy biển có độ dốc lớn

hơn ở thềm lục địa, tới 4-7o, đôi khi tới 13-14o, thậm chí 20-40o, tức

gần như độ dốc của sườn núi trên đất liền, do đó tại đây tính chất của

sóng biển, hướng dòng chảy biển thayđổi

Sườn lục địa có thể thể hiện dưới dạng một dải nghiêng đều

hoặc có tính chất từng bậc, làm thành những bình nguyên dưới nước

Nét tiêu biểu của các sườn lục địa – tồn tại các hẻm (canhiôn), đó là

những rãnh sâu cắt xuyên sườn lục địa, dạng chữ V, sâu tới 1-2 km,

dài vài trăm km, bề ngoài giống các hẻm lớn trên lục địa Đỉnh của

các canhiôn thường phân nhánh và rất giống các thung lũng sông

Các canhiôn cắt xuyên sườn lục địa, ăn sâu vào thềm lục địa, có khi

vào cả đới bờ củabiển

3) Tiếp theo sườn lục địa làchân lục địa– miền bình nguyên

khổng lồ gồm các đá trầm tích terigen dày tới 3,5 km, mặt nghiêng,dạng sóng thoải, bề rộng kể từ biên với sườn lục địa ra tới vùng nướcsâu của đại dương bằng khoảng vài trămkm

Thềm lục địa, sườn lục địa và chân lục địa có cấu tạo địa chấtgiống nhau, cả ba làm thành rìa ngập nước của lục địa Vỏ Trái Đấtnơi đây thuộc loại lục địa, tức gồm lớp tương đối xốp đá trầm tích,sau đến lớp granít cứng và sau nữa là lớp bazan cứng hơn Dưới nữa

là mantia gồm đá cứng hơn nữa Ở chân lục địa, độ dày của vỏ lục địavào khoang 5-10 km Nơi đây bắt đầu chuyển tiếp sang loại vỏ đạidương không cógranít

4) Tính chất chuyển tiếp phức tạp được quan sát thấy

ởđớichuyển tiếpvới 8,5 % tổng diện tích, rất tiêu biểu ở tây Thái Bình

Dương với các dạng địa hình như sau: kế cận với rìa lục địa dưới

nước làlòng chảo biển ven(Nhật Bản, Ôkhôt, Bêrinh) – sau đó là miền nâng cao nhưngg hẹp làm thànhvòng cung đảo– cuối cúng làrãnh nước sâu Ở các vùng khác, đới chuyển tiếp có thể chỉ gồm

một hoặc hai dạng địa hình trong số trên, chẳng hạn ở đông TháiBình Dương chỉ đặc trưng bằng một dạng địa hình rãnh sâu, còn cácdãy núi trẻ trên đất liền (như dãy Ăngđơ) đóng vai vòng cungđảo.Địa hình của các lòng chảo biển ven có dáng của các đồng bằngvới những bậc gờ, những núi dưới nước, những thung lũng và những

gò đất dưới nước

Vòng cung đảo là miền nâng định hướng thành tuyến dài bị

Trang 13

chia cắt bởi những đứt gãy ngang với hoạt động núi lửa và động đất

mãnh liệt

Các rãnh sâu bao giờ cũng đi kèm với các vùng cung đảo hoặc

với các dãy núi uốn nếp trẻ ở dải bờ lục địa và là những miền giáng

sâu và hẹp với sườn dốc đứng Đây là những khe nứt dưới nước trong

vỏ Trái Đất Chính tại những rãnh sâu này người ta đã đo được những

độ sâu lớn nhất của Đại dương Thế giới Đến nay đã phát hiện gần

hai chục rãnh sâu, tất cả đều có bề rộng không quá 150 km, thiết diện

ngang bất đối xứng, mạn cung đảo hay đất liền dốc hơn mạn đại

dương, đáy khá phẳng phủ bằng nhiều trầm tích, sâu hơn 6 km Rãnh

sâu Marian được coi là sâu nhất Đại dương Thế giới kể từ năm 1951

do tàu “Chellenge II” phát hiện bằng đo sâu với máy hồi âm và kiểm

tra bằng dây đo sâu với mẫu bùn ở độ sâu 10863 m trên đoạn đường

từ Guam tới Nhật Bản, về sau này theo tài liệu của tàu “Vitiazơ” năm

1957, cực đại độ sâu ở đây là 11034m

Cuối cùng, 68 % diện tích còn lại của toàn diện tích Đại dương

Thế giới thuộc về đáy đại dương thực sự Kết quả khảo sát mới nhất

đã cho thấy rằng vùng rộng lớn này cũng có cấu tạo hết sức phức tạp,

có thể còn hơn cả địa hình lục địa Yếu tố địa hình lớn nhất của lòng

đáy đại dương là những lòng chảo đại dương với độ sâu từ 4-4,5 km

đến 6-7 km được ngăn cách với nhau bởi những dãy núi dưới nước và

những miền nâng, những cao nguyên dưới nước, gọi là thành lòng

chảo đại dương Những dãy núi dưới nước liên kết với nhau thành

chuỗi dài gần 80 nghìn km qua tất cả các đại dương được gọi là

những dãy núi giữa đại dương và là một dạng địa hình lớn độclập

5) Các lòng chảo đại dươnglà những vùng rộng lớn, thấp, khá

phẳng và đồng điệu với độ dốc nhỏ hơn 0,001 nghiêng về phía tâmđại dương Dạng bình nguyên nay ngự trị ở vùng đáy Bắc BăngDương, Đại Tây Dương và một phần Ấn Độ Dương Tuy nhiên, ở

Thái Bình Dương lại tiêu biểu dạngđịa hình đồi dưới sâu: tại đáy các

lòng chảo đại dương phát hiện thấy những miền nâng độc lập địnhhướng khác nhau, cao từ vài chục đến vài trăm mét, đường kính từvài trăm đến vài km Những đồi này cấu tạo từ đá núi lửa và có lớpphủ trầm tích Một số đồi có dạng núi cao nhô lên khỏi mặt đạidương hoặc tạo thànhđảo

