1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lý luận văn học 1

60 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận văn học 1
Tác giả Phạm Thanh Hùng
Người hướng dẫn PGS. TS Phùng Quí Nhâm
Trường học Đại học An Giang
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại tài liệu giảng dạy
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 407,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tình hình những quan điểm lí luận văn học không ngừng đổi mới, người viết đã cố gắng giữ vững sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa ổn định và phát triển, không quá đi sâu

Trang 1

Khoa Sư Phạm

Lý Luận Văn Học 1

Tác giả: Phạm Thanh Hùng Biên mục: sdms

Lời nói đầu

Tài liệu giảng dạy Lí luận văn học I phần Bản chất và đặc trưng của văn học (còn gọi là Bản thể văn học) được biên soạn nhằm phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của sinh viên đại học năm thứ hai bộ môn Ngữ văn, khoa Sư phạm, trường Đại học An Giang

Nội dung quyển sách có hai phần chính:

• Phần một: Bản chất của văn học, gồm bốn chương: nguồn gốc, bản chất của văn học; hiện thực trong văn học ; chức năng của văn học ; ý thức xã hội trong văn học

• Phần hai: Đặc trưng của văn học, gồm ba chương: văn học - hình thái ý thức thẩm mĩ đặc thù ; tình cảm nghệ thuật ; văn học - nghệ thuật ngôn

từ

Trang 2

Trong tình hình những quan điểm lí luận văn học không ngừng đổi mới, người viết đã cố gắng giữ vững sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa ổn định

và phát triển, không quá đi sâu vào một vấn đề phức tạp nào vượt quá khuôn khổ một tài liệu giảng dạy đại học, đặc biệt chú trọng đến tính năng động, hiệu quả, ý nghĩa thực tiễn của những nội dung cơ sở lí luận văn học được đề cập

để sinh viên sau khi ra trường có thể dễ dàng vận dụng vào việc dạy và học ngữ văn ở trường trung học phổ thông

Xin chân thành cảm ơn PGS TS Phùng Quí Nhâm (Chủ nhiệm bộ môn Lí luận văn học và Mĩ học, trường Đại học Sư phạm TP.HCM) cùng quí đồng nghiệp đã đọc và có những nhận xét quí báu, tạo điều kiện thuận lợi về nhiều mặt để quyển sách này ra đời

Dù có ý thức cao về yêu cầu khoa học trong quá trình biên soạn tài liệu nhằm phục vụ việc giảng dạy của giảng viên và việc học tập, nghiên cứu của sinh viên, nhưng những thiếu sót sẽ không tránh khỏi Rất mong những ý kiến đóng góp của bạn đọc gần xa

TÁC GIẢ

PHẦN I: BẢN CHẤT VĂN HỌC

Chương I: Nguồn Gốc, Bản Chất của Văn Học

Văn học là một hình thái ý thức xã hội, một phương thức “đồng hóa“ hiện thực

về mặt thẩm mĩ, một loại hình nghệ thuật dùng ngôn từ làm chất liệu thể hiện Xét nguồn gốc của văn học là xét đến điều kiện lịch sử khách quan nào, nhu cầu xã hội tất yếu nào đã làm cho văn học phát sinh và phát triển

Nguồn gốc của văn học

1 CÁC QUAN ĐIỂM SAI LẦM VỀ NGUỒN GỐC CỦA VĂN HỌC

Một trong những lí thuyết thịnh hành nhất, có ảnh hưởng nhất, đã được các nhà

mĩ học tư sản đặc biệt chú ý phát triển là thuyết bản năng du hí - nguồn gốc của quan điểm “ nghệ thuật thuần túy “ Đó là thuyết được xây dựng trên cơ sở mĩ học Kant (1724 - 1804), cho rằng đặc trưng chủ yếu của cảm xúc thẩm mĩ là khuynh hướng vươn tới sự “du hí tự do “, thoát khỏi bất kì một mục đích thực tiễn nào Cùng quan điểm với Kant, Schiller (1759 - 1805) xem động lực của sự sáng tạo nghệ thuật ngay từ thời nguyên thủy là khuynh hướng vươn tới “ thế giới vui vẻ của du hí “ để thoát li cuộc sống thực tế, vốn kìm hãm bó buộc con người Spencer (1820 - 1903) phát triển thêm học thuyết của Shiller bằng lí luận

về sự “ phát tiết sinh lực thừa “ Theo ông, con người cũng như động vật khi đã thỏa mãn những nhu cầu và hoạt động vụ lợi như ăn uống, chống nóng rét thì

Trang 3

chuyển sang hoạt động tự do, không vụ lợi, hoạt động “phát tiết sinh lực thừa “ Trò chơi là hình thức tiêu phí sinh lực thừa Nghệ thuật xét về nguồn gốc, về bản chất, cũng chỉ là một thứ trò chơi, nhưng ở mức độ cao hơn.

Dựa vào một số nhận xét của nhà sinh vật học nổi tiếng Darwin (1804 - 1872) (như việc con chim đực xoè bộ lông duyên dáng và lộng lẫy của nó trước con chim cái), một số học giả khác qui nghệ thuật vào phạm trù sinh vật và cho rằng

“ bản năng mĩ cảm “ của con người là bản năng sinh vật, chứ không phải là ý thức xã hội Theo họ, động vật cũng có mĩ cảm như con người vậy

Những học thuyết trên đây dù có nhiều biến dạng, nhưng đều chung một quan điểm khi cho rằng nghệ thuật nguyên thủy và cả hiện tại bắt nguồn từ xu hướng

tự do du hí hoặc từ bản năng mĩ cảm của con người Nghệ thuật là một thứ trò chơi tự do, không mục đích

Một số học giả khác cho rằng nghệ thuật bắt nguồn từ bản năng bắt chước của con người Thật ra khái niệm “bắt chước ” với nghĩa như “phản ánh “ đã từng được nhà triết học duy vật vĩ đại thời cổ là Aristote đề cập đến trong Pœtic (Thi pháp) Ở đây, chúng ta chỉ muốn đề cập đến những người chủ trương một thứ lí luận bắt chước tầm thường, máy móc, xem mục đích cao nhất của nghệ thuật là sao chép lại các hiện tượng, và sự sao chép đó đem lại cho người ta niềm khoái cảm

Thực tế cho thấy, sự bắt chước không thể đem lại cho ta tất cả hứng thú và khoái cảm nghệ thuật, và do đó không thể là nguồn gốc của văn học nghệ thuật.Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, lại có một số học giả cho rằng nghệ thuật bắt nguồn từ ma thuật, tôn giáo Họ dựa vào những nghi thức tế lễ, nhảy múa, phù chú, trang sức của người nguyên thủy để giải thích nguồn gốc của nghệ thuật Thuyết ma thuật xuất hiện và phổ biến khá rộng, gắn liền với tên tuổi nhà bác học Pháp là Reinach và sau này là viện sĩ Liên xô Marr

Chúng ta không phủ nhận nhiều hình thức nghệ thuật nguyên thủy gắn liền với

ma thuật và tôn giáo, nhưng xét kĩ bản chất của vấn đề, thì động lực thúc đẩy

sự sáng tạo nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng, không thể là một số hình thức ma thuật kia, mà chính là nhu cầu lao động Nội dung nghệ thuật cũng chính là sự nhận thức của người lao động về đời sống lao động của họ

2 NGUỒN GỐC CỦA VĂN HỌC

Nguồn gốc của văn học nghệ thuật gắn liền với nguồn gốc loài người Nhưng con người phải được hình thành và phát triển đến trình độ nào đó thì mới có khả năng hoạt động nghệ thuật Những tài liệu khảo cổ mới nhất đã xác định rằng cách đây hai triệu sáu chục vạn năm, con người đã xuất hiện với công cụ bằng đá trong tay để săn bắt và xẻ thịt thú rừng Tuy nhiên, các di chỉ khảo cổ

về những hiện tượng nghệ thuật nguyên thủy xuất hiện vào hậu kì đồ đá cũ được phát hiện trong các hang động cổ sơ như những hình vẽ chạm khắc

những động vật to lớn cho nhiều thịt (bò rừng, ma mút, tê giác, hươu, gấu, ngựa hoang…) đủ để cho ta kết luận nghệ thuật xuất hiện rất muộn so với sự xuất hiện của con người

Trang 4

Chủ nghĩa Marx - Lenine chứng minh và khẳng định rằng chính lao động đã dần dần tạo ra bản thân con người, con người toàn diện và hoàn thiện, với bàn tay khéo léo để tác động vào hiện thực khách quan, cải tạo nó theo yêu cầu đời sống của mình; với các giác quan nhạy bén để cảm thụ thuộc tính, hiện tượng muôn màu muôn vẻ của hiện thực khách quan; với bộ óc sáng suốt để nhận thức bản chất, qui luật của hiện thực khách quan; với năng khiếu thẩm mĩ tinh tế

để cảm xúc, đánh giá hiện thực khách quan về mặt thẩm mĩ Như vậy, lao động chẳng những sáng tạo ra chủ thể thẩm mĩ, mà còn trực tiếp sáng tạo ra các hiện tượng thẩm mĩ trong đời sống Lao động sản xuất, lao động sáng tạo đã giúp con người tạo ra một sự hài hòa và một sự ràng buộc ngày càng chặt chẽ giữa con người và môi trường chung quanh

Mặt khác, nếu lao động là một quá trình “nhân hóa “, thì trong quá trình đó từng bước thế giới bên trong của con người bao gồm tình cảm, tâm trạng, ý thức, tư tưởng, nhận thức ngày càng phát triển phong phú, đa dạng Marx có viết:

“Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại, chính sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ “(1) Từ trong quá trình lao động, mối quan hệ giao tiếp, thông tin giữa người với người được hình thành Chính nhu cầu giao tiếp này đã kích thích sự ra đời của ngôn ngữ Trong Lời tựa cuốn

“Phê phán chính trị kinh tế học “, Marx và Engels đã chỉ rõ: “Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người ” (2)

Để trao đổi những nhận thức về đối tượng lao động, con người sử dụng tín hiệu ngôn ngữ và những tín hiệu khác như động tác, đường nét, hình khối Những tác phẩm nghệ thuật đầu tiên của loài người xuất hiện cách nay khoảng năm vạn năm Hình thức đầu tiên là nghệ thuật tạo hình, chủ yếu là tranh vẽ, khắc trên các hang đá, rồi đến những tượng nặn, tạc từ đá, ngà voi Mầm mống của

âm nhạc và văn học nguyên thủy bắt nguồn từ các hình thức lao động tập thể Bucher trong công trình khoa học tựa đề Lao động và tiết tấu đã có viết: “ Lao động mà có tiết tấu thì có hiệu quả và đỡ mỏi Nhất là khi lao động tập thể, động tác có tiết tấu càng có hiệu lực Lao động có tiết tấu đến cao độ thì con người tự nhiên phát ra những tiếng hò dô Người nguyên thủy thêm vào đó những lời có nghĩa: đó là nguồn gốc của thơ ca “ (3) Ngày nay, khi nghiên cứu các làn điệu dân ca, chúng ta vẫn tìm thấy cơ sở của nhịp điệu, tiết tấu với hình thức lao động tương ứng Chẳng hạn, tiết tấu chắc gọn, âm điệu trầm mạnh như những nhịp thở đẩy cánh tay, sức lực của con người lên trong hò đạp nước, hò giã gạo, hò chèo thuyền, hò kéo gỗ trên sông, hay niềm hân hoan của người lao động khi đứng trước thành quả đạt được trong những điệu hát giăng chài, giã cốm, phường vải, quan họ, hát đúm hát đối

Như vậy là trong buổi bình minh của lịch sử loài người, mầm mống của văn học nghệ thuật đã nảy sinh trong quá trình lao động, trở lại phục vụ lao động, tác động tích cực vào quá trình lao động để đem lại hiệu quả lao động cao hơn Mọi luận điểm phủ nhận hoặc xem nhẹ vai trò của lao động trong việc tìm hiểu

nguồn gốc văn học nghệ thuật đều sai lầm và thiếu sự thuyết phục

Trang 5

Văn học là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng

1 MỐI QUAN HỆ GIỮA KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG VÀ CƠ SỞ KINH TẾ

Là một trong những hình thái ý thức xã hội, văn học cũng nằm trong kiến trúc thượng tầng, chịu sự tác động, chi phối của cơ sở kinh tế Cũng trong Lời tựa cuốn Phê phán kinh tế - chính trị học, K Marx đã có chỉ rõ: “ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cơ sở thực tại, trên đấy xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lí và chính trị, và tương ứng với cơ sở thực tại đó thì có những hình thái ý thức xã hội nhất định

Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại, chính sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ ” (4)

Ở một chỗ khác, K Marx tiếp tục viết: “ Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng Một hình thái xã hội không bao giờ mất đi trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái

xã hội đó tạo địa bàn cho phát triển lại chưa được phát triển và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng xã hội cũ ” (5)Dựa vào những kiến giải trên đây, có thể nói, chính cơ sở kinh tế tạo điều kiện cho sự ra đời, phát triển của văn học cũng như của các loại hình nghệ thuật khác Chẳng hạn, thần thoại ra đời trong lòng xã hội công xã nguyên thủy, ở đó, trồng trọt được con người biết đến trong mối quan hệ nhân quả với các hiện tượng tự nhiên chưa lí giải được, họ chỉ biết qui vào sức mạnh siêu nhiên của các thần như mặt trời, mặt trăng, gió, mưa, bão, lụt Rồi đến sự tan rã của công

xã nguyên thủy gắn liền với vai trò lớn lao của các thủ lĩnh trong các cuộc chiến tranh bộ lạc đã làm xuất hiện thể loại sử thi anh hùng (còn gọi là anh hùng ca) Trong thời kì hiện đại, sự phát triển của nghề in kéo theo sự đổi thay của nhiều hình thức thể loại văn học

