Nh÷ng t×nh huèng may rñi mµ Thµnh Danh tõng gÆp trong t¸c phÈm lµm cho c©u chuyÖn t¨ng phÇn hÊp dÉn nhng vÒ néi dung l¹i khiÕn ngêi ®äc ph¶i suy nghÜ vÒ cuéc sèng con ngêi trong x· héi ®[r]
Trang 1Đẻ đất đẻ nớc là tác phẩm sử thi thần thoại của ngời Mờng - một dân tộc thiểu số c trú chủ
yếu ở vùng Hoà Bình và miền Tây Thanh Hoá
Đề tài của sử thi thần thoại mang đậm dấu ấn của thần thoại Đó là những đề tài nh sự hình
thành vũ trụ, sự ra đời của muôn loài, nguồn gốc dân tộc, sự sáng tạo văn hoá,
II Tóm tắt
Theo các nhà nghiên cứu, hiện có hơn 10 dị bản của thiên sử thi này Bản do Vơng Anh vàHoàng Anh Nhân su tầm ở Thanh Hoá (NXB Khoa học xã hội, 1986) dài hơn 8000 câu, gồm 28
khúc: Mở đầu; Đẻ đất; Đẻ nớc; Cây si; Đẻ Mờng; Đẻ ngời; Chia năm chia tháng; Dịt Dàng;
Lang Tà Cái; Lang Cun Cần; Tìm lửa tìm nớc; Tìm cơm tìm lúa; Tìm rợu; Tìm lợn tìm gà; Tìm trâu; Lang Cun Cần lấy vợ; Lấy vợ khác cho Lang Cun Cần; Lang Cun Cần chia đất; Tìm chu; Chặt chu; Lam nhà chu; Săn moong lồ; Săn cá điên, săn quạ điên; Giặc ma ruộng; Giặc ma may, giặc ma lang; Đa vua Nh vậy, sau khi trống, cồng, kèn bóp nổi lên làm nền cho lời ca, phần lời
kể thơ nói về tiến trình bắt đầu từ lúc trời cha chia, sau đó có đất, có nớc, có súc vật, có ngời, cóbản mờng, có lửa, có gạo, đến chuyện chặt cây chu thần, săn con thú dữ, xuất hiện chế độ t hữuvới việc "Lang Cun Cần chia đất", quần chúng chống lại nhà Lang, và kết thúc nói về việc mởrộng địa bàn c trú
III Cách đọc
Đọc bằng giọng kể, tha thiết Chú ý hình thức diễn đạt và kết cấu đặc biệt lặp đi lặp lại củamột số cụm từ: cha có, còn nên, muốn dậy nhng cha có,
IV Xác định giá trị nội dung và nghệ thuật
1 Đoạn trích nói về thuở ban đầu, khi vũ trụ còn là một khối hỗn mang Thần thoại thờng kể
rằng từ khối hỗn mang đó, trời và đất đợc tách riêng ra, rồi muôn loài dần dần đợc tạo dựng
2 Những cái cha có đợc kể ra:
- Những cái cha xuất hiện: đất, trời, sao, cỏ, đờng đi lối lại, đồi
- Những cái cha hoàn chỉnh: “Cau muốn dậy nhng cha có mo ne Hàng mai muốn dậy nhngcha có lỡi, ”
Trang 2- Những cái cha có tiền đề cho sự hình thành: “Kim muốn dậy nhng cha có thép Khỉ muốndậy nhng cha có đồi út, đồi U, ”
- Những cái cha có đủ hệ thống: “Khiêng cơm muốn dậy nhng cha có khiêng rợu, Trâumuốn dậy nhng cha có bò ”
3 Tác giả sử thi đã hình dung sự hình thành thế giới theo quan niệm hết sức giản đơn, cha
mang ý nghĩa nhận thức khoa học mà thực chất là sự lí giải tự phát, mang tính tín ngỡng Tuynhiên, gắn với đặc trng nghệ thuật của sử thi thần thoại, quan niệm ấy phản ánh cái nhìn hồnnhiên; mặt khác cũng đã cho thấy sự nhận thức về tính hoàn chỉnh, quá trình, hệ thống của thếgiới Trong con mắt của tác giả sử thi, tất cả đều trong một khối hỗn mang, kể cả con ngời
