1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

DAP AN DE THI DH KHOI C 2009 MON SU

5 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 211,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận xét chung: Chủ trương chiến lược về vấn đề tập hợp lực lượng cách mạng được đưa ra từ Hội nghị thành lập Đảng tháng 1 – 1930 và được thay đổi, hoàn chỉnh qua các hội nghị BCH Trun[r]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐỀ CHÍNH THỨC

KỲ THI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC NĂM 2009

Môn thi: LỊCH SỬ; Khối: C

Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát đề

PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ THÍ SINH (7,0 điểm)

Câu I ( 2,0 điểm)

Gợi ý:

1, Vài nét tiểu sử

Sinh ngày 19/5/1890 và mất năm 1969

Quê quán: Kim Liên – Nam Đàn- Nghệ An, trong một gia đình nhà nho yêu nước và quê hương có truyền thống anh hùng cách mạng Điều đó đã hun đúc trong Nguyễn Tất Thành lòng yêu nước và thúc đẩy Người nhanh chóng ra đi tìm đường cứu nước

2 Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 – 1920: giai đoạn tìm đường và nhận đường

Ngày 5/6/1911: Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước Trải qua rất nhiều nước và làm nhiều nghề khác nhau để kiếm sống và rút ra bài học đầu tiên là : Chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù và nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn

Năm 1917: Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã quyết định đến xu thế hoạt động của Người Năm 1919: tại Hội nghị Véc-xai, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến bản yêu sách 8 điểm đòi chính phủ Pháp phải ban bố quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng cho nhân dân Việt Nam Tuy không được chấp thuận nhưng bản yêu sách đã gây ra tiếng vang lớn Sự kiện này khiến Nguyễn Ái Quốc rút ra bài học thứ hai là “chỉ có giải phóng giai cấp mới giải phóng được dân tộc, các dân tộc thuộc địa muốn giải phóng đất nước thì phải dựa vào lực lượng của chính bản thân mình”

Tháng 7/1920: Nguyễn Ái Quốc đọc sơ thảo luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa Từ đây , Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định lập trường kiên quyết ủng hộ Phong trào giải phóng dân tộc phương Đông của Quốc tế cộng sản và chỉ cho Người thấy con đường giải phóng dân tộc cho nhân dân Việt Nam Từ đây, Nguyễn Ái Quốc tin theo Lê-nin và đứng về phía Quốc tế thứ 3

Tháng 12/1920: tại đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành ra nhập Quốc tế 3, tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp

3 Khẳng định:

Sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam phải đi theo con đường Cách mạng vô sản,, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới

Câu II ( 3,0 điểm)

1 Khái quát chủ trương, đường lối tập hợp lực lượng cách mạng của Đảng

- Là một nội dung quan trọng và xuyên suốt tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam, một trong những vấn đề trọng yếu trong quá trình lãnh đạo của Đảng góp phần làm nên thành công của sự nghiệp kháng chiến bảo vệ tổ quốc

- Chủ trương này được nêu ra từ Đại hội thành lập Đảng tháng 1 – 1930 và được bổ sung, sửa đổi,

hoàn chỉnh trong các kì Đại hội Đảng trở về sau cho phù hợp với tình thế cách mạng ở mỗi thời kì

2 Chủ trương tập hợp lực lượng cách mạng trong Hội nghị thành lập Đảng

Lực lượng cách mạng gồm công nhân, nông dân, đồng thời phải liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông lôi kéo họ về phe vô sản tập hợp, trung lập phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản Việt Nam Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là người lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng có trách nhiệm thu phục giai cấp công nhân, nông dân liên minh với các giai cấp cách mạng và các tầng lớp nhân dân yêu nước để đấu tranh chống đế quốc và phong kiến tay sai

Trang 2

Nhận xét: Là chủ trương xuyên suốt trong quá trình tập hợp lực lượng của Đảng, có tính chất chiến lược và định hướng lâu dài cho cách mạng Việt Nam

3 Hội nghị lần thứ nhất BCH Trung ương lâm thời của Đảng (10 - 1930)

Tháng 10/1930, tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương lâm thời của Đảng đã họp và thông qua bản Luận cương do đồng chí Trần Phú khởi thảo trong đó có nêu lên vấn đề tập hợp lực lượng cách mạng Động lực của cách mạng là công nhân và nông dân, giai cấp lãnh đạo phải là giai cấp vô sản