Như vậy, cơ sở kinh tế xã hội quyết định sự tồn tại và phát triển của văn học Khi cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ kiến trúc thượng tầng, trong đó có văn học

là một bộ phận, sớm muộn cũng thay đổi Kiến trúc thượng tầng do cơ sở kinh

tế quyết định, nhưng kiến trúc thượng tầng cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại đối với cơ sở kinh tế Đối với văn học, cơ sở kinh tế xã hội đề xuất nhu cầu và khả năng cho nó, và đến lượt mình, văn học phát huy khả năng, đáp ứng nhu cầu và tác động đến xã hội, do vậy mà nó cũng thay đổi và phát triển

Tương quan giữa văn học nghệ thuật và xã hội cũng là sự tương quan giữa ý thức và tồn tại Quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là vấn đề triết học

cơ bản về mặt các hiện tượng xã hội Mối quan hệ này giúp ta hiểu được tại sao những quan niệm chính trị, pháp luật, đạo đức, mĩ học, văn học nghệ thuật và những quan niệm khác đều khác nhau tùy theo từng thời đại lịch sử

Tuy gắn liền với cơ sở kinh tế - xã hội nhất định và mất theo khi cơ sở kinh tế -

xã hội không còn, nhưng kiến trúc thượng tầng có một tác dụng tích cực to lớn

Trang 6

đối với sự phát triển của xã hội, của kinh tế và của lực lượng sản xuất của xã hội Ảnh hưởng của nó có thể đẩy nhanh hay trái lại làm chậm sự phát triển của

xã hội Chẳng hạn, văn nghệ thời kì Phục Hưng đã làm sống lại tư tưởng nhân đạo, nhu cầu giải phóng cá tính của con người mà trước đó đã từng bị các thế lực phong kiến và nhà thờ ra sức bóp nghẹt Ngược lại, có thể tìm thấy tác dụng kìm hãm sự phát triển xã hội ở các tác phẩm thể hiện tư tưởng thần

quyền, tư tưởng phong kiến cổ hủ, phản động như tư tưởng mệnh trời, đợi thời đầy rẫy trong văn học phong kiến đã hạn chế rất nhiều tính tích cực của con người, khiến cho nhiều trí tuệ uyên bác phải tìm sự an thân trong đời sống ẩn dật

Nói cơ sở kinh tế quyết định kiến trúc thượng tầng không có nghĩa là xã hội có một cơ sở kinh tế phát triển cao thì nhất định sẽ sản sinh ra một nền văn học phát triển cao, hoặc cơ sở kinh tế kém phát triển thì sẽ đẻ ra một nền văn học thấp kém Giữa cơ sở kinh tế - xã hội và văn học không phải lúc nào cũng có sự phát triển tương ứng Trái lại, trong lịch sử thường có sự không đồng bộ giữa

sự phát triển của văn học, nghệ thuật một thời đại với sự phát triển của cơ sở kinh tế - xã hội của thời đại đó Đây là một vấn đề phức tạp, dễ dẫn đến những kết luận không đúng về bản chất của văn học, nghệ thuật Chính Marx khi

nghiên cứu về nghệ thuật Hi Lạp đã có đưa ra nhận xét: “Đối với nghệ thuật, người ta biết rằng những thời kì hưng thịnh nhất định của nghệ thuật hoàn toàn không tương ứng với sự phát triển chung của xã hội, do đó cũng không tương ứng với sự phát triển của cơ sở vật chất của xã hội, của cái xương sống của tổ chức xã hội ” (6) Ở Việt Nam, nếu theo cái logic xã hội thối nát thì văn học thấp kém, xã hội văn minh thì văn học tiền tiến, chúng ta không thể lí giải được vì sao

xã hội phong kiến cuối Lê đầu Nguyễn vô cùng thối nát, nhưng văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX phát triển thật rực rỡ gắn liền với bao tên tuỗi lẫy lừng và bao tác phẩm tiêu biểu của nền văn học dân tộc

2 VĂN HỌC VỚI CÁC HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI KHÁC

Văn học nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo là các hình thái ý thức xã hội Mối quan hệ giữa văn học với các hình thái ý thức

xã hội khác là mối quan hệ giữa ý thức và ý thức Tất cả đều phản ánh tồn tại

xã hội và đáp ứng các nhu cầu khác nhau của đời sống

Các hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng tuy có sự khác nhau về

phương thức biểu hiện, tác dụng, nhưng giống nhau ở chỗ cùng là biểu hiện của ý thức tư tưởng Toàn bộ ý thức tư tưởng của con người hợp thành thế giới quan và nhân sinh quan Vì điều kiện kinh tế, quan hệ sản xuất khác nhau, nên con người của các giai cấp và thời đại khác nhau cũng có thế giới quan và nhân sinh quan khác nhau Thế giới quan và nhân sinh quan của mỗi thời đại bao trùm lên toàn bộ kiến trúc thượng tầng và được biểu hiện trong các hình thái ý thức xã hội Giữa các hình thái ý thức trong cùng một xã hội, do có chung một ý thức hệ, cùng xuất phát từ một cơ sở hạ tầng, nên có mối quan hệ rất chặt chẽ, tác động, chi phối, ảnh hưởng qua lại với nhau, lồng vào nhau; đồng thời mỗi hình thái ý thức đều có những đặc điểm riêng và có tính độc lập tương đối

Trang 7

Dưới đây, chúng ta không xem xét mối quan hệ giữa văn học với tất cả các hình thái ý thức xã hội, mà chỉ đề cập đến một số hình thái ý thức xã hội có quan hệ

và tác động sâu sắc đến văn học

2.1 VĂN HỌC VÀ CHÍNH TRỊ

Trong các hình thái ý thức xã hội thì chính trị và văn học có mối quan hệ đặc biệt gần gũi và tác động lẫn nhau một cách sâu sắc Văn học không bao giờ tách rời khỏi chính trị Chủ nghĩa Marx - Lenine khẳng định rằng trong xã hội có giai cấp, văn học dù muốn hay không vẫn là một vũ khí đấu tranh giai cấp, phục

vụ cho đường lối chính trị của một giai cấp nhất định Dù ở thời đại nào, nhà văn cũng là một thành viên của xã hội, thuộc giai cấp này hay giai cấp khác Tiếng nói của nhà văn, suy cho cùng, cũng chỉ là phát ngôn cho phía này hay phía khác Vấn đề văn học phục vụ chính trị, phản ánh lập trường và thái độ chính trị trở thành một nguyên lí chung phổ biến với tất cả các xã hội có giai cấp

Lịch sử văn học nước ta có những thời kì văn học mang tính chất chính trị rõ rệt

và chính trị cũng dùng văn học làm phương tiện phổ biến Một Nam quốc sơn

hà của Lí Thường Kiệt đem lại sự phấn khích tinh thần to lớn cho binh sĩ và trở thành bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta Đến Hịch tướng sĩ văn, Bình Ngô đại cáo đều là những áng văn chính luận được viết bằng phong cách văn học nên dễ dàng đi vào lòng người Từ xưa, các triều đại phong kiến luôn

có ý thức gắn nhiệm vụ văn học với mục đích chính trị Việc vua Lê Thánh Tông

có sáng kiến thành lập Hội Tao Đàn, qui tụ 28 vị văn thần cùng nhau chúc họa, nhằm ngợi ca tinh thần độc lập tự cường của dân tộc và ca tụng chế độ phong kiến thịnh trị dưới sự trị vì của nhà vua đã minh chứng rõ điều này Trong thời kì chống bọn xâm lược Pháp, văn học gắn chặt với vận mệnh của đất nước, với

sự tồn vong của dân tộc Lịch sử đã đề ra cho văn học nhiệm vụ truyền bá tư tưởng chính trị, phát huy truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc, đấu tranh chống lại tư tưởng nô dịch của bọn thực dân và tư tưởng phong kiến lạc hậu Thơ văn của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, thơ văn vô sản của Hồ Chủ tịch, Sóng Hồng, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Tố Hữu đã đáp ứng được yêu cầu chính trị của từng giai đoạn cách mạng Trên thế giới, từng có những nhà thơ chủ trương làm thơ chính trị như Machiavel (1469

-1527), nhà chính trị và nhà thơ Ý nổi tiếng thời Phục Hưng mà Engels rất ca ngợi Cũng có những người bàn thẳng về chính trị hay viết những vấn đề chính trị bằng hình thức văn học như hai nhà triết học và nhà văn Pháp nổi tiếng ở thời kì Ánh Sáng là Montesquieu (1689 - 1755) và Jean Jacques Rousseau (1712 - 1778)

Tuy vậy, cũng có những tác phẩm khó tìm thấy một tư tưởng hay một tính chất chính trị nào Đứng trước thực tế đó, nếu hiểu vấn đề chính trị trong văn học theo nghĩa rộng và suy cho đến cùng, thì ta vẫn có thể tìm thấy ý nghĩa chính trị của tác phẩm và lập trường chính trị của tác giả nói chung, có thể lí giải được vấn đề tác phẩm đã có đóng góp gì vào đời sống xã hội, có lợi cho ai so với yêu cầu chính trị và xã hội lúc bấy giờ Bởi vì, nói về chính trị là nói đến những vấn

đề có liên hệ đến vận mệnh của Tổ quốc, dân tộc, chế độ, giai cấp, lập trường, thái độ, hành vi của con người sống trong xã hội Theo nghĩa rộng ấy, thì chính

Trang 8

trị giữ vai trò chủ đạo và chi phối toàn bộ đời sống xã hội Không một thành viên nào có thể đứng ngoài sự chi phối đó Còn nghĩa hẹp của vấn đề, là văn học phản ánh trực tiếp hay gián tiếp một tư tưởng, một lập trường, một thái độ, một vấn đề chính trị cụ thể nào khác từ tư tưởng, tình cảm, động cơ của tác giả.Nói đến mối quan hệ giữa văn học và chính trị, chủ yếu là nói đến sự gắn bó mật thiết, tất yếu, và sự tác động qua lại lẫn nhau giữa hai hình thái ý thức trên

từ bên trong đến bên ngoài Sự gắn bó và tác động từ bên ngoài là mối quan hệ giữa văn học với đời sống chính trị nói chung Còn sự gắn bó và tác động từ bên trong là mối quan hệ giữa nhà văn với những vấn đề có ý nghĩa chính trị thể hiện qua khuynh hướng sáng tác, đề tài, chủ đề, nhân vật trong tác phẩm.Tóm lại, quan điểm của chủ nghĩa Marx - Lenine xem mối quan hệ giữa văn học

và chính trị, mà chính trị là hình thái thống lĩnh và chỉ đạo, cuối cùng cũng dẫn

sự sáng tạo chân chính, có hiệu quả cao, bởi chính trị có khả năng nâng cao lí trí, tình cảm và tài năng trong sáng tác văn học

2.2 VĂN HỌC VÀ TRIẾT HỌC

Là sản phẩm của một xã hội cụ thể, triết học cũng biến đổi theo sự biến đổi của các cuộc đấu tranh xã hội Nghĩa là “ triết học không đứng ngoài thế giới ” (K Marx) Trước khi trở thành một khoa học, triết học đã nảy sinh và phát triển thông qua sự nhận thức của con người về tự nhiên, vũ trụ và về đời sống xã hội

Quan hệ giữa triết học và văn học là quan hệ giữa ý thức, tư tưởng (đã qui lại thành thế giới quan và nhân sinh quan) với nghệ thuật phản ánh và miêu tả Trong quá trình sáng tác, triết học biểu hiện ở phương diện nó cung cấp cho nhà văn một cách nhìn, một cách rút ra những kết luận về sự vật và con người Ngược lại, văn học cũng là những chất liệu cần thiết của triết học, giúp cho triết học phát triển Nhà văn miêu tả, phản ánh hiện thực đời sống một cách phiến diện hay toàn diện, xuất phát từ chủ quan hay căn cứ vào thực tế khách quan, tìm thấy hiện tượng hay bản chất , đó đều là những biểu hiện của triết học trong quan điểm và nhận thức của người sáng tác Qua tác phẩm văn học, triết học có thể tìm thấy những biểu hiện của tư tưởng dân tộc, của sự phát triển tư duy, tâm lí con người, của những quan điểm đạo đức, mĩ học

Từ văn học dân gian cho đến văn học viết của các dân tộc khác nhau đều dễ dàng tìm thấy dấu ấn của những tư tưởng triết lí Ở văn học dân gian của ta chẳng hạn, từ truyện cổ tích, ca dao, hò, vè, tục ngữ đến truyện cười của người Kinh cũng như của các dân tộc ít người đều mang đậm tư tưởng triết lí của quần chúng qua các thời đại Đó có thể là những vấn đề nhân tâm thế sự được nêu lên, vấn đề đấu tranh giai cấp, những vấn đề thuộc mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người và tự nhiên, con người và vũ trụ Truyền thống triết lí còn thể hiện rất rõ trong thơ văn dân tộc Những nhà thơ lớn của ta,

từ các thiền sư như Vạn Hạnh, Mãn Giác, đến Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh đều là những nhà tư tưởng, những triết gia Trong nền văn học các nước khác, triết học cũng thường lấy văn học làm chỗ dựa, làm nơi để triển khai những quan điểm, luận điểm Những nhà triết học Thế kỉ Ánh Sáng ở

Trang 9

Pháp đều là những nhà văn lớn Nhiều nhà thơ lớn của Trung Quốc, Nga, Anh,

Mĩ, Pháp, Ấn Độ tư tưởng của họ đạt đến tầm triết lí (như Lí Bạch, Đỗ Phủ, Nekrassov, R Browning, W Withman, V Hugo, Tagor )