4 Sự lặp đi lặp lại các từ còn nên, còn cha, cha có, muốn dậy nhng cha có, tạo nên hình
thức diễn đạt và cách cấu tạo đặc biệt của đoạn trích này ở đây, ngời kể chuyện xuất phát từ chỗ
đã biết tất cả và biết chi tiết về muôn vật, muôn loài nhng lại để nói lúc cha có muôn loài
5 Ngôn ngữ, cách diễn đạt mang đậm chất dân tộc và phản ánh t duy con ngời trong buổi sơ
khai
6 Lối kết cấu trùng điệp, các câu dài ngắn xen nhau, tạo nên giọng điệu tha thiết, say sa,
âm hởng linh thiêng rất đặc trng của sử thi thần thoại
Chử Đồng Tử
I Thể loại
Truyện Chử Đồng Tử có nhiều bản kể Những bản kể khác nhau khiến tác phẩm có những
đặc điểm khác nhau về mặt thể loại, phản ánh những quan niệm văn hoá, nghệ thuật phong phúcủa dân gian Truyện này vừa mang tính truyền thuyết vừa đậm màu sắc cổ tích
Trang 3Bãi ấy về sau gọi là bãi Tự Nhiên, còn đầm ấy là đầm Nhất Dạ Thấy sự kì lạ, nhân dân lập đềnthờ ngay trên bãi
- Chử Đồng Tử là một ngời cần cù, chăm chỉ làm ăn: ngày ngày đánh cá rồi đổi lấy gạo
- Chử Đồng Tử còn là ngời tự trọng, không tham giàu sang, phú quý: Khi công chúa muốnkết hôn, chàng đã có ý từ chối
- Chử Đồng Tử là ngời ham học hỏi: Gặp Phật Quang, chàng bỏ quyết định ra biển để ở lạitheo học
2 Về nhân vật Tiên Dung
- Yêu thiên nhiên, thích cuộc sống tự do: “ tuổi đã lớn mà không chịu lấy chồng, chỉ thíchchèo thuyền đi xem sông núi”
- Mạnh mẽ: Quyết định lấy Đồng Tử, từ bỏ cuộc sống giàu sang, quyền quý
- Không phân biệt giàu nghèo, sang hèn: Kết hôn cùng Chử Đồng Tử, một chàng trai mồ côi,nghèo và chấp nhận ở lại sống cùng dân thờng
3 Cuộc hôn nhân giữa Tiên Dung và Chử Đồng Tử phản ánh ớc mơ tự do hôn nhân, xoá bỏ
sự phân biệt đẳng cấp, tầng lớp để hớng đến một cuộc sống bình đẳng, đại đồng Với Chử Đồng
Tử, một ngời mồ côi nghèo và hiếu thảo thì cuộc hôn nhân đó còn thể hiện ớc mơ đổi đời, hạnhphúc cho những con ngời nhỏ bé, bất hạnh và bộc lộ thái độ đề cao đức hiếu thảo
4 Truyện Chử Đồng Tử còn thể hiện ớc mơ khác của nhân dân lao động:
- Ước mơ cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc: Hoàn cảnh nghèo khó của cha con Chử Đồng Tử vàduyên may gặp đợc công chúa, đợc nhà s Phật Quang ban vật thần hoá thành cung điện lộng lẫyvới đầy đủ mọi thứ
- Ước mơ tìm tòi, khám phá những điều mới mẻ: Tiên Dung cùng chồng ở lại với dân, tìm
kế sinh nhai Nàng làm ăn ngày một thịnh vợng, sau đó có ngời khuyên nàng cho ngời ra biểntìm những vật lạ đem về đổi lấy các thứ khác
- Ước mơ về cuộc sống hoà hợp với tự nhiên
5 Tình huống truyện đặc biệt:
- Hai cha con chỉ có một cái khố