Khẳng định thắng lợi của cách mạng là phải có một Đảng cộng sản có đường lối chính trị đúng đắn có

kỉ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng và là đội tiên phong của giai cấp vô sản

Nhận xét: Luận cương tháng 10 – 1930 tuy còn một số hạn chế nhất định trong việc đánh giá khả năng cách mạng của một số giai cấp nhưng đều khẳng định sự cần thiết phải tập hợp lực lượng Trong quá trình lãnh đạo, Đảng dần dần khắc phục những hạn chế này

4 Hội nghị Trung ương 8 (Tháng 5 - 1941)

Hoản cảnh lịch sử hội nghị Trung ương 8

Nội dung tập hợp lực lượng trong Hội nghị 8:

- Là một trong những nội dung trọng tâm của Hội nghị nhằm xây dựng lực lượng chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám

- Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh để thúc đẩy quá trình tập hợp lực lượng

- Thành lập các tổ chức quần chúng lấy tên hội cứu quốc như: Phụ lão cứu quốc, thanh niên cứu quốc, Hội văn hóa cứu quốc…để đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt già trẻ, trai gái, giàu nghèo, đảng phái, tôn giáo khác nhau

Nhận xét: Hội nghị Trung ương 8 đánh dấu quá trình hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo của Đảng Việc khẳng định vấn đề tập hợp lực lượng là sự cụ thể hóa đường lối của Đảngđã nêu ở Cương lĩnh đầu tiên tháng 1 - 1930 trong bối cảnh mới, tạo điều kiện cho toàn dân đứng lên xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang tiến tới tổng khởi nghĩa tháng Tám

Nhận xét chung: Chủ trương chiến lược về vấn đề tập hợp lực lượng cách mạng được đưa ra từ Hội nghị thành lập Đảng tháng 1 – 1930 và được thay đổi, hoàn chỉnh qua các hội nghị BCH Trung ương tháng 10 – 1930 cũng như Hội nghị Trung ương VIII đã góp phần đưa cách mạng Việt Nam qua các kì tập dượt, tạo những tiền đề căn bản làm nên thành công vang dội của cách mạng tháng Tám cũng như toàn bộ quá trình phát triển về sau của cách mạng Việt Nam

Câu III (2,0 điểm)

1 Trong thời kì 1954 – 1975, Phong trào đấu tranh đánh đấu bước phát triển của cách mạng ở miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiên công là Phong trào Đồng Khởi 1959 – 1960

2 Nguyên nhân bùng nổ phong trào Đồng Khởi

Sâu xa:

Mĩ xâm lược miền Nam, chà đạp lên nguyện vọng hòa bình và thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta, xâm phạm nền độc lập Tổ quốc vì vậy xã hội miền Nam xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản là: mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân miền Nam với đế quốc Mĩ và tay sai cùng với mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến

Trực tiếp:

Chính sách nô dịch khủng bố tàn bạo của chế độ Mĩ – Diệm trong những năm 1959 – 1960 với chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” đặt Đảng cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, tiến hành đạo luật “ 10 – 59” – lê máy chém đi khắp miền Nam …đẩy nhân dân miền Nam đến con đường buộc phải vùng dậy đấu tranh một mất một còn với chế độ Mĩ – Diệm

Ánh sáng của nghị quyết Trung ương XV (1959) của Đảng đã chỉ rõ con đường phát triển cơ bản của

Trang 3

hợp với lực lượng vũ trang nhân dân Nghị quyết Trung ương XV đã đáp ứng yêu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam, làm xoay chuyển tình thế và mở đường cho cách mạng miền Nam phát triển Như vậy, nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp và ánh sáng của nghị quyết Trung ương XV là hệ quả làm thổi bùng lên Phong trào Đồng Khởi ở miền Nam trong những năm 1959 – 1960

Kết luận: Đồng Khởi là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược đầu tiên của cách mạng miền Nam Thắng lợi này đưa cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, chuyển từ đấu tranh hòa bình, đấu tranh chính trị sang kết hợp đấu tranh chính trị với khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân Nó chấm dứt thời kì ổn định của chế độ Mĩ – Diệm đẩy chúng vào thời kì khủng hoảng triền miên và tạo tiền đề cho sự phát triển của cách mạng miền Nam trong giai đoạn sau

PHẦN RIÊNG (3,0 điểm)