Hơn một thế kỉ nay, ở các nước phương Tây, giữa văn học và triết học (chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc ) đã có sự thâm nhập vào nhau rất mạnh mẽ Khi tìm hiểu, nhận xét, cần phải biết đến cái gốc triết học và những biểu hiện cụ thể của nó trong lĩnh vực văn học Đối với xã hội ta ngày nay, triết học Marx - Lenine là kim chỉ nam cho

tư tưởng và là nguồn cảm hứng cho văn học Nó giúp cho nhà văn có cái nhìn đúng về hiện thực, phản ánh cuộc sống và con người một cách chân thật, hùng hồn, khám phá ra chân lí của đời sống qua chân lí nghệ thuật

2.3 VĂN HỌC VÀ ĐẠO ĐỨC

Từ trong bản chất, văn học bao giờ cũng hướng đến cái CHÂN, cái THIỆN, cái

MĨ Chính vì vậy, văn học có mối quan hệ chặt chẽ với đạo đức, nhất là văn học các nước phương Đông Xét trên bình diện giáo dục con người, văn học và đạo đức không có sự khác biệt nhiều lắm, thậm chí còn thống nhất với nhau Dựa vào những tiêu chuẩn đạo đức, văn học xây dựng những “ kiểu mẫu “, những xu thế nhất định để làm gương cho mọi người Bằng cách đó, văn học góp phần hình thành phong thái đạo đức cho con người Diderot, nhà tư tưởng của giai cấp tư sản cách mạng Pháp thế kỉ XVIII, có nói : “ Nghệ thuật làm cho đức tốt trở nên đáng yêu và tật xấu trở nên đáng ghét “ Nghĩa là, văn học không thể tách rời đạo đức Ngược lại, những vấn đề của đạo đức đồng thời cũng là

những vấn đề của văn học, bởi vì vấn đề trung tâm của đạo đức cũng như của văn học bao giờ cũng là mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng Mặc dù vậy, văn học và đạo đức không phải là một Văn học giáo dục con người thông qua những hình tượng nghệ thuật mang tính thẩm mĩ, còn đạo đức tác động tới con người bằng lí luận, bằng những kết luận mang tính qui phạm

Sáng tác văn học đòi hỏi ở nhà văn kinh nghiệm sống, vốn sống, nhưng cũng đòi hỏi ở họ sự hiểu biết về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học về con người, nhất là những qui luật trong đời sống tâm lí phức tạp của con người

Trang 10

Sống nhiều, lăn lộn nhiều có thể giúp nhà văn có được sự hiểu biết đó Nhưng nếu được trang bị thêm những kiến thức tâm lí học, xã hội học theo quan điểm marxisme - leninisme cần thiết cho sự hiểu biết về đời sống con người và xã hội, thì nó sẽ giúp ích cho nhà văn rất nhiều trong quá trình nhận thức, khám phá thế giới nội tâm, “ biện chứng tâm hồn ” phong phú, đa dạng của con người trong mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh, giữa tâm lí cá nhân với tâm lí

xã hội nói chung

Trong thời đại ngày nay, con người làm chủ khoa học - công nghệ, làm chủ công cụ sản xuất, đang trở thành đối tượng khám phá mới của văn học Nhà văn không theo kịp những đổi mới trong lĩnh vực khoa học - công nghệ thì chẳng những không nắm bắt kịp thời những đổi thay trong cuộc sống mới, mà cũng không hiểu nổi tâm lí, tính cách của những con người đang làm chủ cuộc sống hiện đại Tất nhiên, yêu cầu hiểu biết về khoa học ở nhà văn không giống như đối với một nhà khoa học Tùy theo yêu cầu của đề tài, nội dung phản ánh, miêu tả mà nhà văn cần đi vào tìm hiểu một ngành chuyên môn nhất định nào

đó, nắm được khoa học - công nghệ chuyên ngành ở mức độ có thể phản ánh những biến đổi về tư tưởng, tâm lí, cách tổ chức, quản lí qui trình hoạt động, những cải tiến, sáng kiến, phát minh của con người làm lợi cho lĩnh vực hoạt động đó đang diễn ra trong đời sống chúng ta, chứ không phải để hướng dẫn quần chúng về khoa học - công nghệ

Nói tóm lại, khoa học một khi đi vào đời sống lại trở thành đối tượng phản ánh của văn học Mối quan hệ giữa văn học và khoa học không chỉ đơn thuần là mối quan hệ giữa hai hình thái ý thức trước đối tượng chung là hiện thực khách quan và đời sống con người, mà còn là mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng

Là công cụ để hiểu biết, khám phá và sáng tạo, bản thân văn học cũng cần có một phương pháp khoa học trong phản ánh, miêu tả con người và đời sống, đó

là phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa Bằng thế giới quan và phản ánh luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa giúp nhà văn phản ánh chân thật, cụ thể - lịch sử cuộc sống trong quá trình phát triển cách mạng của nó Qua tác phẩm văn học, qua hiện thực muôn màu, muôn vẻ được phản ánh trong tác phẩm, người đọc hiểu thêm những qui luật khác nhau của đời sống, hiểu thêm khoa học về đời sống Nói cách khác, đó chính là chân lí khách quan của đời sống được nhận thức qua chân lí nghệ thuật

Chương II: Hiện Thực Trong văn Học

Văn học là một hình thái ý thức xã hội Cơ sở triết học để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa văn học và hiện thực là phản ánh luận của chủ nghĩa Marx - Lenine Đó là lí luận về nguồn gốc của nhận thức và hình thức của quá trình nhận thức, về khả năng nhận thức thế giới của con người

Trang 11

Hiện thực khách quan và vai trò của nhà văn trong nhận thức hiện thực

1 TÍNH HIỆN THỰC TRONG VĂN HỌC

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx - Lenine, thế giới vật chất là tồn tại khách quan, có trước và quyết định ý thức; ý thức là phản ánh của thế giới khách quan vào đầu óc con người Tương tự, văn học chính là sự phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc nhà văn Và nếu như ý thức của con người hoàn toàn có khả năng phản ánh đúng đắn tồn tại khách quan và tác động tích cực trở lại tồn tại khách quan, thì văn học cũng hoàn toàn có khả năng nhận thức được bản chất và qui luật của hiện thực khách quan và tác động tích cực lại hiện thực, cải tạo hiện thực Về mối quan hệ giữa tồn tại (cái được phản ánh)

và ý thức (cái phản ánh), V I Lenine đã có phát biểu: “Cảm giác của chúng ta,

ý thức của chúng ta, chẳng qua là hình ảnh của thế giới bên ngoài, vả chăng rõ ràng không có cái được phản ánh thì không có sự phản ánh, nhưng cái được phản ánh lại tồn tại độc lập đối với cái phản ánh “ (1) Điều ấy cũng có nghĩa hiện thực là nguồn gốc của nhận thức, của ý thức; nó tồn tại độc lập với nhận thức của con người Văn học là một hình thái ý thức, một hình thức nhận thức của con người, do đó đời sống là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng văn học, đồng thời là cái chìa khóa giải thích những hiện tượng phức tạp của văn học

Bất kì một nền văn học nào cũng hình thành trên một cơ sở hiện thực nhất định Không một nhà văn nào lại không thoát khai từ một môi trường sống nhất định Tác phẩm văn học nào cũng phản ánh hiện thực đời sống Nhà văn muốn hay không muốn, văn học vẫn phản ánh hiện thực khách quan theo cách này hay cách khác Phản ánh hiện thực trở thành một qui luật của văn học Dù cho tác phẩm nào đó thoạt nhìn chỉ phản ánh ý thức tư tưởng, tình cảm của bản thân nhà văn, thì suy cho cùng, chính ý thức tư tưởng, tình cảm ấy cũng là sự phản ánh hiện thực khách quan Không kể vô số tác phẩm phản ánh trực tiếp hiện thực đời sống như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Sống mòn (Nam Cao), Kĩ nghệ lấy Tây (Vũ Trọng Phụng), cả những tác phẩm thể hiện những tưởng tượng kì quặc, những hình tượng hoang đường nhất như hình tượng nhân vật Gregor Samsa (trong truyện ngắn Hóa thân hay có lúc dịch là Biến dạng, của Franz Kafka, nhà văn Tiệp gốc Do Thái) sau một sáng tỉnh giấc bỗng nhiên thấy mình biến thành một côn trùng khổng lồ, hay cái đuôi con lợn của thằng bé cuối cùng trong dòng họ Buendya (ở tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của nhà văn Colombia

G G Marquez) cũng là được tạo ra từ những chất liệu của đời sống hiện thực, phản ánh một kiểu tiếp nhận hiện thực của nhà văn

Giá trị của tác phẩm văn học trước tiên là ở chỗ nó phản ánh đúng đắn đến mức nào hiện thực khách quan, giúp cho người đọc nhận thức đến mức nào chân lí cuộc sống, tác động đến mức nào khả năng cải tạo cuộc sống của họ Vậy, thế nào là phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan?

Các nhà văn khách quan chủ nghĩa (tự nhiên chủ nghĩa) chủ trương hiện thực như thế nào thì miêu tả như thế ấy, càng chi tiết càng tốt Thái độ khách quan chủ nghĩa thể hiện ở chủ trương chỉ coi trọng sự kiện, hiện tượng, không cần xem xét nguồn gốc, bản chất Trong quá trình sáng tác, nhà văn chỉ cần ghi chép càng tỉ mỉ càng tốt mọi chi tiết của hiện thực đời sống Điều ấy có nghĩa là

Trang 12

nhà văn chỉ cần trình bày cái “ thế nào ” mà không cần quan tâm cái “ tại sao ” của sự vật Thực chất, đó chính là sự phủ nhận nguyên tắc khái quát hóa, điển hình hóa hiện thực, nguyên tắc thẩm mĩ của nghệ thuật.

Bên cạnh thái độ khách quan chủ nghĩa nêu trên còn có thái độ chủ quan chủ nghĩa thể hiện ở khuynh hướng tô hồng, bôi đen hiện thực, bệnh công thức, sơ

đồ, sơ lược, một chiều, phiến diện đều là những thái độ sai lầm trong việc phản ánh hiện thực

Thái độ đúng đắn của nhà văn đối với hiện thực không phải là thái độ khách quan chủ nghĩa hay chủ quan chủ nghĩa đã đề cập, mà là thái độ thừa nhận hiện thực khách quan và phản ánh hiện thực trong tính qui luật của nó Đó là một hiện thực được phản ánh trong mối quan hệ với con người Một tác phẩm

có giá trị hiện thực là tác phẩm giúp cho người đọc nhận thức được tính qui luật của hiện thực, chân lí của đời sống Hiện thực là nguồn gốc của nhận thức và là

cơ sở của toàn bộ quá trình nhận thức Chính nhà văn phải thông qua thực tiễn

mà hình thành, kiểm nghiệm, uốn nắn, bổ sung, phát triển, thậm chí thay đổi cả những nhận thức của mình về chân lí đời sống Cho nên, nhà văn không thể xa rời thực tiễn đời sống Thực tiễn do đó , là mục đích của nhận thức, là thước đo giá trị của tác phẩm văn học Từ lâu, Truyện Kiều đã đi vào đời sống tình cảm

và tâm hồn của biết bao thế hệ người Việt Nam, là vì quần chúng lao động đã nhìn thấy ở Thúy Kiều, không thể ai khác, hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam sống trong lòng xã hội phong kiến bất công, tàn bạo Quần chúng xót xa cho số phận của Kiều cũng là số phận của mình; gặp gỡ ước mơ, khát vọng về tự do, công lí của mình qua cảm hứng và nhận thức của Nguyễn Du trong toàn bộ quá trình xây dựng tác phẩm, nhất là khi nhà thơ tập trung thể hiện hình tượng các nhân vật trung tâm: Thúy Kiều và Từ Hải Không thể nói rằng bức tranh hiện thực Truyện Kiều không liên quan gì đến hiện thực cuộc sống thời đại Nguyễn

Du đang sống Và sự thật là những tác phẩm đã trải qua thử thách của thời gian, sự sàng lọc nghiêm khắc của thực tiễn đời sống mới có được sức sống mạnh mẽ và bền bỉ trong tâm trí người đọc đến như vậy

Do đó, có thể nói : tính hiện thực là thuộc tính tất yếu của văn học

2 VAI TRÒ CỦA NHÀ VĂN TRONG SỰ NHẬN THỨC HIỆN THỰC

Văn học không phải là một tấm gương vô tri hay một máy ảnh tự động sao chép máy móc đời sống Nó là một hình thái ý thức xã hội Mọi hình thái ý thức xã hội đều phản ánh hiện thực khách quan Với tư cách là một hình thái ý thức, cũng như triết học, văn học không chỉ góp phần “giải thích thế giới bằng cách này hay cách khác mà chủ yếu là nhằm cải tạo thế giới “ (Marx) Sự phản ánh hiện thực của văn học là sự phản ánh có khám phá, có sáng tạo, có mục đích Từ hiện thực đến văn học, từ đối tượng phản ánh đến nội dung tác phẩm, đó là cả một quá trình “ nhào nặn vật chất theo qui luật của cái đẹp ” (Marx), không phải cứng nhắc, đơn giản mà năng động, phức tạp, thậm chí chứa đầy những mâu thuẫn biện chứng Đó là quá trình đi từ đời sống, qua nhà văn, đến tác phẩm; hay nói cách khác, đi từ khách thể, qua chủ thể, đến hình tượng nghệ thuật Với

ý nghĩa ấy, hiện thực được miêu tả, phản ánh trong văn học là hiện thực đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn V G Belinski có viết: “Tác