- Cuộc gặp gỡ đầy ngẫu nhiên và khác thờng giữa Tiên Dung và Đồng Tử
- Công chúa ở lại sinh sống với dân thờng
Trang 46 Yếu tố kì ảo:
- Đồng Tử gặp Phật Quang và đợc truyền cho phép lạ
- Cái nón và cây gậy thần kì hoá thành toà cung điện
- Toàn bộ cung điện cùng Đồng Tử và Tiên Dung bay cả lên trời
tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn,
I Thể loại
Bài ca dao thứ nhất thuộc thể lí cái đó - Dân ca miền Nam Trung Bộ Bài ca dao thứ hai là lời
của bài dân ca Bình Trị Thiên
II Cách đọc
Lời ca thứ nhất và lời ca thứ hai có câu mở đầu khá dài, cần đọc liền mạch Các câu ngắn đọcchậm hơn, giọng biểu cảm
III Giá trị nội dung và nghệ thuật
1 Hai bài ca dao chung một môtip, một kết cấu, nhng không phải hoàn toàn thống nhất về
phơng diện nội dung
2 Phần mở đầu, cả hai bài ca dao đều có cấu tứ "đếm tháng" - một cách mở đầu khá quen
thuộc của chùm ca dao than thân Cách đếm thời gian ấy thể hiện ý thức về thời gian khổ nạn củangời lao động Thông thờng, sự đói nghèo chỉ đến vào "tháng ba ngày tám", còn với ngời lao độngtrong bài ca dao này thì đói nghèo khổ nạn là quanh năm Cái nghèo không chịu buông tha họ.Không phải họ không biết chăm lo, họ tính toán, lo lắng, cố vùng vẫy để thoát khỏi nghèo đói, "đivay đi tạm" để có vốn làm ăn Có những hi vọng đợc hé mở, nhng lập tức lại gặp bất trắc Cáinghèo lại dồn đuổi họ
3 Bài thứ nhất, bất trắc xảy ra là mất đó Cái đó là dụng cụ kiếm sống mà ngời dân lao động
nghèo trông đợi vào đó để kiếm miếng ăn Nhân vật trữ tình là một ngời khốn khó nay lại rơi vào
con đờng cùng Nhọc nhằn kiếm ăn vào lúc "Trời ma trời gió" đã đủ cực lắm rồi Ngời nông dânvốn hay lam hay làm, muốn cố gắng để vợt qua cảnh đói nghèo Bao nhiêu hi vọng sống dồn cả
vào việc "đi đơm" bởi chỗ tiền vay đợc đã dồn cho cái đó Thế nhng:
Chạy vô ăn cơm Chạy ra mất đó
Thoáng đó mà công cụ kiếm cơm, niềm hi vọng đã tuột khỏi tay Dờng nh cái đó không bị
mất trộm mà là bị cớp đi Giữa hi vọng và thất vọng chỉ là trong gang tấc Nỗi cực nhọc khôngchịu ngừng đeo bám ngời dân khổ cực
Bài ca dao không dừng lại ở việc nói chuyện "mất cái đó" mà nói chuyện lớn hơn, chuyện hivọng và tuyệt vọng, chuyện đói nghèo cùng cực Cái đó là niềm hi vọng, là sự cố gắng để thoátkhỏi cảnh đói nghèo, là kế sinh nhai của nhân vật trữ tình Hi vọng đến rồi lại đi thật nhanh, dờng
Trang 5nh bất hạnh vẫn không ngừng đeo bám Ngời lao động cất tiếng than thân:
Kể từ ngày ai lấy đó, đó ơi
Răng (sao) đó không phân qua nói lại đôi lời cho đây hay?
Hai câu kết để lại d âm đầy day dứt và tội nghiệp về cảnh nghèo khổ thơng tâm của ngời lao
động xa
4 Bài ca dao thứ hai, bất trắc lại ở phơng diện khác:
Ai thù ai oán
Đốt quán tôi đi?