6) Những miền nâng dưới nước,những cao nguyên

đạidươnglà những dạng địa hình dương cỡ lớn ở đáy đại dương,

không liên quan tới những dãy núi giữa đại dương Đó là những caonguyên rộng lớn nhưng không cao lắm (vài trăm mét) hoặc nhữngdãy núi định hướng theo những hướng khác nhau cũng như nhữngngọn núi dưới nước đứng riêng lẻ và những gaiôt – núi đỉnh phẳngdạng chóp cụt Đỉnh của những dạng địa hình này ở thấp dưới mặtnước đại dương đến 2 km Chúng có thể là những đảo núi lửa đã bịchìm hay những đảo atôn san hô chìm (ở nhiệtđới)

7) Những dãy núi giữa đại dương Như trên đã nói, các dãy

núi giữa đại dương là một hệ thống thống nhất bao trùm toàn bộ hànhtinh chúng ta với độ trải dài phi thường và chiếm một diện tích sosánh được với diện tích các đại lục Độ cao đạt tới 2-3 km trên mựcđáyđạidương.Trênbìnhđồhìnhdángcủahệthốngnàynhưsau:ởnam bán cầu tại đới giữa 40ovà 60oV.N tồn tại một vòng gần kín

9

Trang 14

những khối nâng dưới nước bao quanh châu lục Nam Cực Ở gần đảo

Tristanđa-Cunhia tỏa nhánh về phía bắc là hệ thống núi đồ sộ nhất –

dãy núi giữa đại dương Đại Tây Dương, trải dài theo trục của Đại

Tây Dương để nối liền với dãy Aixơlen Ian Maien và dãy Mônơ ở

quần đảo Spitbơgen Nhánh thứ hai tỏa nhánh từ chỗ lòngc h ả o

Hình 3 Hình nghiêng ngang của dãy núi giữa đại dương Đại Tây

Dương dọc vĩ tuyến 23oV.B: 1 – thung lũng thớ chẻ; 2 – những dãy

núi thớ chẻ; 3 – cao nguyên chia cắt; 4 – đới sườn núi vừa và núi thấp

Hình nghiêng ngang của các dãy núi giữa đại dương có dạng

sóng với bề rộng hàng trăm, có khi hàng nghìn km Ở giữa, dọc theo

trục dãy là thung lũng thớ chẻ (rift) Hai bên của chung lũng là hai dãynúi thớ chẻ, rồi đến các dải cao nguyên chia cắt Tất cả các yếutố

Trang 15

này làm thành đới thớ chẻ nằm giữa hai đới núi cao vừa và núi thấp ở

hai bên sườn (hình 3)

2.3 Trầm tích đáy đạidương

Đáy đại dương và biển là nơi liên tục tích tụ vật liệu lắng

đọng Trầm tích đáy, tùy thuộc nguồn gốc xuất sinh, có thểgồm

nhữngnhóm: 1) trầm tích terigen hình thành từ những sản phẩm lục

địa do phá hủy cơ học và hóa học đất đá bờ, các dòng sông mang ra

rồi được dòng chảy mang đi rất xa, có thể tới những nơi xa nhất ở

đại dương, những sản phẩm nhiều cỡ hạt do băng hà mang vào đại

dương, bụi do gió cuốn đi cùng những bào tử phấn hoa của thực vật

cổ; 2) trầm tích biogen gồm những mảnh vụn thực và động vật sống

ở đáy biển, chủ yếu vùng nước nông ven bờ Ở những nơi sâu chỉ

gồm những mảnh động thực vật sống ở gần mặt, trong lớp nước có

ánh sáng Phần lớn xác phù du sinh vật hòa tan trong khi chìm, chỉ

phần khó hòa tan chứa canxi và silic mới đạt đáy biển sâu Theo tên

gọi của các cơ thể mà những mảnh vụn của chúng có nhiều trong

bùn, người ta phân chia thành bùn glôbigerina, pterôpôđa, kôcôlita,

rađiolaria và điatômê; 3) trầm tích vulcanôgen gồm những tàn than,

bụi và những sản phẩm phún xuất khi núi lửa hoạt động, những

phần tử mài mòn bờ đảo núi lửa v.v ; 4) trầm tích hêmôgn là

những thành tạo khoáng vật xuất hiện do bão hòa các chất tan,

những kết hạch sắt – mangan ở đáy biển; 5) trầm tích côsmôgen

được gặp ít hơn, dưới dạng những viên bi nhỏ chứa sắt từ, silicat từ

vũ trụ đi vàobiển

Kích thước hạtcủa các trầm tích đáy biển biến đổi trong một

Trang 16

dải rộng: đá tảng (đường kính lớn hơn 20 mm), đá dăm (20-2 mm),

cát hạt lớn (2-0,5 mm), cát hạt vừa (0,5-0,2 mm), cát hạt mịn (0,2-0,1

mm), cát bụi (0,1-0,02 mm), á sét (0,02-0,002 mm) và sét (nhỏ hơn

0,002 mm) tùy thuộc vào tốc độ chìm lắng của các hạt và tốc độ di

chuyển các hạt theo đáy biển do hải lưu gây nên

Ở vùng thềm và sườn lục địa cỡ hạt biến đổi mạnh từ nơi này

đến nơi khác, phụ thuộc vào độ sâu biển, tốc độ hải lưu, độ lớn triều,

tính chất đá bờ v.v Ở đáy sâu của đại dương các hạt đều đặn hơn

Cũng có thể nói như vậy về thành phần hóa học của trầm tích đáy:

cáctrầmtíchnướcnôngthìđadạnghơn,còncáctrầmtíchnướcsâu

– đồng nhất hơn

Những khảo sát hiện đại cho thấy rằng tốc độ lắng đọng trầm

tích ở đáy đại dương có thể biến đổi trong khoảng từ 1 đến 170 cm

một ngàn năm Ở các biển thì tốc độ ấy có thể lớn hơn rất nhiều Độ

dày trung bình của lớp trầm tích ở đáy đại dương bằng khoảng 2-4

km, một số nơi dày hơn, như vịnh Mếch Xích lớp trầm tích dày tới 15

km, biển Catxpi tới 25 km

Quy luật chung của sự phân bố bùn đáy là ở gần bờ tích tụ

những trầm tích hạt lớn như đá tảng, cuội, cát, cát bùn, lẫn với vỏ trai

ốc, xa bờ xuất hiện bùn cát và cuối cùng là bùn biển thẳm Điều kiện

vận chuyển trầm tích ở đáy, sự xói mòn, tốc độ lắng đọng, tính chất

triều lưu và sóng, nhất là địa hình đáy có thể tạo nên những phân bố

dị thường: vật liệu mảnh hạt và đều đặn tập trung ở gần đới bờ, còn

trầm tích hạt thô bị mang đi xa ra rìa bên ngoài của thềm lụcđịa

Các câu hỏi để tự kiểm tra

1) Mô tả hình nghiêng tổng quát của đáy đạidương

2) Kể tên và mô tả những dạng địa hình lớn của đáy đạidương.3) Kể tên và nguồn gốc xuất sinh của các nhóm trầm tích đáy đạidương

Trang 17

Chương 3 NHỮNG ĐẶC TRƯNG VẬT LÝ CỦA NƯỚC BIỂN

3.1 Những đặc điểm của các tính chất lý học của nước tinhkhiết

Trong nước biển, ngoài một ít tạp chất, chứa 96,5 % nước tinh

khiết Thành phần hóa học của nước tinh khiết gồm oxy và hyđro

Đặc điểm cấu tạo phân tử nước là góc giữa hai nguyên tử hyđro

không phải bằng 180omà chỉ bằng khoảng 110o Thành thử các lực

nội phân tử nước không bù trừ hoàn toàn, mỗi phân tử nước làm

thành một cái “lưỡng cực” với mô men điện lớn Những lực lưỡng

cực này thể hiện trước hết ở chỗ một số phân tử nước tụ tập thành

một hệ phức tạp Trong nước tạo ra những tổ hợp khác nhau gồm từ 2

đến 8 phân tử riêng biệt Nồng độ tương đối của các tổ hợp phân tử sẽ

biến đổi tùy thuộc vào nhiệt độ nước Những tính chất vật lý nói

chung sẽ biến đổi theo hướng phù hợp với những hợp chất cao phân

tửnày

Chính hiện tượng hình thành các tổ hợp những phân tử và biến

động nồng độ tương đối của chúng có liên quan tới chi phí năng

lượng để tái tạo và phân tán các phần tử, xây dựng lại mạng lưới tinh

thể đã làm cho nước có một loạt những tính chất dịthường

3.2 Thành phần hóa học và độ muối của nướcbiển

Như đã nói, trong nước biển ngoài nước tinh khiết còn có các

muối hòa tan, các chất khí khí quyển hòa tan, các hợp chất hữu cơ và

các hạt lơ lửng không hòa tan

Nhờ bốc hơi và giáng thủy, nước trên mặt Trái Đất, nước tự

nhiên, ở trong trạng thái tuần hoàn liên tục Trên đường hành trình từlục địa vào Đại dương Thế giới nước được bổ sung mỗi năm 5,4 tỷtấn các chất tan, các muối từ đất đá lục địa Đại dương trong quá trìnhlịch sử địa chất lâu ngày càng phong phú thêm vềmuối

Trung bình trong 1 kg nước biển có 35 g muối (trong nướcsông khoảng 0,17 g), tức khoảng 35 %ovà chỉ một số biển với nhữngđiều kiện đặc biệt khối lượng muối trong 1 kg nước biển mới đạt đến

Như vậy là kể cả oxy và hyđro, trong nước biển có 13 nguyên

tố có mặt với khối lượng đáng kể nhất, chúng được gọi

lànhữngnguyên tố cơ bản trong thành phần hóa học của nước biển.

Những nguyên tố khác – người ta cho rằng đó là hầu hết các nguyên

tố còn lại của bảng tuần hoàn Menđêlêep – có mặt trong nước biểnvới khối lượngnhỏhơn3mgtrong1kgnướcbiển,tứcnhỏhơn1%otổngđộ

Trang 18

4 3 3

13

muối

Đặc điểm nữa trong thành phần hóa học nước biển khác với

phần khác nhau của Đại dương Thế giới Tính ổn định về tỷ lệ các ionchủyếunhấttrongnướcbiểnđượcgọilàquyluậtbảotồnthànhnước ngọt, nước sông là ở chỗ trong nước biển tương quan trọng

lượng giữacác ion chủ yếu nhấttrái ngược với tương quan đó trong

nước sông Trong nước biển:

phần muối biển

Hệ quả của quy luật này là có thể tính được độ muối và các đặctrưng khác của nước biển theo hàm lượng clo là nguyên tố chứa trongnước biển với lượng lớn hơn cả Trong bảng hải dương học hiện đại,

hàm lượng clo, hayđộ clo%o, tương đương với tổng lượng các

halôgien chứa trong 1 kg nước biển Cònđộ muốiđược định nghĩa là

trọng lượng tính bằng gam của tất cả các chất rắn hòa tan trong 1 kgnước biển với điều kiện brôm và iôt được thay bằng lượng clo, tất cảcác cacbonat biến thành oxit và các chất hữu cơ bị đốt cháy