Trang 13

phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó mô tả cuộc sống chỉ để mô tả, mà không có sự thôi thúc chủ quan mạnh mẽ nào đó có nguồn gốc trong tư tưởng bao trùm thời đại, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hoặc lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra câu hỏi hoặc không trả lời cho câu hỏi đó “ (2)

Thật vậy, không giống với nhiều lĩnh vực hoạt động khác, sáng tác văn học là một hoạt động hiểu biết, khám phá, sáng tạo Ở đó, vai trò của nhân tố chủ quan nhà văn được bộc lộ đặc biệt mạnh mẽ và phong phú Bản thân nhà văn vừa là một thực thể tâm - sinh lí, vừa là một thực thể xã hội Chủ thể nhà văn kết hợp cá tính, bản lĩnh của mình với tính quần thể, tính cộng đồng của môi trường xã hội, từ môi trường hẹp là gia đình đến môi trường rộng là nhân loại Trong môi trường sống đó, anh ta chịu sự qui định của truyền thống, phong tục, tập quán, văn hóa, giáo dục, sự qui định của tính dân tộc và đặc biệt là tính giai cấp Tính giai cấp quán xuyến thế giới quan, lí tưởng thẩm mĩ và hoạt động sáng tạo của nhà văn

Vốn sống là nguồn chất liệu quan trọng và vô tận của văn học, là khâu nối liền nhà văn với đời sống Tuy nhiên, không phải vốn sống quyết định tất cả Hễ có

đi vào đời sống là có tác phẩm, như có lúc đã lưu hành quan niệm như vậy Thực tế cho thấy, một số nhà văn cùng đi như nhau nhưng chất lượng tác phẩm viết ra lại không đồng đều về quan điểm, lập trường, tư tưởng, về mặt sáng tạo nghệ thuật Cũng có những nhà văn đi, về nhưng không viết được, hoặc những

gì viết ra chưa đủ thể hiện sự nắm bắt của tác giả ở chiều sâu bản chất sự vật Ngoài ra, trong đời sống văn học cũng thường nảy sinh những bất đồng ý kiến, những cuộc tranh luận chung quanh vấn đề cách cảm, cách nghĩ, lập trường, quan điểm nhìn nhận sự việc, con người nói chung, không phải cái gì khác ngoài vấn đề thế giới quan và sứ mệnh chính trị của người cầm bút trong thời đại nhà văn đang sống

Thật vậy, trong thế giới chủ quan của nhà văn, một yếu tố chiếm vị trí đặc biệt quan trọng đó là thế giới quan “ Toàn bộ tư tưởng của con người hợp lại thành

vũ trụ quan và nhân sinh quan “(Lê Duẩn) Trong lĩnh vực sáng tác văn học, người ta thường gọi vũ trụ quan là thế giới quan Thế giới quan là “ hệ thống quan điểm, khái niệm và quan niệm về toàn bộ thế giới chung quanh mình Theo nghĩa tổng quát, đó là toàn bộ những quan điểm về thế giới, về những hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội: các quan điểm triết học, xã hội và chính trị, luân lí, mĩ học, khoa học, ” (3) Trong thế giới quan, quan điểm triết học giữ vị trí then chốt, có tác dụng định hướng cho con người, bởi đó là những quan điểm về ngọn nguồn và về qui luật phát triển của thế giới, của sự vật và cuộc sống, về các phạm trù có liên quan đến các hiện tượng trong tự nhiên và đời sống xã hội như bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả, tất yếu và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức

Thế giới quan chi phối phạm vi hiện thực mà nhà văn quan tâm Về chính trị và

xã hội, thế giới quan thể hiện ở quan điểm nhìn nhận những vấn đề cơ bản của con người trong các quan hệ xã hội và trong mối tương quan giai cấp như vấn

đề tự do của con người, độc lập của dân tộc, vấn đề xâm lược và chống xâm lược, vấn đề áp bức bóc lột và chống áp bức bóc lột, vấn đề quyền lợi và nghĩa

Trang 14

vụ, cái riêng và cái chung Sự lí giải, đánh giá, chiều hướng giải quyết những vấn đề hiện thực phụ thuộc vào thái độ, phương pháp nhận thức của nhà văn trong việc thừa nhận và phản ánh hiện thực trong tính qui luật của nó Cùng miêu tả mối quan hệ địa chủ - nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945, nhưng cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách lí giải, đánh giá của Khái Hưng trong Gia đình (1936), của Hoàng Đạo trong Con đường sáng (1938) rất khác so với Ngô Tất Tố trong Tắt đèn (1939) Ở các nhà văn Tự lực văn đoàn, mối quan hệ địa chủ - nông dân được miêu tả như một thứ quan hệ hài hòa hữu nghị, địa chủ luôn theo đuổi ý nghĩ và hành động mở mang đồn điền, cải thiện đời sống tối tăm, khổ cực của nông dân, tá điền thì nhớ ơn quí trọng địa chủ Còn ở Tắt đèn, nhà văn đã thể hiện sự thông cảm với đời sống cơ cực, vất vả của nông dân, nhất là của cố nông, do chính sách áp bức, bóc lột nặng nề của bọn thực dân phong kiến Ngô Tất Tố cũng đã cho người đọc thấy được bản chất tốt đẹp của người nông dân và cuộc đấu tranh của họ để bảo vệ nhân phẩm, chừng mực thể hiện qui luật đấu tranh giai cấp: có áp bức có đấu tranh, tức nước thì vỡ bờ.

Mặc dầu cần tách lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn riêng ra, thế giới quan tự nó cũng chứa đựng một phạm vi nào đó những quan điểm thẩm mĩ của nhà văn đối với hiện thực Đó là những quan điểm về cái thiện, cái ác, cái đẹp, cái xấu, cái cao cả, cái thấp hèn, cái bi, cái hài Những quan điểm này khi có tính chất

hệ thống thì trở thành lí tưởng thẩm mĩ

Các quan điểm triết học, chính trị, thẩm mĩ làm thành toàn bộ thế giới tư tưởng của nhà văn và tồn tại với tính chất là một tổng thể, có quan hệ trực tiếp với cách nhìn nhận hiện thực của nhà văn Trong ba yếu tố đó, chính trị là yếu tố cơ bản, năng động và nhạy bén nhất, thường chỉ đạo các yếu tố khác Sự chuyển biến về phương diện chính trị thường thúc đẩy sự chuyển biến về các mặt triết học và thẩm mĩ, làm cho thế giới quan phát triển trong một thể tương đối thống nhất Thế giới quan thể hiện lập trường của nhà văn tức chỗ đứng về mặt giai cấp Biểu hiện về mặt lập trường, thế giới quan có hai mặt : triết học (duy tâm hay duy vật) và chính trị (đứng về phía lực lượng xã hội nào, áp bức bóc lột hay chống áp bức bóc lột, tiến bộ hay phản tiến bộ, cách mạng hay phản cách

mạng) Trên cơ sở lập trường sẽ hình thành quan niệm thẩm mĩ của nhà văn, tức là sự phát hiện, tiếp nhận và phản ánh cái đẹp của hiện thực vào trong tác phẩm của nhà văn

Kiến thức văn hóa tuy không phải là một thành phần của thế giới quan, không nằm trong thế giới quan, nhưng nó có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến thế giới quan Khi nói thế giới quan chủ yếu là nói đến ý thức tư tưởng, hệ thống những tư tưởng triết học, chính trị, thẩm mĩ biểu hiện thành quan điểm, tức cách nhìn, cách cảm nghĩ, cách hiểu, cách đánh giá hiện thực khách quan

và đời sống con người Kiến thức văn hóa thông qua hoạt động thực tiễn và học tập nghiên cứu biến thành nhận thức, từ đó chuyển vào ý thức, tư tưởng, vào thế giới quan của nhà văn trong sáng tác văn học

Như vậy, thế giới quan là cái bao trùm, chỉ đạo toàn bộ thế giới tinh thần và đời sống bên trong của nhà văn Trong sự nhận thức hiện thực, vai trò của nhà văn

Trang 15

với tư cách là chủ thể sáng tạo, được thể hiện trước hết qua thế giới quan, bởi

có thể xem đó vừa là “cái đầu ”, vừa là linh hồn của toàn bộ cơ thể sáng tác Nó

là cái khâu đầu và là khâu cơ bản quyết định việc lựa chọn phương pháp sáng tác và dây chuyền sáng tác của nhà văn Khẳng định ý nghĩa quan trọng của thế giới quan trong việc miêu tả hiện thực là nhằm nhấn mạnh vai trò chủ thể nhà văn trong sáng tác văn học

Tóm lại, trên cơ sở phản ánh luận Marx - Lenine, văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Cái chủ quan của nhà văn xét đến cùng cũng bắt nguồn từ hiện thực khách quan Hiện thực khách quan đó không đi thẳng vào tác phẩm văn học mà khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn Nói khác đi, tác phẩm văn học là sự khách thể hóa, “vật chất hóa ” hệ thống hình tượng trong thế giới tinh thần của nhà văn

Hiện thực thứ hai - hiện thực được nhà văn sáng tạo trong tác phẩm văn họcHiện thực trong tác phẩm là hiện thực đã được tái tạo qua thế giới chủ quan của nhà văn Hiện thực đó là một hiện thực khác, hiện thực thứ hai, dù mang hình bóng thế giới hiện thực khách quan của đời sống Thế giới hiện thực trong tác phẩm không phải lúc nào cũng mang một nội dung ý nghĩa đồng nhất với đời sống thực tại Đó là thế giới hiện thực đã được chọn lọc, khái quát hóa, điển hình hóa, thế giới chứa đựng sự sáng tạo của nhà văn

Trong tác phẩm văn học, dù sáng tác theo phương thức nào, tự sự hay trữ tình, theo cảm hứng nào, lãng mạn hay hiện thực, nhà văn đều phải lựa chọn, sắp xếp, lược bỏ những cái ngẫu nhiên, vụn vặt, nhất thời để làm nổi bật bản chất của hiện thực được phản ánh Đọc Truyện Kiều, khi đối chiếu với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, người đọc có thể thấy rõ sự sáng tạo của Nguyễn Du ở chỗ nhà thơ đã mạnh dạn gạt bỏ những gì liên quan đến chủ nghĩa tự nhiên, gạt bỏ lối giáo huấn lộ liễu đầy rẫy trong tác phẩm của nhà văn sống vào cuối đời Minh này, “ chỉ giữ lại những gì phù hợp với những điều trông thấy, từng trải của mình và thể hiện nó bằng một ngòi bút tràn đầy cảm xúc của một nhà thơ chân chính “ (4), ” ngay trong trường hợp Nguyễn Du giữ lại

những tình tiết cũ của Thanh Tâm Tài Nhân, thì đó cũng không phải là giữ lại nguyên vẹn, không có sáng tạo ” (5) Đúng như Gœthe đã nhận xét, thực chất của chủ nghĩa tự nhiên là “sự lẫn lộn giữa tự nhiên và nghệ thuật “, không biết rằng “ nghệ sĩ phải từ cái tự nhiên ấy mà sáng tạo ra một tự nhiên thứ hai “ (6).Văn học phản ánh hiện thực, nhưng nó không làm cái việc phản ánh thụ động như một tấm gương Vai trò của nhà văn trong quá trình văn học phản ánh đời sống là hết sức quan trọng Chính vai trò của chủ thể, thái độ của nhà văn đối với cuộc sống, làm cho văn học trở thành một lời tâm sự, một sự kí thác, một tiếng kêu cảnh tỉnh hay thúc giục hành động, một sự bộc lộ thái độ, tư tưởng, tình cảm chủ quan của nhà văn đối với thế giới và con người Nhược điểm lớn nhất và có tính chất bao trùm của chủ nghĩa tự nhiên là bê nguyên xi hiện thực đời sống vào trong tác phẩm Không thể đồng nhất thế giới hiện thực trong tác phẩm với thực tại đời sống, bởi lẽ nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng bao

Trang 16

giờ cũng có tính ước lệ, nó không chỉ phản ánh hiện thực khách quan mà còn là

sự bộc lộ, biểu hiện thái độ chủ quan của nhà văn

Hình tượng con đường có thể xem là đặc điểm chung của thơ ca cách mạng Việt Nam và thơ ca cách mạng thế giới Trong thơ Tố Hữu, con đường đã được thể hiện thật nổi bật, phong phú, nhất quán và trở thành nét tư duy cơ bản, đặc sắc trong thơ ông: đó là con đường đi đày của những người không chết - những người chiến sĩ -, là con đường cách mạng mỗi lúc mỗi hiện ra rõ mồn một, thênh thang, tít tắp, mở ra nhiều hướng, nhiều bình diện - con đường ra trận, con đường chiến thắng, con đường thống nhất, con đường hạnh phúc, con đường tình nghĩa, con đường sáng tạo, con đường của cha ông, con đường thắng lợi, con đường sang nước bạn, con đường ra thế giới Con đường như thế đã thành một không gian nghệ thuật chung, không gian xã hội cho mọi

người Việt Nam, ở đó, người đọc có thể gặp gỡ hầu hết mọi tầng lớp quần chúng đông đảo của cách mạng