Câu IV.a Theo chương trình Chuẩn (3,0 điểm)

Gợi ý:

1 Khái quá tình hình cách mạng Lào cuối thế kỉ XIX – 1945

Cuối thể kì XIX, Pháp xâm lược Lào và biến nơi đây thành thuộc địa Mùa thu năm 1940, giới quân phiệt Nhật xâm lược Lào và biến Lào thành thuộc địa

Tháng 8 – 1945, Nhật đầu hàng đồng minh không điều kiện, nhân dân Lào đã chớp thời cơ nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền, nước Lào công bố độc lập

2 Các giai đoạn phát triển của cách mạng Lào từ năm 1946 – 1975

Chia làm hai giai đoạn:

a Kháng chiến chống Pháp: 1946 – 1954

Tháng 3 – 1946, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Lào và một lần nữa biến Lào thành thuộc địa

Từ năm 1947, phong trào kháng chiến của Lào bắt đầu Các chiến khu lần lượt xuất hiện ở Thượng Lào, Tây Lào và Đông Bắc của nước Lào

Tháng 1 – 1949, quân giải phóng nhân dân Lào được thành lập tại Sầm Nưa đứng đầu là đồng chí Cay-xỏn-Phom-vi-hẳn

Ngày 13 – 8 – 1950, đại hội toàn quốc kháng chiến của nhân dân Lào đã họp và quyết định thành lập mặt trận Lào tự do và chính phủ kháng chiến Lào đứng đầu là hoàng thân Xu-pha-nu-vông

Tháng 3 – 1951: Liên minh chiến đấu Việt – Miên – Lào đã được thành lập nhằm tăng thêm tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân 3 nước Đông Dương

Trong hai năm 1953 – 1954, quân giải phóng nhân dân Lào phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam

mở nhiều chiến dịch liên tiếp và giành được những thắng lợi lớn: như Chiến dịch Thượng Lào tháng 4 – 1953, Chiến dịch Trung Lào vào tháng 12 – 1953 đã tiêu diệt 2000 quân, chiến dịch Hạ Lào Đầu năm 1954, quân giải phóng đã giải phóng toàn bộ tỉnh Phông-xa-lì và phần lớn tỉnh Luông-Pha-băng Tháng 5 – 1954, cùng với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam, nước Lào cũng được giải phóng một nửa dân số và diện tích

Ngày 20 – 7 – 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương được kí kết đã thừa nhận địa vị hợp pháp của lực lượng cách mạng Lào đồng thời quy định khu vực tập kết của Lào bao gồm hai tỉnh: Sầm Nưa và Phông-xa-lì Hiệp định này đã đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Lào, hòa bình được lập lại ở Lào sau già nửa thế kỉ đô hộ của thực dân Pháp

b Kháng chiến chống Mĩ : 1954 – 1975

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, Mĩ tìm cách hất cẳng Pháp, xâm lược và âm mưu biến Lào thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ Nhân dân Lào bước vào cuộc kháng chiến trường kì chống Mĩ với những kết quả quan trọng

Trang 4

Quân giải phóng nhân dân Lào đã liên tiếp đánh bại những cuộc càn quét của Mĩ – ngụy, giải phóng nhiều vùng đất ở Thượng, Trung và Hạ Lào đồng thời tiến hành các cuộc đấu tranh chính trị, ngoại giao và đến đầu những năm 60 đã giải phóng được 2/3 lãnh thổ và 1/3 dân số cả nước

Từ năm 1964 – đến đầu năm 1973: Là giai đoạn nhân dân Lào tiến hành chống lại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của Mĩ – ngụy và giành được nhiều thắng lợi như:

Tháng 2 – 1970, quân giải phóng Lào đã giành được chiến thắng vang dội tại cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng

Tháng 2 – 1971, quân giải phóng nhân dân Lào kết hợp với quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của 45 nghìn lính Ngụy vào đường 9 Nam Lào Tháng 2 – 1973: Mĩ phải kí hiệp định Viên-Chăn về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Lào

Ngày 30 -4 -1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân Việt Nam đã toàn thắng

và tạo ra những thuận lợi cho cách mạng Lào

Ngày 23 – 8 – 1975, thủ đô Viên Chăn được giải phóng

Ngày 2 – 12 – 1975, Thành lập nước Cộng hòa nhân dân lào và kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mĩ cứu nước