Phân tích một số lượng lớn mẫu nước ở các vùng khác nhaucủaĐạidươngThếgiới,ngườitanhậnđượchệthứcđểtínhdộmuối

sinh học và địa chất học làm biến đổi thành phần hóa học và hàm S%o theo độ clo %o như sau:

lượng các chất hòa tan Những quá trình như dòng chảy từ lục địa,

giáng thủy, bay hơi, quá trình băng làm thay đổi nồng độ dung

dịchnước biển trong phạm vi rất rộng Ở những vùng nước sát bờ cửa

sông có thể thấy độ muối xấp xỉ bằng không, trong khi đó ở những

vùng nóng khô độ muối nước biển có thể đạt tới 40 %o Những quá

trình như quang hợp, hô hấp, phân hủy chất hữu cơ có thể làm thay

đổi hàm lượng, tức tỷ lệ giữa các chất hòa tan trong nước biển Song

nhờ dòng chảy ngang và thẳng đứng trong các biển và đại dương, làm

cho nước biển được xáo trộn mạnh, đã dẫn tới một đặc điểm nữa rấtquan trọng là thành phần hóa học của nước đại dương có tính ổnđịnh,thayđổikhôngđángkể trongquátrìnhlịchsửvàgiữanhững

Trang 19

3.3 Những đặc trưng vật lý của nướcbiển

Khác với nước tinh khiết, những đặc trưng vật lý của nước

biển phụ thuộc không những vào nhiệt độ và áp suất, mà còn phụ

thuộc cả vào nồng độ muối, một yếu tố hải dương học quan trọng

của nước biển Dưới đây sẽ xem xét sự phụ thuộc của một số đặc

trưng vật lý chủ yếu vào nhiệt độ, độ muối và áp suất nước biển

Một trong những đặc trưng quan trọng nhất của nước biển

là mật độcùng với những đại lượng liên quan trực tiếp với nó như

trọng

Trang 20

lượng riêng và thể tích riêng Phân bố mật độ nước trong biển quyết

4 là tỷ số giữa trọng lượng đơn vị thể tích

Trong hải dương học quy ướcgọi mật độ nước biểnlà tỷ số

tC trên trọng lượng một đơn vị thể tích nước cất ở 4C (Khái niệm

Tuần tự ta cũng có những công thức của trọng lượng riêng quyước:

mật độ hải dương học không giống khái niệm mật độ vật lý, vì nó là

(2)đại lượng không thứ nguyên, nhưng có trị số bằng mật độ vật lý) Vì

mật độ nước biển luôn luôn lớn hơn 1, để đơn giản khi viết người ta

S01103

(3)dùng khái niệmmật độ quy ướccủa nước biểnt

trọng lượng riêng nước biển ở nhiệt độ 17,5o, tức S17,5, hoặc ở

17,5 gọi làluôn luôn lớn hơn 0,9 nên người ta cũng dùng đại lượngthể tích riêngcủa nước biển Vì thể tích riêng của nước biển thể tíchnhiệt độ 0o, tứcS0

4 (nhiệt độ 17,5

o

C tương đương nhiệt độ phòng riêng quy ước V t xác định theo công thức:

t0,9103

(4)

Trang 21

2 3

Trọng lượngriêng

trọng lượng đơn vị thể tích nước biển ở nhiệt độ 17,5ovà trọng lượng

đơn vị thể tích nước cất cùng nhiệt độ đó

riêng ở 0ovà 17,5ovới độ clo, hay độ muối của nước biển dưới dạng:

00,0691,4708Cl0,001570Cl0,0000398Cl,

Trang 22

17,5 bằng chịu tác động của áp suất thủy tĩnh và bị nén Vì vậy, khi xác định giá

trị thực của mật độ và thể tích riêng của nước biển ở các tầng sâu

t

Áp suấtptrong nước đại dương cứ xuống sâu thêm 10 m thì trong đó Ehiệu chỉnh, phụ thuộcvào 17,5 và nhiệt độtcó cho

tăng lên 106 đin/cm2(gọi là 1 ba) Vậy cứ xuống sâu thêm 1 m ápsẵn trong bảng hải dương học (Zubôp, 1957) hoặc bằng một công

Theo mật độ nước biển người ta xác định thể tích riêng như là

đại lượng nghịch đảo của mật độ Trong Zubôp, 1957, cũng có bảng

dùng để chuyển từ mật độ quy ướct sang thể tích riêng quy ướcV t

Thay thế cho giá trị thực của hệ số nén khi tính thể tích

riênginsitungười ta sử dụng hệ số nén trung bình, liên hệ với hệ số

nén thựckbằng hệ thức:

p d

1p

Trang 23

và dùng để xác định trực tiếpV t theo nhiệt độ và độ muối. Thể tích riêng ứng với áp suấtpđược xác định qua thể tích

Những công thức đã dẫn trên đây và những bảng tính theo riêng tại mặt biển

0(ứng với áp suất không) và hệ số nén trung bình

Trang 24

như sau: nhiệt;khệ số nén thực;I đương lượng cơ của nhiệt.