Vấn đề thời gian nghệ thuật trong văn học cũng có những minh chứng tương tự Thời gian trong tác phẩm văn học không đơn thuần là thời gian vật lí, thời gian tuyến tính Nhiều hình thức thời gian nghệ thuật mới được thể hiện làm phong phú nền văn học thế giới thế kỉ XX gắn liền với tư duy liên tưởng, chiều sâu văn hóa, với ý thức của nhà văn về quá trình lịch sử sôi động diễn ra trên các lĩnh vực cách mạng xã hội và khoa học kĩ thuật - công nghệ Đó là sự xáo trộn các bình diện thời gian, chú trọng vai trò của thời gian hồi tưởng và thời gian tâm lí,

mở rộng thời gian lịch sử Nhà triết học Pháp J P Sartre có nhận xét về các nhà văn phương Tây: “ Phần đông các nhà văn hiện đại - Proust, Joyce, Dos Passos, Faulkner, Gide, Virginia Wolf, mỗi người đều đã hủy hoại thời gian theo cách riêng Có người đã cắt bỏ quá khứ và tương lai, rút gọn thời gian vào khoảnh khắc trực giác, có người, như Dos Passos, lại biến thời gian thành một

kí ức hạn chế và máy móc Proust và Faulkner thì chỉ giản đơn chặt đầu thời gian Họ tước bỏ tương lai của nó, tức là tước bỏ đi cái chiều lựa chọn và hành động tự do của con người ” (7) Trong các tác phẩm văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, vấn đề thời gian lịch sử trong mối quan hệ với cá nhân, sự vận động của dòng thời gian mang nhịp sống lớn của thời đại, sự khám phá về tương lai của xã hội đã được nhiều nhà văn quan tâm thể hiện Thời gian nghệ thuật trong thơ Tố Hữu là sự phát triển của thời gian nghệ thuật trong thơ ca dân tộc với nhiều biểu hiện phong phú, nổi bật nhất là việc xây dựng thành công hình tượng thời gian lịch sử với nhiều bình diện khác nhau, là sự khắc họa dòng thời gian vận động mang nhịp sống lớn của thời đại

Trong văn chương, nhiều lúc sự thể hiện những cảm nhận phi logic về đời sống hiện thực lại rất phù hợp với qui luật của tình cảm Cái phi lí trong thế giới hiện thực thứ hai ấy lại có lí do để tồn tại và chịu sự qui định của các qui luật đặc thù trong thế giới nghệ thuật Đi vào thế giới này là đi vào một kênh giao tiếp khác với những mã số, kí hiệu, giọng nói, chương trình riêng, cần có những thao tác phù hợp Chẳng hạn, để nắm bắt cái thần, cái trạng thái tình cảm mơ hồ không xác định của nhân vật trữ tình trong các câu thơ sau đây của Xuân Diệu: “ Cành biếc run run chân ý nhi ” ; “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời ”, “Tương

tư nâng lòng lên chơi vơi ”; “ Con cò trên ruộng cánh phân vân ” cần phải chú ý

Trang 17

phân tích các từ : run run, chơi vơi, phân vân Trong hầu hết những truyện ngắn, truyện dài của Vũ Trọng Phụng, các tình tiết, tình huống, các quan hệ nhân vật và số phận đều được nhà văn xếp đặt, tổ chức theo nguyên tắc ngẫu nhiên, may rủi như : bố con trở thành kẻ thù, vợ chồng hóa ra anh em, thằng bỗng hóa ra ông, ông lại hóa ra thằng, đang nghèo đói trở nên giàu có hoặc ngược lại, cuộc sống quay cuồng vì vận hạn may rủi, vì số đen số đỏ Thêm vào đó là ba tiếng “vô nghĩa lí ” được sử dụng như một định ngữ chua chát với

đủ mọi đối tượng: cuộc đời vô nghĩa lí, bộ mặt vô nghĩa lí, hành vi vô nghĩa lí, cái cười vô nghĩa lí, cái khóc vô nghĩa lí Tất cả những hiện tượng phổ biến, có tính hệ thống đó có nguồn gốc từ tư tưởng bi quan định mệnh và tâm trạng phẫn uất không nguôi của nhà văn đối với hiện thực xã hội thực dân phong kiến bất công, tàn nhẫn, dâm đãng, lố lăng, bịp bợm và hết sức vô nghĩa lí đương thời Thế giới hiện thực ấy lúc nào cũng như bị xốc lên, bị đảo lộn khác thường

Đó chính là tiếng nói nghệ thuật độc đáo mà Vũ Trọng Phụng đã đem đến cho người đọc

Từ nội dung trình bày trên cho thấy, thế giới hiện thực trong tác phẩm ngoài sự đòi hỏi phải phản ánh một cách chân thực, cụ thể, sinh động hiện thực đời sống, bản thân nó cũng mang những giá trị thẩm mĩ riêng biệt, bộc lộ sự nhận thức thế giới độc đáo của nhà văn Không thể đồng nhất chân lí nghệ thuật với chân lí đời sống Trong Bút kí triết học, Lenine đã từng tán thành ý kiến của L Feuerbach đối với triết học của Lepnitz: “ Nghệ thuật không đòi hỏi người ta phải thừa nhận các tác phẩm của nó như là hiện thực “ (8) Thật vậy, những giá trị thẩm mĩ trong tác phẩm chứa đựng những xúc cảm, khát vọng của con người

về cuộc đời, là sự thể hiện những giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống qua cách nhìn, cách cảm, qua trí tưởng tượng và sáng tạo của nhà văn Người đọc dễ dàng tìm thấy thế giới tưởng tượng bay bổng, giàu tính nhân văn trong hàng loạt những câu chuyện cổ tích: Thạch Sanh, Tấm Cám, Phượng hoàng và cây khế Trong tư thế “ Như Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi ” (Tố Hữu), trong

“Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ “ (Lê Anh Xuân) của những Giải phóng quân thời kì chống Mĩ cứu nước, người đọc đều cảm nhận được sức mạnh truyền thống nhân nghĩa và anh hùng của dân tộc kết tinh trong từng hình

tượng nhà văn xây dựng nên

Nói tóm lại, thế giới nghệ thuật trong tác phẩm là thế giới đã được chọn lọc, sắp xếp, sáng tạo lại theo ý đồ, quan niệm nghệ thuật của nhà văn Hiện thực trong tác phẩm là hiện thực thứ hai, hiện thực trong quan hệ của nó với con người

Sự miêu tả hiện thực trong tác phẩm văn học không phải là sự bắt chước máy móc hiện thực tự nhiên Người bắt chước tốt nhất cũng chỉ nhân đôi đối tượng miêu tả chứ không thể tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới, không tạo ra được mối quan hệ nào giữa những điều miêu tả với đời sống con người, không có giá trị nhân bản nào hết Cho nên, nếu xem sự thật trong tác phẩm văn học là sự thật nguyên vẹn của chính đời sống thì thật là sai lầm Hiện thực trong văn học thường gây tác động đến con người mạnh hơn chính hiện thực đã làm đối tượng của sự miêu tả, bởi hiện thực đó đã được tôi luyện trong ý thức sáng tạo của nhà văn, đã được xây dựng lại cho phù hợp với lí tưởng thẩm mĩ của anh

ta, sau khi đã tước bỏ hết những điều không quan trọng Đúng như nhà lí luận

Trang 18

văn học Nga N A Gulaiev đã viết: “ Tính xác thực trong việc truyền đạt những hình thức bên trong và bên ngoài của đời sống cũng chưa tạo nên toàn bộ nghệ thuật Chân lí nghệ thuật không thể có được nếu thiếu tư tưởng thẩm mĩ ” (9).

Chương III: Chức Năng của Văn Học

Nói đến chức năng của văn học là nói đến ý nghĩa, tác dụng xã hội của văn học Muốn hiểu đầy đủ chức năng của văn học cần phải có cái nhìn tổng hợp, đứng

từ nhiều góc độ, bình diện khác nhau để xem xét Cho đến nay, ý kiến của các nhà nghiên cứu về số lượng các chức năng của văn học vẫn chưa có sự thống nhất Nghiên cứu vấn đề chức năng của văn học cần vận dụng quan điểm hệ thống - cấu trúc để chỉ ra các chức năng, vị trí của chúng trong hệ thống và mối quan hệ giữa các chức năng với nhau Bên cạnh đó, cũng cần chú ý vận dụng

cả quan điểm lịch sử - chức năng để tìm hiểu xem các chức năng ấy đã phát sinh như thế nào, đã biến đổi ra sao qua các thời kì lịch sử, tương quan giữa chúng với nhau trong mỗi giai đoạn, trong sự phát triển của nền văn học dân tộc

Mĩ học Marx - Lenine cho rằng văn học có nhiều chức năng, trong đó các chức năng bồi dưỡng tình cảm thẩm mĩ, giáo dục, nhận thức là những chức năng chủ yếu Ngoài ra, văn học còn có những chức năng khác như giao tiếp, dự báo, giải trí

Chức năng bồi dưỡng tình cảm thẫm mỹ

Chức năng bồi dưỡng tình cảm thẩm mĩ của văn học về cơ bản bộc lộ ở chỗ nó

có nhiệm vụ thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ, phát triển năng lực và thị hiếu thẩm mĩ của con người

Nhu cầu về cái đẹp luôn là nhu cầu rất quan trọng trong đời sống con người Đó

là nhu cầu có tính bản chất của con người Trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, K Marx đã viết: “ Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo và nhu cầu của giống loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo thước đo của bất cứ giống nào và ở đâu cũng có thể áp dụng thước đo thích dụng cho đối tượng ; do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo qui luật của cái đẹp

” (1) Như vậy, dù ở đâu, làm gì, khi nào, con người luôn có xu hướng vươn tới cái đẹp Từ trong bản chất, nhu cầu về cái đẹp là nhu cầu hướng đến lí tưởng

và sự hoàn thiện Đó là thỏa mãn khao khát của con người về sự hài hòa, về những giá trị CHÂN, THIỆN, MĨ cao quí nhất Có thể thấy rằng, đòi hỏi về cái đẹp là nhu cầu rất cao của con người Nó nói lên sự tiến hóa trong quá trình hoạt động thực tiễn phong phú, gắn liền với quá trình phát triển thể chất và tinh thần của con người

Trang 19

Thỏa mãn nhu cầu về cái đẹp không phải chỉ có một mình ở nghệ thuật Trong tất cả các hoạt động của mình, con người luôn tìm cách đáp ứng nhu cầu đó Vì thế, cái đẹp có mặt khắp mọi nơi Từ nhu cầu làm đẹp cho cá nhân đến làm đẹp cho gia đình, đơn vị, tập thể, cộng đồng, dân tộc Trong việc này, hình như nghệ thuật có trách nhiệm nặng nề hơn cả Ở đó, việc sáng tạo nên cái đẹp không phải là yêu cầu phụ mà trở thành mục tiêu, bản chất của nghệ thuật.

Là sản phẩm của một hình thức sáng tạo tuân theo qui luật của cái đẹp, văn học không chỉ thỏa mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp mà còn phát triển ở con người khả năng hành động, sáng tạo theo qui luật ấy Khi nói nghệ thuật làm phong phú đời sống con người, nghĩa là nó giúp cho con người nhạy cảm hơn, tinh tế hơn trong hành động và cảm thụ thế giới Mối quan hệ của con người với thế giới hiện thực không phải là mối quan hệ thụ động mà mang tính tích cực, chủ động Văn học giúp con người tăng cường quan hệ thẩm mĩ với hiện thực, phát triển khả năng lĩnh hội cái đẹp, đồng thời kích thích tiềm năng sáng tạo của con người trong nhiều phạm vi hoạt động thực tiễn Rất nhiều nhà khoa học đã thừa nhận những ảnh hưởng lớn lao của văn học và nghệ thuật nói chung đối với sự nghiệp khoa học của mình Chẳng hạn việc A Einstein đặc biệt đề cao những sáng tác của Dostoievski, xem nhà văn là người có ảnh hưởng lớn nhất đối với

tư tưởng khoa học của ông Nhiều nhà khoa học khác cũng cho rằng chính cái đẹp mà văn học nghệ thuật đem lại đã giúp họ nhanh chóng phát hiện những bất ổn trong qui trình thí nghiệm, thực nghiệm của mình

Văn học thể hiện chức năng bồi dưỡng tình cảm thẩm mĩ bằng nhiều cách Bằng việc chọn lọc, khái quát hóa, điển hình hóa cái đẹp trong hiện thực, văn học đem đến cho người đọc những khoái cảm thẩm mĩ, thỏa mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp của người đọc từ sự phản ánh cái đẹp vốn có trong đời sống tự nhiên và xã hội Nói cách khác, cái đẹp văn học đem lại không phải là cái gì khác hơn là cái đẹp của đời sống được khám phá một cách nghệ thuật Tác phẩm văn học chỉ có ý nghĩa thẩm mĩ, chinh phục trái tim người đọc khi nó đụng chạm đến những vấn đề mà người đọc quan tâm, trăn trở Không thể hình dung được rằng toàn bộ những cảm xúc mà văn học khơi dậy lại không có cội

rễ từ thế giới tình cảm, đạo đức phong phú, đa dạng của con người Nhờ tiếp xúc với tác phẩm văn học, con người không chỉ tìm thấy được những khoái cảm thẩm mĩ trong việc nếm trải những tình huống tâm lí, những trạng thái cảm xúc vốn có trong đời sống mà còn biết khám phá ra cái đẹp, đặc biệt càng trở nên nhạy cảm, tinh tế hơn trước cái đẹp của thế giới khách quan Cái đẹp, do đó, là

sự thanh lọc của tâm hồn, là niềm vui sáng tạo, là sự hân hoan trước sự sáng tạo của người khác và của chính bản thân mình

Nghiên cứu chức năng bồi dưỡng tình cảm thẩm mĩ của văn học, cần tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa, xem chức năng này là toàn bộ mục đích sáng tạo của nhà văn Quan niệm này sẽ dẫn đến chủ nghĩa duy mĩ, chỉ theo đuổi cái đẹp hình thức mà xem thường ý nghĩa nội dung xã hội của tác phẩm

Chức năng giáo dục

Từ trước đến nay, chức năng giáo dục thường được xem là giáo dục đạo đức, phẩm chất cho con người Đây là cách hiểu đúng đắn và phổ biến Tuy nhiên,

Trang 20

nếu chỉ bó hẹp trong lĩnh vực đạo đức chắc chắn sẽ làm nghèo nàn chức năng, tác dụng của văn học nghệ thuật.