Tóm tắt qua ý nghĩa: Sự ra đời của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân lào là một sự kiện trọng đại trong lịch sử nước Lào, kết thúc chặng đường 30 năm tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, xóa bỏ vĩnh viễn ách thống trị của đế quốc và phong kiến, mở ra kỉ nguyên độc lập tự do và tiến lên xây dựng đất nước

Câu IV.b Theo chương trình Nâng cao (3,0 điểm)

Gợi ý:

1 Khái quát chung

- 5 nước sáng lập ASEAN bao gồm: In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a, Xing-ga-po, Thái Lan

- Là 5 nước đi theo mô hình tư bản chủ nghĩa trong khu vực Đông Nam Á

2 Chiến lược kinh tế hướng nội

a Nội dung tổng quát: Tiến hành công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu

Đẩy mạnh phát triển các ngành sản xuất hàng tiêu dùng nội địa thay thế hàng nhập khẩu

Lấy thị trường trong nước làm chỗ dựa để phát triển sản xuất

Mục tiêu: nhanh chóng xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng nền kinh tế tự chủ

b Thành tựu:

Chiến lược này được thực hiện trong hai thập kỉ 50 và 50 của thế kỉ XX nhưng có sự khác nhau về thời gian thực hiện và thời gian hoàn thành của 5 nước

Cho đến những thập niên 60, các nước đều đạt được thành tựu đáng kể như: Đáp ứng được nhu cầu hàng hóa của đời sống nhân dân, phát triển được một số ngành chế biến, chế tạo

Xã hội: giải quyết được nạn thất nghiệp…

Một số quốc gia nhờ chiến lược này mà vươn lên phát triển mạnh mẽ như: Xing-ga-po trở thành quốc gia phát triển nhất Đông Nam Á, Thái Lan, Ma-lai-xi-a đều đạt mức tăng trưởng vượt bậc…giảm được khối lượng hàng nhập khẩu

c Hạn chế:

Thiếu nguồn vốn, nguyên liệu và công nghệ, chi phí đầu tư cao dễ dẫn đến thua lỗ và phá sản, tệ tham nhũng và quan liêu phát triển mạnh

Trang 5

Xã hội: đời sống người lao động nhìn chung còn nhiều khó khăn, chưa đáp ứng được quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Kết luận: Rút kinh nghiệm những hạn chế của chính sách này, từ thập niên 60 – 70 trở đi nhóm 5 nước chuyển sang chiến lược kinh tế hướng ngoại

3 Chiến lược kinh tế hướng ngoại

a Nội dung:

Tiến hành công nghiệp hóa lấy xuất khẩu làm chủ đạo

Tiến hành “mở cửa” nền kinh tế để thu hút vốn và kĩ thuật của các nước bên ngoài

Tập trung sản xuất hàng hóa phục vụ mục tiêu xuất khẩu và phát triển ngoại thương

b Thành tựu

Nhờ thực hiện chiến lược này, các nước đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế

và xã hội

Kinh tế:

Tăng tỉ trọng của nền kinh tế công nghiệp trong toàn bộ cơ cấu nền kinh tế, tỉ trong của nông nghiệp đã giảm; mậu dịch đối ngoại tăng trưởng nhanh chóng so với thời kì trước

Cụ thể: năm 1980, kim ngạch xuất khẩu của 5 nước đạt 130 tỉ USD chiếm 14% tổng kim ngạch ngoại thương của các quốc gia và khu vực phát triển Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan, In-đô-nê-xi-a , Ma-lai-xi-a đều ở mức khá Xing-ga-po là nước có chuyển biến mạnh nhất và trở thành “con rồng” nổi trội nhất trong 4 “con rồng kinh tế” ở châu Á

Xã hội: Cải thiện được vấn đề công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế

c Hạn chế:

Lệ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn và thị trường bên ngoài, bất hợp lí trong quá trình đầu tư…và đưa đến cuộc khủng hoảng kinh tế - tiền tệ năm 1997

Tác động của khủng hoảng gây mất ổn định về chính trị và xã hội

Kết luận: Cho đến những năm cuối thế kỉ XX, các nước đều vượt qua khủng hoảng và vươn lên phát

triển kinh tế, đưa Đông Nam Á trở thành một trong những khu vực có nền kinh tế phát triển ở khu vực

và trên thế giới

- Hết -

Nguồn: Hocmai.vn

Ngày đăng: 10/04/2021, 10:34

w