V pts

Trong thực hành, khi tính toán thể tích riêng quy ướcinsitu

thay cho công thức trên người ta dùng công thức của Bierơcơnet:

Về sự phụ thuộc của nhiệt dung nước biển vào áp suất của nó

có thể nhận xét qua những số liệu sau đây: nước biển với độ muối34,85 %ovà nhiệt độ 0oC sẽ có nhiệt dung bằng 0,926 dưới áp suất

1000 đêxiba (độ sâu 1000 m) và 0,872 cal/g.độ dưới áp suất 10000đêxiba (độ sâu 10000m)

trong đóV t

thể tích riêng quy ước của nước biển ứng với áp suất Bảng 3 Nhiệt dung riêng C

pcủa nước biển dưới áp suất khí quyển

không;p hiệu chỉnh do áp suất đối với nhiệt độ

t0, độ muốiS35%o,còntp ,sp ,stp là những hiệu chỉnh chop dotvàS

khác với 0ovà 35 %o Những hiệu chỉnh này đều cho sẵn trong bảng

hải dương học (Zubôp, 1957)

Trong thực tế tính toán hải dương học, người ta chú ý đến độ

nén của nước biển khi tính dòng chảy mật độ, nghiên cứu sự biến đổi

đoạn của nhiệt độ, độ ổn định, vận tốc âm v.v

Nhiệt dung riêng của nước biểnlà lượng nhiệt cần để làm nóng

1 g nước biển lên 1oC Bảng 3 cho thấy sự phụ thuộc của nhiệt dung

riêng đẳng ápC pcủa nước biển vào nhiệt độ và độ muối của nó dưới

Trong tính toán nhiều khi người ta cần biết tỷ số

C p

C v

áp suất không Còn nhiệt dung riêng đẳng thể tíchC v

được tính quaC pnhờ công thức:

của nước biển chứ không phải là đại lượng tuyệt đốiC v

Theo Ekman, nước biển với độ muối 34,85 %odưới áp suất khí quyển, sẽtăngtừ1,0004ở0oClên1,0207ở30oC; cũngtăng

Trang 25

khi áp

suất

ng, thí dụ, tại 0oC, áp suất 1000 db thì áp suất 10000 db, thì1,0126 1,009 , còn

trong đóTnhiệt độtuyệtđối; thể tích riêng;e hệ số dãn nở

Trang 26

Nhiệt dung đặc biệt lớn của nước (chỉ kém amôniac với nhiệt

dung riêng 1,2 cal/g.độ và hyđro lỏng với nhiệt dung riêng3 , 4 QA dt,

dz

cal/g.độ) đã làm cho biển và đại dương trở thành ác quy nhiệt khổng trong đó dt/dz građien nhiệt độ theo phươngz; Ahệ số dẫn

lồ, đóng vai trò quan trọng trong các quá trình nhiệt và động lực ở khí

quyển, điều hòa khí hậu giữa mùa nóng và mùa lạnh, giữa lục địa và

đại dương

Độ dẫn nhiệt của nước biển Độ dẫn nhiệt của nước biển là

lượng nhiệt truyền trong một đơn vị thời gian qua một đơn vị diện

tích đặt vuông góc với hướng của građien nhiệt độ khi građien nhiệt

độbằng1đơnvị.Độdẫnnhiệtđượcđặctrưngbởihệsốdẫnnhiệt.

nhiệt rối (nếu là hệ số dẫn nhiệt phân tử thì được ký hiệu là ) Như

vậy thứ nguyên của hệ sốAsẽ là cal/cm.độ vì thứ nguyên củaQlà

cal/cm2.Trong các phương trình truyền nhiệt, người ta sử dụng một đại

lượng gọi là hệ số dẫn nhiệt độKliên hệ với hệ số dẫn nhiệtAbằng hệ

thức:

Trong nước biển, nếu sự truyền nhiệt là do chuyển động hỗn loạn của

các phân tử gây nên, thì hệ số dẫn nhiệt được gọi làhệ số dẫn nhiệt

xoáy của những khối nước lớn, thì hệ số dẫn nhiệt được gọi làhệ

sốdẫn nhiệt rối

Hệ số dẫn nhiệt phân tử của nước cất ở nhiệt độ 15ochỉ bằng

1,39103cal/cm.độ, còn đối với nước biển nó có giá trị nhỏ hơn một

ít và tăng khi nhiệt độ và áp suất tăng Tính toán cho thấy rằng quá

trình dẫn nhiệt phân tử không có vai trò quan trọng trong biển Trong

khi đó hệ số dẫn nhiệt rối trong biển lớn hơn hệ số dẫn nhiệt phân tử

hàng ngàn lần Vì vậy trong khi nghiên cứu các quá trình nhiệt đại

dương người ta chỉ quan tâm tới quá trình truyền nhiệt rối

Lượng nhiệtQchuyển vận qua một đơn vị diện tích vuông góc

với građien nhiệt độ trong trường nhiệt độ của biển sẽ là:

Trang 27

độ nước biển VìC pxấp xỉ bằng 1 nênKcó trị số nhưAnhưng thứ

dt

trong đó thể tích riêng của nướcbiển

Hệ số dãn nở nhiệt của nước biển phụ thuộc vào nhiệt độ và độ

Trang 28

muối được thể hiện trên hình 4 Ở đây, những điểm trên đườnge0 sẽ

biểu thị những cặp giá trị nhiệt độ và độ muối tương ứng làm cho thể

tích riêng đạt cực tiểu, tức làm cho mật độ đạt cực đại Từ đó suy

luôn thấp hơn nhiệt độ đóng băng, khi nước biển đó bị nguội lạnh sự xáo trộn diễn ra cả trong thời gian đóng băng

Nhiệt ẩn bay hơi Nhiệt ẩn bay hơi là lượng nhiệt tính bằng calo

rae0 chính là đường cong biểu thị sự phụ thuộc của nhiệt độ ứng cần để biến 1 gam nước thành hơi nước ở cùng nhiệt độ Cũng một

với mật độ cực đại vao độ muối của nước biển Ta thấy rằng khi độ

muối tăng, thì nhiệt độ mật độ cực đại giảm

lượng nhiệt như vậy sẽ tỏa ra khi làm ngưng tụ 1 gam hơi nước đượcgọi là nhiệt ẩn ngưng tụ Đối với nước cất, trong khoảng nhiệt độ từ 0đến 30o, nhiệt ẩn bay hơi được xác định bằng công thức:

trong đót

nhiệt độ của nước Công thức này cũng dùng để tính

Hình 4 Hệ số dãn nở nhiệt của nước biển(e104

)dưới áp suất khí quyển phụ thuộc vào nhiệt độ và độ muối

Cũng trên hình 4 đường gạch nốibiểu thị sự phụ thuộc của

nhiệt bốc hơi của nước biển

Độ nhớt(ma sát trong) Độ nhớt của chất lỏng là lực cần đểdịch chuyển một cột nước có thiết diện đáy và chiều cao đơn vị vớivận tốc đơn vị so với lớp nước bên cạnh Độ nhớt đặc trưng cho sựtrao đổi động lượng giữa các lớp nước kế cận nhau Độ nhớt hay lực

ma sát trongFđối với một đơn vị diện tích xác định theo công thức

Newton:

,

dz

nhiệt độ đóng băng của nước biển vào độ muối của nó Độ muối 24,7 trongđ ó hệ số nhớt phântử; dv/dz građien vận tốc theo

%o, mà tại đó hai đường cong nói trên cắt nhau có ý nghĩa quan

trọng: nếu nước biển có độ muối nhỏ hơn 24,7 thì nhiệt độ mật độ

cực đại luôn luôn lớn hơn nhiệt độ đóng băng, chế độ nguội lạnh và

đóng băng ở biển đó sẽ giống như ở các hồ nước ngọt, ngược lại, nếunướcbiểncóđộmuốilớnhơn24,7thìnhiệtđộmậtđộcựcđạiluôn

Trang 29

phươngz; hướng của lực vuông góc với hướng của građien vận tốc.

Trong biểu thức trên,hệsố gọi làhệ số nhớt động

lựchọcvàcóđơnvịđolàpoazơ(g/cm.s).Nhiềukhingườitadùnghệ sốnhớt

động họcvới đơn vị đo là stôc (cm2/s) liên hệ với hệ số nhớt động lực

Trang 30

học bằng hệ thức:

 ,

trong đóthể tích riêng của nước biển Theo Xtefan và Areniut, thì

giá trị độ nhớt phân tử bằng 180104poazơ Bảng 4 cho thấy sự phụ

thuộc của hệ số nhớt phân tử của nước biển (tương đối so với hệ

sốnhớtphântửcủanướccấtởnhiệtđộ0ođượccoibằng100)vào

nhiệt độ và độ muối của nó

Bảng 4 Giá trị tương đối của độ nhớt (theo Rupin và Griumen)

Khi nghiên cứu những quá trình động lực ở biển, người tathường bỏ qua độu nhớt phân tử vì giá trị của nó, cũng giống như độdẫn nhiệt phân tử, nhỏ hơn độ nhớt rối hàng ngàn lần Ý nghĩa vật lý

và đơn vị đo của độ nhớt rối cũng tương tự như của độ nhớt phân tử

Về các phương pháp xác định hệ số nhớt rối sẽ được xem xét ở mộttrong những chương sau

Sự khuếch tán trong nước biển Trong nước biển không đồngnhất không gian, những chất hòa tan như muối, các chất khí, chấtphóng xạ có xu hướng di chuyển từ nơi nồng độ cao tới nơi nồng độthấp hơn Lượng các hạt vật chất đi qua diện tích 1 cm2theo phươngvuông góc với građien nồng độ dung dịch thời gian sẽ bằng

cm2/s nếuSnồng độ chất tan được biểu diễn bằng g/cm3 Hệ số

Độ nhớt phân tử có ý nghĩa quan trọng khi nghiên cứu các quá

trình lắng đọng các hạt lơ lửng, các cơ thể sống nhỏ bé Chẳng hạn,

hệ số nhớt động lực học có mặt trong công thức Stôc để tính vận tốc

lắng đọng các hạt kích thướcnhỏ:

khuếch tánD, nếu trong quá trình khuếch tán không có mặt những xáo

trộn cơ học, mà chỉ có những chuyển động cấp phân tử, sẽ gọi là hệ

số khuếch tán phân tử Trong trường hợp gây nên di chuyển cáchạtc h ấ t t a n l à d o n h ữ n g c h u y ể n đ ộ n g c u ộ n x o á y c ủ a n h ữ n g

Trang 31

tán rối và có giá trị lớn hơn gấp hàng ngàn lần Quá trình khuếch tánrối là quá trình chủ yếu quyết định sự di chuyển của muối và cácchất khí, các chất ô nhiễm trong đại dương Vấn đề này sẽ được xéttrong

một chương sau

Trang 32

3.4.1 Vận tốc truyền âm trong nướcbiển

Vận tốc truyền chuyển động dao động âm từ hạt nước này tới

hạt nước khác gọi là vận tốc truyền âm Công thức lý thuyết của vận

tốc âm của chất lỏng và chất khí là

C P0,0175P,

trong đó áp suấtPtính bằng đêxiba, gần bằng độ sâu biểu diễn bằng

mét Sai số tốc độ âm tính theo công thức Del Gross không vượt quá0,5 m/s đối với nước có độ muối lớn hơn 15 %ovà 0,8 m/s đối vớinước có độ muối nhỏ hơn 15 %o

Công thức Winson có độ chính xác cao hơn công thức Del Gross có dạng như sau:

giữa nhiệt dung đẳng áp và nhiệt dung đẳng tích của nước biển;k

Trên cơ sở công thức lý thuyết này, người ta đã lập ra các biểu C pts hiệu chỉnh tổng cộng Tất cả những hiệu chỉnh này được xácbảng cho phép xác định vận tốc âm theo nhiệt độ và độ muối cũng

như các giá trị hiệu chỉnh áp suất Trong thực hành, người ta còn

dùng các công thức thực nghiệm cho độ chính xác cao hơn, phổ biến

nhất trong số đó là các công thức của Del Gross và D.Winson

Công thức Del Gross có dạng:

Trong nước biển năng lượng âm truyền đi luôn luôn kèm theo

sự tắt dần do hiện tượng hấp thụ và tán xạ năng lượng Sự hấp thụ âmtrong nước là do độ nhớt và độ dẫn nhiệt Ngoài ra một phần nănglượng âm còn bị mất đi để làm biến đổi nội năng các phân tử nước

2.107(

S35)4(10,577t0,0027t2) m/s. trong quá trình co dãn trong sóng âm Cường độ hấp thụ âm của nước biển được đặc trưng bởi hệ số hấp thụ âm của nước biển.