Văn học không chỉ giáo dục đạo đức mà còn tác động, cải tạo thế giới quan và các quan điểm chính trị - xã hội của con người Ngay từ thời cổ đại, nhà triết học Hi Lạp Aristote đã coi những giọt nước mắt xúc cảm của con người khi xem kịch sẽ làm cho họ trong sạch và cao thượng hơn Mĩ học châu Âu thế kỉ XVIII

đã rất chú ý đến chức năng giáo dục của văn nghệ

Truyền thống văn học phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng từng xem văn học là một trong những hình thức giáo huấn (còn gọi là giáo hối, có nghĩa là dạy bảo) tư tưởng - đạo đức cho con người Với quan niệm “Văn dĩ tải đạo

“(Văn phải chở đạo), các nhà Nho cho rằng văn bản ngôn từ phải mang nội dung đạo lí mới được xem là tác phẩm văn học Hàng chục thế kỉ qua, biết bao tác phẩm văn học đã thông qua đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ để phát huy chức năng giáo huấn với nhiều thế hệ bạn đọc Vì thế, các nhà nghiên cứu đã xem văn học trung đại có tính chất phi ngã, bởi nhà văn chú ý đến cái “ta” đạo lí hơn là cái “tôi” cảm xúc Một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học nước

ta thể hiện việc sử dụng văn học như một hình thức giáo dục đạo đức, tu dưỡng tính tình là Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu

Chức năng giáo dục cũng bộc lộ khác nhau trong các thời kì văn học, trào lưu văn học khác nhau Có những giai đoạn, do điều kiện lịch sử - xã hội qui định, chức năng giáo dục nổi lên chiếm ưu thế dẫn tới sự xuất hiện của các khuynh hướng luân lí trong văn chương như thơ ngụ ngôn của La Fontaine, những sáng tác thơ văn đạo lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm, truyện Nôm khuyết danh của ta thế kỉ XVIII, XIX Tùy thuộc vào tài năng của nhà văn mà việc tuyên truyền, giáo dục có thể biến tác phẩm thành sự minh họa, thuyết lí khô khan hay đem đến một hiệu quả xã hội - thẩm mĩ to lớn khi nội dung giáo dục được thể hiện sinh động qua hình tượng nghệ thuật

Văn học là một phương tiện quan trọng và có hiệu quả trong việc giáo dục, cải tạo con người bằng tình cảm, thông qua tình cảm Bởi lẽ, bản chất của nghệ thuật là tình cảm Nghệ thuật dù cao siêu, sâu sắc đến đâu cũng đòi hỏi phải xúc động Quá trình tác động để biến cải con người, văn học hiện ra không phải như người thầy, nhà thuyết giáo mà như là người bạn đồng hành, người đối thoại với bạn đọc Sự đối thoại đó diễn ra bên trong mỗi người đọc, đối thoại với chính mình, với lương tâm và lương tri của mình, đối thoại giữa cái thiện và cái

ác, cái cao cả và thấp hèn, lí trí và tình cảm Bằng cách đó, văn học đã chuyển quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, sự thuyết phục từ bên ngoài chuyển thành tự thuyết phục Tùy thuộc vào quá trình nhận thức và khả năng tự đấu tranh ở mỗi người, tác dụng giáo dục từ tác phẩm văn học thấm dần một cách tự nhiên, để rồi đến một lúc nào đó, người đọc sẽ làm theo những điều hay, dở của tác phẩm lúc nào không biết nữa

Tất nhiên, không nên hình dung rằng xem xong một quyển truyện, một bài thơ, lập tức con người sẽ tốt lên hay xấu đi Cũng không nên nghĩ rằng chỉ những ai tiếp xúc với văn học mới chịu sự tác động của nó Ảnh hưởng của văn học là dần dần, lâu dài, theo kiểu lây lan Văn học không có khả năng sản sinh hay

Trang 21

trực tiếp ngăn chặn điều ác Nó chỉ gieo vào người ta ý thức về tội ác, sự xấu

xa, lỗi lầm Bằng ý thức ấy, văn học giúp cho con người ngăn ngừa, đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác để cho cái tốt, cái thiện ngày thêm sinh sôi phát triển

Đó là lí do giải thích vì sao văn học thường được sử dụng như một vũ khí đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội mạnh mẽ

Cũng cần lưu ý thêm rằng, sở dĩ nghệ thuật dễ tác động, cảm hóa con người vì

nó hấp dẫn, vui tươi Ở đây dường như giáo dục, giải trí, vui chơi là một Thậm chí, chính trong những tác phẩm có vẻ như thiếu “nghiêm chỉnh” nhất (ví dụ các thể loại hài hước, châm biếm) thì yêu cầu giáo dục lại được đặt ra một cách hết sức nghiêm chỉnh Đây cũng là điểm độc đáo trong tác động giáo dục của văn học

Chức năng giao tiếp

Khẳng định chức năng giáo dục, ý nghĩa cảm hóa con người, cải tạo xã hội của văn học cũng có nghĩa là gián tiếp khẳng định chức năng giao tiếp của văn học

và nghệ thuật nói chung Đặc tính phổ biến của nghệ thuật là đặc tính thông báo, thông tin Nghệ thuật là một hình thức thông tin có tính xã hội và thẩm mĩ.Ngay từ thời xa xưa, nghệ thuật đã có tác dụng môi giới xã hội Khi hai bộ lạc bất đồng ngôn ngữ giao tiếp với nhau thì vẻ đẹp của các vũ khúc, tiết tấu, đạo

cụ đã trở thành sự kích thích tuyệt vời để những con người xa lạ xích lại gần nhau trong sự tin cậy và tình thân ái Ngày nay, các hình thức giao lưu văn học nghệ thuật nhằm tạo điều kiện cho các dân tộc tăng cường thêm sự hiểu biết, cảm thông lẫn nhau đã trở thành xu hướng phổ biến Sự liên kết nhiều quốc gia trong các tổ chức mang tính quốc tế là hình thức hội nhập kinh tế, văn hóa được nhiều nước tham gia

Sáng tác và thưởng thức nghệ thuật, xét ở một khía cạnh nhất định, là nhằm thỏa mãn nhu cầu được giao tiếp Trong quá trình sáng tác, nhà văn dù ít hay nhiều, cũng phải đứng về phía người đọc mà viết Vì thế, trong ngôn ngữ của nhà văn đã có ngôn ngữ của người đọc Tác phẩm là nơi giao hòa “tiếng nói” nhà văn và “tiếng nói” người đọc, là một sự “đối thoại” giữa nhà văn và người đọc Nhà văn bao giờ cũng mong muốn tìm thấy ở người đọc sự cảm thông, đồng điệu Nguyễn Du đã từng băn khoăn tự hỏi hơn ba trăm năm sau, liệu có

ai hiểu nỗi đau của mình Stendhal (1783 - 1842, nhà văn hiện thực phê phán Pháp) thì chờ người đọc thực sự của mình mãi tận năm mươi năm sau

Từ lâu, những tác phẩm văn học lớn luôn chiếm giữ vai trò là sứ giả tinh thần của thời đại đã sản sinh ra nó đến với các thời đại sau đó Hệ thống thần thoại

và truyền thuyết Hi Lạp cho đến tận hôm nay vẫn vô cùng hấp dẫn, chứa đựng biết bao nhiêu bức thông điệp lớn của người xưa, góp phần làm phong phú tình cảm, tâm hồn con người trên hành tinh Nhiều nền văn học của các dân tộc khác nhau trên thế giới đều có những tác phẩm văn học hay, mà với lượng thông tin - thẩm mĩ phong phú của nó, người đương thời và hậu thế có thể tìm thấy khả năng liên kết, thống nhất giữa các dân tộc trong cuộc đấu tranh chung

vì hòa bình, tự do, hạnh phúc thực sự cho cuộc sống của mỗi con người

Trang 22

cụ thể về cuộc sống và con người trong các tác phẩm văn học hiện thực chủ nghĩa, nhất là văn học hiện thực phê phán Cả một thế giới như hiện ra trước mắt người đọc với thiên nhiên, phố phường, nhà cửa, đường xá, cách bày trí, xếp đặt đồ vật nơi này nơi khác, hình ảnh những con người với dáng vẻ khác nhau, cảnh sinh hoạt, làm ăn, hội hè Không ở đâu sự miêu tả được quan tâm đến từng chi tiết như vậy Chính vì thế, khi đưa ra định nghĩa về chủ nghĩa hiện thực, F Engels hết sức chú ý đến “sự chân thực của các chi tiết ” gắn liền với

“sự tái hiện chân thực những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình “

Những tri thức mà văn học đem lại cho mỗi người đọc thật là bổ ích, nhưng đó chưa phải là cái chủ yếu mà nhà văn và độc giả mong muốn đạt tới Tất nhiên,

ở đây chúng ta không đề cập đến việc những nhà chuyên môn tìm thấy được từ tác phẩm văn học những cứ liệu cần thiết cho việc nghiên cứu của mình ; còn người đọc ít ai lại nghĩ rằng khi tiếp nhận tác phẩm là để xem ở đâu đó người ta

ăn mặc ra sao, sinh hoạt như thế nào, có cái gì là khác lạ với nơi ta ở, có đặc sản gì không Những giá trị khách quan ấy tự đến với người đọc Nhà văn viết

về nó là nhằm tô đậm cho những cái khác quan trọng hơn Đó chính là sự khám phá những vấn đề xã hội và con người của thời đại qua những gì nhà văn đề cập đến

Văn học nói riêng, nghệ thuật nói chung, là một hình thức đặc biệt để con người cảm nhận và tư duy về cuộc sống Nhà triết học Đức vĩ đại Hegel đã từng nêu rõ: “Nghệ thuật có nhiệm vụ khám phá chân lí trong hình thức cảm tính “ (2) Tư tưởng này của Hegel chứa đựng hạt nhân hợp lí và có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng Thật vậy, văn học suy cho cùng, cũng là một hình thức để tiếp cận chân lí Trên tinh thần đó, sự phát triển của khoa học - công nghệ trong thời đại ngày nay, không hề làm lu mờ ý nghĩa nhận thức của văn học, ngược lại, nó càng chứng tỏ rằng bằng văn học con người có thể đạt được sự hiểu biết không kém gì lĩnh vực khoa học tự nhiên

Đặc điểm của nhận thức luôn gắn liền với bản thân đối tượng và yêu cầu nhận thức riêng của nó Với văn học, sự nhận thức hướng về hai đối tượng cơ bản là

xã hội và con người Văn học đem đến cho người đọc chủ yếu không phải là

Trang 23

những ghi chép đời sống và mô tả con người, mà là những nghiên cứu về đời sống xã hội và con người Điều đó, có nghĩa là văn học đồng nghĩa với quá trình

“ hiểu biết, khám phá và sáng tạo “(Phạm Văn Đồng)

Tài năng của nhà văn thể hiện ở khả năng tiếp cận, quan sát, phản ánh một cách sâu rộng những vấn đề cơ bản của xã hội và thời đại đang đặt ra Ý nghĩa khám phá của văn học thể hiện ở những khái quát mà nhà văn đạt tới từ những vấn đề được nêu ra trong tác phẩm Lenine đánh giá rất cao một loạt tác phẩm của thiên tài L Tolstoi viết ra trong hơn một nửa thế kỉ hoạt động văn học khi ông “đã mô tả chủ yếu là nước Nga cũ, trước cách mạng, nước Nga mà ngay sau 1861 cũng vẫn còn ở trong tình trạng nửa nông nô, nước Nga nông thôn, nước Nga của địa chủ và của nông dân “ và “ đã biết đề ra trong các tác phẩm của mình biết bao vấn đề to lớn, đã biết đạt tới một trình độ nghệ thuật khiến cho những tác phẩm của ông chiếm một trong những vị trí hàng đầu trong nền văn học thế giới “ (3) Tiếp xúc với những tác phẩm văn học như vậy, người đọc không những sẽ hiểu biết đầy đủ hơn về xã hội và con người, mà còn cả với chính bản thân mình nữa

Trong sự nhận thức về nhiều phương diện do văn học đem lại, ý nghĩa nhận thức về con người bộc lộ trong nhiều mặt khác nhau: khám phá ra các tính cách điển hình của một tầng lớp, một xã hội, một giai đoạn lịch sử, một thời đại

(chẳng hạn như Evgheni Oneghin, Oblomov, Grandet, AQ., Chí Phèo, Xuân Tóc Đỏ); những lí giải về số phận con người (vấn đề đặt ra trong Truyện Kiều,

Những người khốn khổ, Chiến tranh và Hòa bình), đặc biệt là sự thâm nhập vào thế giới bên trong của con người, thế giới của cảm xúc, của tâm hồn Nhờ vào những thành tựu của văn học tình cảm, văn học lãng mạn, của chủ nghĩa hiện thực tâm lí, của “phép biện chứng tâm hồn “, nhờ những thủ pháp như “ dòng ý thức ”, thế giới tâm hồn và tình cảm của con người đã được khám phá, thể hiện một cách sâu sắc và phong phú Tác phẩm văn học đã trở thành một phương tiện, một hình thức nhận thức về con người không gì thay thế được

Một đặc điểm rất đáng chú ý của nhận thức văn học là dường như cái biết được không là cơ bản, mà hiểu được mới là cái chính Những điều tác phẩm đề cập đến thường không phải là cái gì hoàn toàn mới, chưa nghe, chưa biết đến bao giờ Văn học khác khoa học ở chỗ nó không phát minh mà chủ yếu là lí giải, nghiền ngẫm, cả với những điều muôn thuở Quá trình nhận thức đồng nghĩa với sự giác ngộ, hiểu ra, sáng ra Nghệ thuật chính là sự ngạc nhiên, ngạc nhiên

cả trong những gì quen thuộc, đơn giản, bình thường nhất, khi người ta khám phá ra từ đó những điều mới mẻ Mỗi tác phẩm văn học đều giúp cho người đọc

có dịp được trải qua, được sống lại từ đầu với những sự kiện, biến cố, những cảnh đời , những số phận khác nhau Với những ai đã từng nếm trải, họ sẽ cảm nhận một cách bình tĩnh, khách quan ; ở những người chưa trải nghiệm qua, hiện thực mà tác phẩm phản ánh chẳng khác gì cuộc đời Và dù trải qua hay chưa, thì những gì tác phẩm mang lại cũng đều bổ ích hơn nhiều so với những khái niệm chung chung, trừu tượng Chính vì vậy, tác phẩm văn học đã đến được với nhiều thế hệ độc giả Đối với những tác phẩm hay, mỗi lần đọc lại, người ta đều tìm thấy ở đó thêm những điều mới lạ

Trang 24

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, ý nghĩa nhận thức của văn học càng được đề cao hơn bao giờ hết Văn học thực sự trở thành một trong những tấm gương tinh thần của con người hiện đại, thành phương tiện tự ý thức quan trọng Chất triết học, chiều sâu của sự khái quát hiện thực là những tiêu chuẩn thẩm mĩ không thể thiếu được ở những tác phẩm văn học đương đại Để đạt được điều đó, nhà văn phải có tài năng và sự nỗ lực lớn về nhiều mặt Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, giá trị nhận thức của tác phẩm văn học không chỉ thể hiện ở cái được nói đến, mà cả trong cách nói, cách lí giải, trong lí lẽ của nhà văn Nói cách khác, văn học giúp con người hiểu được chân lí cuộc sống trong chân lí nghệ thuật.