Để tính ảnh hưởng của áp suất lên vận tốc âm, cần phải thêm

Trang 33

Trong biển luôn luôn chứa những tạp chất như các bọt khí, các

nhau làm cho năng lượng âm truyền trên một phương nào đó bị giảm

Trang 34

 x

Tổng các tác động của sự hấp thụ và sự tán xạ làm cho năng

lượng âm giảm dần trên quãng đường truyền âm

Sự tắt dần âm trên khoảng cách truyềnx đ ư ợ c b i ể u d i ễ n

trong đóC0vận tốc âm tại nguồn phát;cgrađien vận tốc âm

trong đó I0 cường độ âm tại nguồn;I cường độ âm ở khoảng phương ngang.

cáchxc á c h n g u ồ n ; hệ số tắtdần.

Thực nghiệm cho thấy hệ số tắt dần trong khoảng tần số 7,5-60

kHz liên quan với tần số dao độngfbằng biểu thức:

Nếu tia âm gặp một lớp với vận tốc âm biến đổi mạnh thì nó sẽ

bị khúc xạ (hình 5) Góc khúc xạcó thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn góc

tớiitùy thuộc vào tương quan của các vận tốc âm trong các lớp, còn góc phản xạibằng góc tới.

0,036f3 /2dB/km

(16)

Trong công thức nàyftính bằng kHz.

3.4.3 Sự khúc xạ âm trong nướcbiển

Trong biển do nhiệt độ, độ muối và áp suất khác nhau ở các

tầng sâu khác nhau nên tốc độ âm trong những lớp đó cũng khác

nhau Tia âm khi truyền trong các lớp nước đó sẽ bị uốn cong do

chệch hướng khi đi từ lớp này vào lớp khác, người ta nói rằng tia âm

bị khúc xạ

Nếu chúng ta chia bề dày của nước thành những lớp mà trong

đó građien vận tốc âm không đổi, thì quĩ đạo tia âm trong mỗi lớp là

Hình 5 Sự khúc xạ của tia âm

Định luật khúc xạ các tia âm được xác định bằng công thức:

vòng tròn bán kínhRbằng:

Trang 36

i1,i2, ,i n góc tới của các tia âm trên biên phân cách giữa hai lớp lại quay về mặt biển Những tia này được gọi là những tia nhóm 2.nước kề nhau.

Tỷ số sin góc tới và góc khúc xạ được gọi làchỉ số khúc xạcác

tia âmn Tỷ số này bằng tỷ số vận tốc âm trong các lớp tương ứng Vì

Trên cơ sở phân bố vận tốc âm theo phương thẳng đứng ở biển

có thể phân chia bốn loại khúc xạ âm như sau:

- khúc xạ loại 1 – khúc xạ cộng, quan trắc thấy khi vận tốc âm

tăng theo độsâu;

- khúc xạ loại 2 – khúc xạ trừ, quan trắc thấy khi vận tốc âm

giảm theo độsâu;

- khúc xạ loại 3 – chuyển từ khúc xạ cộng ở lớp mặt, nơi vận

tốc âm tăng theo độ sâu, sang khúc xạ trừ ở lớp dưới, nơi vận tốc âm

giảm theo độsâu;

- khúc xạ loại 4 – kênh âm ngầm, tồn tại khi vận tốc âm giảm

theo độ sâu ở lớp trên và tăng theo độ sâu ở lớpdưới

Khúc xạ cộng(loại 1) được thể hiện trên hình 6 Các tia âm bị

uốn cong quay bề lõm lên phía trên Trong số những tia âm, có những

tia khi phát ra khỏi nguồn dưới những góc nhất định, lệch về phía mặt

biển, không đạt tới đáy (phản xạ nội toàn phần) Khi đạt tới mặt biển,

các tia này bị phản xạ từ mặt và một lần nữa bị phản xạ nội toàn phần

Hình 6 Khúc xạ cộng

Nếu từ máy phát có những tia đi vào nước biển với góc lớn,đường gạch nối trên hình vẽ, thì chúng có thể đạt tới đáy biển, bịphản xạ trở lại vào trong nước biển rồi đạt tới mặt biển, bị phản xạ ở

đó rồi lại tiếp tục đi trong nước biển Chúng đóng góp không nhiềuvào việc tăng cường độ âm ở điểm thyu âm, vì khi phản xạ ở đáy biểnchúng mất hầu hết năng lượng chứ không gần như giữ nguyên nănglượng như phản xạ ở mặtbiển

Khúc xạ trừ(loại 2) được thể hiện trên hình 7 Các tia âm bịuốn cong quay bề lõm xuống dưới Ứng với một số góc nào đó củacác tia khi ra khỏi nguồn, các tia này bị phản xạ nội toàn phần, nênkhông đạt tới mặt biển, mà lệch xuống đáy và sau đó phản xạ từ đáy

Trang 37

đểl ạ i đ i v à o n ư ớ c b i ể n n h ư n g v ớ i n ă n g

l ư ợ n g n h ỏ đ i r ấ t n h i ề u

Trang 38

Những tia như vậy được gọi là những tia nhóm 3 Vùng không gian

phía sau tới hạn, tia phản xạ nội toàn phần ở mặt biển, được gọi là

vùng tối âm (vùng gạch sọc) vì trước khi phản xạ từ đáy tất cả các tia

bị khúc xạ đều đi về phía vùng bên trái nó Trong vùng tối âm, sự

truyền âm chỉ xảy ra yếu ớt do những tia nhóm 3 phản xạ từ đáy hoặc

những tia nhóm 1 (đường nét đứt)