Chức năng dự báo

Sự phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn, sinh động, khiến cho văn học có khả năng vươn tới tầm cao của sự khái quát, nắm bắt được sự vận động bên trong của đời sống hiện thực Chính từ độ chín của sự khám phá, khái quát ấy,

mà văn học còn có khả năng dự báo tương lai

Nhờ vào năng lực ước đoán, tưởng tượng, sự nhạy cảm trước mọi hiện tượng của đời sống, nhiều nhà văn dự cảm được những biến động của lịch sử, “đón đầu” được những xu hướng phát triển của hiện thực khi nó còn trong trạng thái ban đầu Trong quá khứ, những nhà văn ưu tú của thời đại Phục Hưng khi công kích vào thành trì của chế độ phong kiến, họ cũng sớm dự báo cho cho loài người thấy được tội ác và sự lạnh lùng, tàn nhẫn của giai cấp tư sản đang lên chỉ tôn thờ đồng tiền Trong những tác phẩm văn học viễn tưởng, người đọc càng thấy rõ chức năng dự báo của văn học Trước khi chiếc tàu ngầm đầu tiên của con người được chế tạo, niềm mơ ước của các nhà khoa học đã được nhà văn Pháp chuyên viết tiểu thuyết phiêu lưu và khoa học viễn tưởng J Verne (1828 - 1905) cụ thể hóa bằng câu chuyện hấp dẫn Hai vạn dặm dưới đáy biển (1870), viết về một ông hoàng Ấn Độ đổi tên là đại úy Nemo, sống ở tàu ngầm Nautilus để đánh đắm tàu của thực dân Anh Ngoài ra, nhà văn này còn có nhiều tác phẩm nổi tiếng khác dự báo khá chính xác nhiều khám phá và phát minh khá lâu sau đó như Năm tuần trên khinh khí cầu, Du hành vào lòng trái đất, Vòng quanh thế giới trong 80 ngày, Từ trái đất lên mặt trăng Tất cả những

sự hình dung về tương lai ở đây không phải là trò chơi tùy tiện của trí tưởng tượng, mà là sự ước đoán tài tình trên cơ sở logic phát triển khách quan của thực tại, của khoa học

Những sáng tác như Làm gì của Tshernyshevski, Bài ca chim báo bão, Người

mẹ của M Gorky, Con người biết mùi hun khói của Nguyễn Ái Quốc đều là những dự báo thiên tài về các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Trong quá trình sáng tác, những nhà văn thực sự tài năng không đóng khung cuộc sống trong cái nhìn tĩnh tại, mà luôn nhìn nhận, đánh giá trong sự vận động, phát triển Yếu tố tiên tri được xem như một phẩm chất chung của những thành tựu văn học lớn Tuy vậy, bên cạnh những tác phẩm tràn đầy dự cảm lạc quan, niềm tin mạnh mẽ vào tương lai của con người, cũng có không ít những tác phẩm bộc lộ cái nhìn bi quan, tuyệt vọng về viễn cảnh của nhân loại Văn

Trang 25

học hiện sinh chủ nghĩa là một dẫn chứng Những hoài nghi, kết luận về con người và thế giới của trào lưu văn học này không bắt nguồn từ sự khám phá bản thân thực tại đời sống, mà từ những triết lí duy tâm Sáng tác của họ, vì thế, thường rơi vào chủ nghĩa tiên nghiệm Càng dự báo, các nhà văn hiện sinh chủ nghĩa càng xa rời sự thật đời sống Khả năng gắn bó với đời sống, tiếp cận với khoa học, đưa ra được những tín hiệu cho tương lai, chỉ tìm thấy ở văn học hiện thực chủ nghĩa.

Chức năng giải trí

Giải trí là nhu cầu tự nhiên của con người trước nghệ thuật Tác dụng giải trí nảy sinh từ tính ước lệ - sáng tạo nói chung của nghệ thuật Nhờ đó, con người tìm thấy ở nghệ thuật sức mạnh và tự do của mình trong sự đồng hóa và cải biến thực tại Trong ý nghĩa lành mạnh nhất, giải trí có tác dụng phát triển trình

độ, thị hiếu thẩm mĩ của công chúng và bao giờ cũng gắn liền với chức năng thẩm mĩ

Trong lĩnh vực văn học, chức năng giải trí không bộc lộ như nhau ở mỗi tác phẩm mà phụ thuộc vào động cơ sáng tác của tác giả, thị hiếu và nhu cầu của từng cá nhân người tiếp nhận văn học Cùng với sự tiếp nhận tư tưởng tác phẩm, người đọc còn tìm thấy khoái cảm thẩm mĩ trong việc nếm trải những trạng thái tâm lí, cảm xúc vốn có của đời sống con người Trong những khoái cảm thẩm mĩ mà văn học đem lại, có loại khoái cảm thưởng thức, tiếp nhận một cách vô tư Vì vậy, có thể khẳng định tác dụng giải trí như một chức năng độc lập của văn học

Cũng như những chức năng khác, việc tuyệt đối hóa chức năng giải trí sẽ dẫn tới việc tước bỏ ý nghĩa xã hội tích cực của tác phẩm văn học Ngược lại, không quan tâm đến khía cạnh giải trí là bỏ sót một khả năng tác động, là tự giới hạn tầm ảnh hưởng của văn học trong đời sống thực tiễn

Trong bất cứ lí thuyết nào về chức năng văn học, việc phân định ra từng chức năng riêng biệt chỉ là tương đối và có tính chất lí thuyết Thực chất, ở mỗi chức năng có sự thống nhất trong tính đa dạng Tác động của tác phẩm đến với người đọc là tác động có tính chất tổng hợp của nhiều chức năng, là quá trình chuyển hóa phức tạp, biện chứng, ở đó các chức năng xuyên thấm vào nhau, quan hệ hữu cơ với nhau, không thể tách rời

Với những ý nghĩa, tác dụng đã nêu, có thể nói rằng: chức năng của văn học là chức năng xã hội có tính tổng hợp

Chương IV: Ý Thức Xã Hội Trong Văn Học

Trang 26

Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với hiện thực, chúng ta khẳng định rằng văn học bao giờ cũng phản ánh hiện thực Đó không phải là sự phản ánh máy móc mà thông qua chủ quan nhà văn

Tính giai cấp và tính nhân dân trong văn học

1 TÍNH GIAI CẤP TRONG VĂN HỌC

1.1 TÍNH GIAI CẤP LÀ THUỘC TÍNH TẤT YẾU CỦA VĂN HỌC TRONG XÃ HỘI CÓ GIAI CẤP :

Đứng trước một hiện thực như nhau, tùy theo vị trí và quyền lợi giai cấp, thế giới quan và lí tưởng thẩm mĩ, mỗi nhà văn sẽ có cách cảm, cách nghĩ khác nhau, do đó cũng có cách phản ánh khác nhau vào văn học Nói một cách tổng quát, tính giai cấp trong văn học không phải là cái gì khác mà chính là tính giai cấp trong thực tiễn xã hội được ý thức bằng văn học

Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, K Marx và F Engels đã viết: ” Lịch sử của tất cả xã hội từ trước đến nay đều diễn ra trong những đối kháng giai cấp, những đối kháng giai cấp ấy, tùy từng thời đại, mà mang những hình thức khác nhau ” (1) Lenine cũng đã từng chỉ ra rằng: cá nhân trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định, không thể có con người siêu giai cấp Dù cố ý hay không cố ý, nhà văn cũng phản ánh đời sống theo một quan điểm giai cấp nhất định Tính giai cấp trong văn học được hiểu như là sự qui định của sáng tác nhà văn bởi hệ tư tưởng của giai cấp này hay giai cấp khác Không có và không thể có văn học trung lập về mặt giai cấp Trong bài báo Lev Tolstoi, tấm gương phản chiếu cách mạng Nga, Người đã nêu rõ: “ Nếu trước mắt chúng ta quả là nhà nghệ sĩ vĩ đại, thì anh ta phải phản ánh trong tác phẩm của mình dù là vài mặt căn bản của cuộc cách mạng ” (2)

Tính giai cấp biểu hiện trước hết ở khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm Nó hiện ra như thế nào là tùy theo phương pháp và sức mạnh tình cảm giai cấp của nhà văn Văn học thời đại Phục hưng chính là cuộc đấu tranh gay gắt để chống lại ách áp bức của nhà thờ và chế độ phong kiến nhằm bảo vệ tư tưởng nhân văn Các nhà nhân văn chủ nghĩa như F Petrarca (Ý), F Rabelais (Pháp),

M Cervantes (Tây Ban Nha), W Shakespeare (Anh) trong các tác phẩm của mình đã nêu lên những mặt tiêu cực của quá trình tiến hóa tư sản (sự hoành hành của thói tàn bạo, chủ nghĩa cá nhân ) và đi tìm lí tưởng ở tương lai, ước

mơ về “ một thời đại hoàng kim ” mới Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa ở nhiều nước đã thể hiện tính chất không thể điều hòa của nó đối với những tàn

dư của quá khứ (lối sống ích kỉ, thói quan liêu ), khẳng định nền tảng xã hội chủ nghĩa tốt đẹp của cuộc sống

Tính giai cấp trong văn học còn được bộc lộ trong hình thức của tác phẩm Chẳng hạn, do hướng về thị hiếu của triều đình (vua chúa, tướng lĩnh), bi kịch

cổ điển thế kỉ XVII phải chọn đề tài, nhân vật, ngôn ngữ sao cho phù hợp Tiểu thuyết Anna Karenina của đại văn hào Nga L Tolstoi với “ phép biện chứng tâm hồn ”, cốt truyện phân nhánh phản ánh cuộc sống của những con người thuộc “ tầng lớp có văn hóa “ là nhắm đến lớp người đọc trí thức, chủ yếu xuất thân từ giới quí tộc, mặc dù về mặt tư tưởng mối liên hệ của nó với nhân dân là không thể nghi ngờ

Trang 27

Ngoài các yếu tố trên, bản sắc giai cấp của tác phẩm thường dễ nhận thấy trong cách lựa chọn và xử lí đề tài của tác giả.

Nhiều ý kiến cho rằng nhà văn có quan điểm khác nhau vẫn có thể viết cùng một đề tài Vì vậy, đề tài không bị phụ thuộc nhiều lắm vào thế giới quan,

khuynh hướng tư tưởng Thật ra, việc lựa chọn đề tài này hay khác gắn bó chặt chẽ với khuynh hướng tư tưởng, vốn sống, kinh nghiệm cũng như cá tính của nhà văn Hiện thực cuộc sống muôn màu muôn vẻ, hướng tới đề tài nào là thể hiện thái độ lựa chọn có ý thức của nhà văn, chứ không phải là việc làm ngẫu nhiên, vô thức Gamzatov cho rằng: “Những cuộc hôn nhân phi tình yêu chỉ đẻ

ra những cuốn sách chết Nhà văn trước khi kết hôn với đề tài của mình cần phải lắng nghe nhịp đập của trái tim mình ” (3) Rồi ông khuyên: “ Đừng cầm vào hòn đá mà anh không nâng nổi Đừng bơi đến chỗ mà từ đấy anh không thể bơi về ” (4)

Theo GS Nguyễn Đăng Mạnh, có một đề tài cứ trở đi trở lại trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, đó là chuyện ăn cắp, thói ăn cắp Có lẽ xoay quanh đề tài ấy nhà văn dễ tìm ra những tình tiết li kì, hấp dẫn chăng? Cũng có thể,

nhưng có phần chắc là nhà văn sẽ thuận tiện trong việc đem công lí của người nghèo để chọi lại một cách thú vị với cái gọi là “công lí “ của kẻ giàu Qua hàng loạt truyện ngắn như Thằng ăn cắp, Bữa no đòn, Thế cho nó chừa , tác giả

đã làm cho người đọc thấy rõ đích danh thủ phạm ăn cắp chính là bọn nhà giàu, chứ không phải là những người vì nghèo đói mà phải ăn quỵt hai xu bún riêu, bốc trộm một củ khoai, một tấm bánh Đê tiện và bất ngờ nhất là vụ ” Đồng hào

có ma “ Có ngờ đâu một quan huyện oai vệ là thế, mà lại ăn cắp tỉnh như

không một đồng hào đánh rơi của một người dân nghèo lương thiện Ở truyện ngắn Thằng ăn cướp là một trường hợp có phần li kì hơn: quan huyện ăn cướp của một thằng ăn cướp đến nỗi nó phải giải nghệ vì lỗ vốn to với quan lớn!