Hình 7 Khúc xạ trừ

Khúc xạ loại 3 Trong loại khúc xạ này, đường đi của các tia

âm phụ thuộc vào độ sâu đặt nguồn Khi nguồn âm ở trong lớp với

građien dương của vận tốc âm (hình 8a), thì sự truyền âm trong lớp

nàysẽxảyradophảnxạnhiềulầncáctiatừmặtbiển(cáctianhóm

3) tạo nên “kênh âm gần mặt” với biên dưới là biên dưới của lớp tăng

tốc độ âm

Ở biên dưới của lớp tăng tốc độ âm xảy ra hiện tượng “tách” tia

âm phản xạ nội toàn phần, bởi vì tia này khi đi tới độ sâu phản xạ nội

toàn phần thì bị tách làm đôi Nửa phí trên bị uốn cong lên phía mặt

biển, còn nửa phía dưới – xuống đáy, tạo thành vùng tối (vùng gạchsọc) tương tự như vùng tối trong khúc xạ trừ Trong vùng này chỉ cóthể có các tia nhóm 1 và nhóm 3 đi qua Nhưng do ảnh hưởng củanhiễu xạ từ vùng kênh âm gần mặt, nên sự suy giảm cường độ âmchậm hơn so với vùng tối của khúc xạ trừ Vì vậy vùng tối trên hình8a được gọi là vùng bán dạ

Trang 39

Hình 8 Sự chuyển từ khúc xạ cộng ở lớp trên sang khúc xạ trừ ở lớp dưới

Trang 40

Nếu giảm độ dày lớp građien dương, hay cũng như giảm sự

thay đổi vận tốc âm trong lớp gần mặt, thì hiệu ứng kênh âm gần mặt

sẽ biến mất Khi vận tốc âm trong lớp mặt không đổi (hình 8b), sự

truyền âm trên khoảng cách xa nguồn sẽ chỉ do các tia phản xạ từ mặt

và đáy (các tia nhóm 1) Ở vùng gần nguồn phát, sự truyền âm sẽ xảy

ra trong lớp mặt giống như trong môi trường đồng nhất, đồng thời

xảy ra hiện tượng khúc xạ trừ của các tia khi chuyển sang các lớp

dưới Phạm vi hoạt động của các máy thủy âm trong trường hợp đó bị

hạn chế so với trường hợp lớp gần mặt có građien vận tốc âmdương

Khi nguồn phát nằm trong lớp građien âm âm (hình 8c), biên

vùng tối được tạo nên bởi tia bị tách trên biên dưới của lớp građien

dương Trong vùng tối sự truyền âm sẽ xảy ra chỉ do các tia nhóm 1

bị phản xạ nhiều lần (các tia nét đứt), sự suy yếu cường độ âm xảy ra

mạnh như trong khúc xạtrừ

Kênh âm ngầm Khi trong phân bố vận tốc âm theo độ sâu có

cực tiểu ở độ sâu nào đó và nguồn phát đặt gần độ sâu đó, thì những

tia âm đi từ nguồn về phía mặt biển sẽ có dạng paraboon với bề lồi

hướng lên trên (khúc xạ trừ) Khi bị phản xạ nội toàn phần, tia sẽ đi

xuống, đạt tới tầng sâu cực tiểu vận tốc âm và bắt đầu từ đó trở

xuống tia âm đi theo chế độ khúc xạ cộng với bề lồi hướng xuống

dưới và lại bị phản xạ nội toàn phần để quay lên phía trên Tiếp sau,

bức tranh sẽ lặp lại Tương tự như vậy ta có quĩ đạo các tia đi ra từ

nguồnvềphíađáy(hình9).Nhưvậysẽcómộtvùngtruyềnâmvới

nhiều tia phản xạ nội nhiều lần, không đạt tới mặt và đáy biển (tia nhóm 4) Vùng đó được gọi là kênh âm ngầm

Hình 9 Khúc xạ loại 4 – Các kênh âm ngầm

Người ta phân biệtkênh âm ngầm loại I, nếu vận tốc âm trên mặt biển nhỏ hơn ở đáy (hình 9a) vàkênh âm ngầm loại II, nếu vận

tốc âm trên mặt biển lớn hơn ở đáy Trên các hình vẽ ta thấy biên giớikênh loại I là mặt biển và tầng sâu nằm phía dưới của trục kênh (độ

Ngày đăng: 16/04/2021, 15:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Гембель А.В. Общая география мирового океана. М., Высшая школа, 1979 2. Егоров Н.И. Физическая океанография. Л., Гидрометеоиздат, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Общая география мирового океана". М., Высшая школа, 19792. Егоров Н.И. "Физическая океанография
3. Жуков Л.А. Общая океанология. Л., Гидрометеоиздат, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Общая океанология
4. Зубов Н.Н. Динамическая океанология. М. Л., Гидрометеоиздат, 1947 5. Зубов Н.Н. Океанологические таблицы. Л., Гидрометеоиздат, 1957 6. Леонтьев О.К. Дно океана. М., “Мысль”, 1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Динамическая океанология". М. Л., Гидрометеоиздат, 19475. Зубов Н.Н. "Океанологические таблицы". Л., Гидрометеоиздат, 19576. Леонтьев О.К. "Дно океана". М., “Мысль
7.Некрасов А. В. Приливные волны в окрайнных морях. Л., Гидрометеоиздат, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Приливные волны в окрайнных морях
8. Океанографическая энциклопедия. Пер. с англ. Л., Гидрометеоиздат, 1974 9. Шокальский Ю.М. Океанография. Л., Гидрометеоиздат, 1965 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Океанографическая энциклопедия". Пер. с англ. Л., Гидрометеоиздат, 19749. Шокальский Ю.М. "Океанография

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w