Như vậy, trong cái xã hội truyện ngắn (kể cả truyện dài) của Nguyễn Công Hoan, bọn thống trị chỉ là một lũ ăn cắp, ăn cướp Nhà văn đã phản ánh chính xác một khía cạnh của bản chất hiện thực

Biểu hiện của tính giai cấp trong văn học còn ở vấn đề các nhà văn đã xử lí đề tài đặt ra trong tác phẩm như thế nào Đây là vấn đề có liên quan mật thiết đến lập trường tư tưởng của nhà văn Về một mức độ nào đó, các tác phẩm Sống lại, Truyện Kiều, Tiếng hát sông Hương, Lời kĩ nữ có cùng đề tài vì đều viết về những cô gái điếm Nhưng ở mỗi tác phẩm, vấn đề tác giả đặt ra và giải quyết

có khác nhau Với Sống lại, L Tolstoi muốn nêu khả năng “ phục sinh ” của lòng tốt con người khi ý thức được lỗi lầm, xấu xa của mình Ở Truyện Kiều, Nguyễn

Du muốn thông qua cuộc đời của một cô gái tài sắc nhưng bạc mệnh để hướng đến số phận của những con người tài hoa bị dập vùi trong xã hội phong kiến Tố Hữu, qua Tiếng hát sông Hương, đã đề cập đến vấn đề giải phóng những con người bất hạnh, nghèo khổ, bị hắt hủi Với Lời kĩ nữ, Xuân Diệu lại hướng đến nỗi niềm cô đơn, sầu héo của những cô gái giang hồ khi những cuộc tình tạm

bợ rồi cũng nhanh chóng qua đi

Người đọc có thể tìm thấy tính giai cấp của văn học còn được bộc lộ sâu sắc qua hình tượng nhân vật được xây dựng, đặc biệt là nhân vật lí tưởng Căn cứ

Trang 28

vào điều kiện sống và vai trò lịch sử, mỗi giai cấp đều nêu ra những yêu cầu cao về tư tưởng và đạo đức cho mẫu người lí tưởng của giai cấp mình Chẳng hạn, văn học phong kiến trung cổ châu Âu thường tô vẽ các nhân vật hiệp sĩ cao thượng, dũng cảm và trung thực, tiêu biểu cho tầng lớp quí tộc thượng lưu Văn học phong kiến phương Đông với nhân vật lí tưởng là quân tử, trượng phu, tiết phụ, tráng sĩ , đó là những con người xem nhẹ tình cảm và nguyện vọng riêng tư, cúc cung tận tụy phục vụ nhà nước phong kiến Với nền văn học vô sản, những con người giác ngộ lí tưởng cách mạng, giác ngộ giai cấp, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong cuộc sống chiến đấu, lao động, học tập, làm chủ cuộc đời và làm chủ vận mệnh mình trở thành nhân vật lí tưởng để nhà văn xây dựng trong các tác phẩm của mình Đôi khi nhân vật phản diện được miêu tả như là nhân vật trung tâm của tác phẩm, thì đó là cách thông qua việc phê phán con người và cuộc sống để nhà văn biểu hiện lí tưởng của mình.Như vậy, có thể khẳng định rằng, bất kì tác phẩm văn học nào viết ra cũng là tiếng nói của một giai cấp, cũng thuộc về một giai cấp nhất định trong xã hội Tính giai cấp, vì thế, được xem là thuộc tính tất yếu của văn học trong xã hội có giai cấp

1.2 TÍNH ĐẢNG - LINH HỒN CỦA VĂN HỌC THEO KHUYNH HƯỚNG HIỆN THỰC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA:

Vấn đề tính đảng, chỉ đầu thế kỉ XX mới được mĩ học Marx - Lenine đề cập đến như một nguyên tắc trọng yếu của sáng tác và phê bình văn nghệ theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa Trước kia, tuy chưa đề cập đến khái niệm tính đảng cộng sản của văn học, nhưng những ý kiến rất quan trọng của Marx

và Engels về tính khuynh hướng xã hội chủ nghĩa đã được Lenine kế thừa và phát triển thành hệ thống những nguyên tắc cho nền văn học mới đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng

Tính đảng là một biểu hiện đặc thù của tính giai cấp, là biểu hiện cao nhất, tập trung nhất, có ý thức sâu sắc nhất của tính giai cấp Xã hội càng phát triển, mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp càng trở nên ác liệt và phức tạp Mỗi khi đấu tranh giai cấp đặc biệt gay gắt với hình thức bạo lực, thì tính giai cấp phát triển thành tính đảng triệt để Vì thế, tính đảng là tính giai cấp tự giác nhất, triệt

để nhất, có ý chí chiến đấu cao nhất cho một mục tiêu xác định Đỉnh cao nhất của tính đảng cách mạng là tính đảng cộng sản Lenine đã có nói: “ tính đảng là kết quả và là sự biểu hiện về chính trị của những sự đối lập về giai cấp phát triển đến cao độ ” (5)

Trong bài báo nổi tiếng viết năm 1905, Tổ chức của Đảng và văn học có tính Đảng, V I Lenine đã đặc biệt nhấn mạnh đến những nguyên tắc của nền văn học mới đó như sau: “ Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận trong sự nghiệp của toàn thể giai cấp vô sản, phải thành “một cái bánh xe nhỏ và một cái đinh ốc”, trong bộ máy xã hội - dân chủ, vĩ đại, thống nhất, do toàn đội tiên phong giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân điều khiển Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận khăng khít của công tác có tổ chức, có kế hoạch, thống nhất, của Đảng xã hội - dân chủ ”.(6)

Trang 29

Đặt văn học dưới sự lãnh đạo của Đảng, xem văn học là một bộ phận không thể tách rời trong sự nghiệp cách mạng chung của giai cấp, V I Lenine cũng lưu ý những đặc điểm riêng của hoạt động văn học đòi hỏi phải có một phương pháp

và thái độ lãnh đạo thích hợp: “ Không thể chối cãi được rằng sự ghiệp văn học

ít chịu nhượng bộ hơn cả đối với sự bình quân máy móc, đối với sự san bằng, đối với việc số đông thống trị số ít Không thể chối cãi được rằng trong sự

nghiệp đó tuyệt đối phải đảm bảo phạm vi hết sức rộng rãi cho sáng kiến cá nhân, cho khuynh hướng cá nhân, đảm bảo phạm vi hết sức rộng rãi bao la cho

tư tưởng và sức tưởng tượng, cho hình thức và nội dung ” (7)

Như vậy, theo quan điểm Lenine, yêu cầu tính đảng đối với văn học là yêu cầu

cả về mặt nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Những ý kiến của Lenine

về vị trí, chức năng, tính chất của nền văn học mới trong bài báo đã dẫn ở trên

đã đặt cơ sở vững chắc cho tính đảng của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa các nước trong thời đại ngày nay

Đảng ta từ khi thành lập đã luôn quan tâm đến việc xây dựng một nền văn hóa mới theo quan điểm của giai cấp vô sản Trong bản Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) nổi tiếng, Đảng đã nêu ra một đường lối văn nghệ khá cụ thể và toàn diện Văn kiện trên cũng đã trình bày một cách tổng quát vị trí, chức năng, tính chất của nền văn hóa mới, vai trò lãnh đạo của Đảng, những nguyên tắc tiến hành vận động văn hóa trong giai đoạn này Về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp văn hóa dân tộc, Đảng ta đã khẳng định dứt khoát: “ Cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo

” Sau này, trong nhiều văn kiện của Đảng và nhiều bài phát biểu của những vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước về văn học nghệ thuật, đặc biệt là qua các bài nói chuyện của đồng chí Trường Chinh tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai

và thứ ba, nguyên tắc tính đảng ngày càng được trình bày đầy đủ, súc tích và

có hệ thống

Tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, đồng chí Trường Chinh đã xác định

sự lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ “ chủ yếu là lãnh đạo về đường lối (bao gồm cả đường lối nghệ thuật), về phương châm, chính sách và tổ chức

v.v chứ không can thiệp vào những vấn đề cụ thể có tính chất quá chuyên môn

” Cụ thể hoá hơn nữa, tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ ba, đồng chí Trường Chinh đã nêu lên những tiêu chuẩn về tính đảng của tác phẩm văn nghệ phải là tác phẩm “ thể hiện chân thật cuộc sống muôn màu muôn vẻ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và dưới ánh sáng đường lối của Đảng

Từ nội dung tư tưởng của tác phẩm đó phải toát ra nhiệt tình chân thật đối với lí tưởng cộng sản chủ nghĩa, đối với mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà Tác phẩm có tính đảng còn là một tác phẩm mang tính nghệ thuật cao Nói tóm lại, tính đảng của một tác phẩm văn nghệ của ta chính là ở nội dung tư tưởng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội được thể hiện dưới những hình thức nghệ thuật phong phú, sinh động và trong sáng, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân, gây lòng tin tưởng đối với Đảng và chế độ ta ”

2 TÍNH NHÂN DÂN TRONG VĂN HỌC

2.1 VẤN ĐỀ TÍNH NHÂN DÂN CỦA VĂN HỌC TRONG LỊCH SỬ

Trang 30

Từ xưa đến nay, số phận của nhân dân luôn là chủ đề ám ảnh thường xuyên đối với những nhà văn chân chính Những tác phẩm văn học ưu tú trở thành tài sản chung của nhân loại đều đã đặt ra và giải quyết những vấn đề có liên quan đến vận mệnh của nhân dân Mối quan hệ với nhân dân là mối quan hệ sống còn của văn học chân chính

Lịch sử phát triển của văn học chứng minh rằng chỉ khi nào nhà văn có cuộc sống gần gũi và có mối quan hệ chặt chẽ với nhân dân lao động, thì tác phẩm của họ mới đạt tới mức chân thật trong miêu tả và phản ánh hiện thực đời sống Ngược lại, sự không gắn bó máu thịt của nhà văn với quần chúng lao động đưa đến tác phẩm của họ sẽ không có giá trị gì, bởi nó không đáp ứng được nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động Nhiều nhà văn đã thừa nhận rằng việc đi sâu tìm hiểu đời sống nhân dân, học tập những kinh nghiệm sáng tạo của nhân dân, là việc làm không thể thiếu được đối với bất kì một nhà văn chân chính nào

Trong xã hội có giai cấp, không phải tính giai cấp trong văn học của giai cấp nào cũng có một mức độ tính nhân dân như nhau, cũng thống nhất với tính nhân dân, mặc dù tính nhân dân có nội dung giai cấp của nó Nội dung tính nhân dân thay đổi qua từng thời đại và giai cấp, nhưng tính nhân dân bao giờ cũng bao hàm một ý nghĩa tích cực, trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tư tưởng- nghệ thuật của nhà văn và tác phẩm Ở giai cấp đang lên hay lực lượng xã hội đang giữ vai trò tích cực trong lịch sử, tính giai cấp trong văn học cũng thống nhất với tính nhân dân, bởi vì quyền lợi của họ căn bản là thống nhất với quyền lợi của đông đảo nhân dân bị thống trị

Như vậy, nếu tính giai cấp là khái niệm chỉ thuộc tính, thì tính nhân dân là khái niệm chỉ phẩm chất của văn học Văn học phục vụ cho quyền lợi ích kỉ của giai cấp thống trị bóc lột, của giai cấp lạc hậu và phản động thì không thể có tính nhân dân Trái lại, văn học phản ánh được tâm tư, nguyện vọng, quyền lợi của quần chúng nhân dân lao động, nói lên tiếng nói của những lực lượng tiến bộ trong xã hội, đó là văn học có tính nhân dân Ý kiến của Lenine về hai thứ văn hóa trong nền văn hóa dân tộc đã chỉ rõ vấn đề này

Xuất phát từ quan niệm văn học là một thứ vũ khí đấu tranh giai cấp sắc bén, Marx - Engels đã đánh giá cao các nhà văn nói riêng, những “con người khổng

lồ ” thời Phục Hưng nói chung “ đã quan tâm đến tất cả những vấn đề của thời đại họ, tham gia vào cuộc đấu tranh thực tiễn, đứng về phía này hay phía khác

để chiến đấu, người thì bằng lời nói và ngòi bút, kẻ thì bằng kiếm, và có kẻ thì bằng cả hai thứ ” (8) Với quan niệm nhân dân là người sáng tạo ra không

những của cải vật chất mà cả những giá trị tinh thần, chủ nghĩa Marx đã giải quyết triệt để vấn đề tính nhân dân trong văn học bằng cách gắn bó chặt chẽ nó với lí luận cách mạng vô sản Chỉ trong chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, nhân dân mới được phát huy những khả năng chân chính, khả năng sáng tạo, cũng như hưởng thụ những quyền lợi chính đáng của mình, trong đó có lĩnh vực văn học Hồ Chủ tịch luôn đặt ra yêu cầu văn hóa phải phục

vụ công nông binh, tức phục vụ đại đa số nhân dân, cũng là trên quan niệm đó

2.2 TIÊU CHUẨN TÍNH NHÂN DÂN TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:37

w