Cái quán là niềm hi vọng, là phơng tiện để kiếm sống Món tiền "đi vay đi tạm" đợc đã dồncả vào đó, niềm hi vọng đã bị huỷ hoại "Ai" là đại từ phiếm chỉ, đợc dùng để chỉ lực lợng giántiếp đẩy ngời lao động vào cảnh khốn cùng Đối tợng nhớ là những bộ phận cụ thể của cái quán.Bài ca dao sử dụng những hình ảnh gần gũi và quen thuộc trong cuộc sống để thể hiện tâm trạng.Nỗi thất vọng, lời than thở cảnh nghèo đợc thể hiện một cách sáng tạo và rất trữ tình Câu kết làmột lời tâm sự đầy cảm thông Nỗi thơng nhớ cái quán là nỗi thơng phận mình, thơng những ngờicùng cảnh ngộ Than thân mà không gợi bi ai, tội nghiệp Niềm tin vào cuộc sống là tài sản quýgiá nhất mà họ sở hữu, giúp họ không bị quỵ ngã trớc mọi nỗi nhọc nhằn, trớc mọi khó khăn củacuộc sống
5 Hai bài ca đợc thể hiện dới dạng cấu trúc biến thể lục bát (câu sáu xen lẫn câu chín, câu
m-ời), tạo ra cách ngắt nhịp linh hoạt Với nghệ thuật đối lập (chạy vô - chạy ra), nghệ thuật chơi chữ (đó - đây); nghệ thuật lặp cấu trúc (tôi thơng - tôi nhớ), tác giả dân gian đã thể hiện đặc sắc
lời than thân của nhân vật trữ tình
III Giá trị nội dung và nghệ thuật
1 Mời tay là dạng bài ca than thân Trong xã hội phong kiến, thân phận ngời phụ nữ phải
hứng chịu vô vàn khổ cực, tủi nhục Bài ca dao là lời ru con đồng thời là lời thở than của ngời phụnữ ở lời ru ấy, có cảm xúc thiết tha, yêu thơng vô bờ của ngời mẹ đối với con, lại có cả nỗi buồn
tủi, lo âu, cay đắng của thân phận nhỏ nhoi, chịu nhiều gánh nặng Hình ảnh mời tay trong lời ớc
của mẹ thể hiện cấu tứ của bài ca dao, là hình ảnh ẩn dụ sâu sắc Thực chất, con số "mời" chỉ
mang tính ớc lệ Ước mà thực ra là kể Hình ảnh mời tay vừa gợi ra nỗi khổ cực trăm bề của ngời
Trang 6phụ nữ, vừa khắc hoạ đợc nỗi lo lắng trĩu nặng, ngổn ngang, và còn là mong ớc chăm bẵm, lotoan, vun vén cho con, Cấu tứ đợc gợi ra từ sự đối lập giữa một bên là bao gánh nặng, trăm công
nghìn việc, bao lo toan với một bên là sức lực yếu đuối, thân phận nhỏ nhoi của ngời phụ nữ: mời
tay - hai tay.
2 Ngời nữ nông dân trong xã hội cũ phải chịu bao bất công, tủi cực Họ bị vắt kiệt sức lực
bởi những công việc gia đình, đồng áng, từ những việc nhỏ mọn hàng ngày cho đến việc nặngnhọc mà vẫn phải sống trong lễ giáo hà khắc, khổ nhục với t tởng trọng nam khinh nữ Bài ca dao
nh một bức tranh tả thực cuộc sống khổ nhục của ngời phụ nữ xa
3 Trong muôn bề khổ nhục, ngời mẹ vẫn dành cho con tình cảm yêu thơng đặc biệt Tình
cảm ấy đợc thể hiện trong các câu thơ:
- Một tay ôm ấp con đau Một tay đi vay gạo, một tay cầu cúng ma.
- Tay nào để giữ lấy con Tay nào lau nớc mắt, mẹ vẫn còn thiếu tay.
Nh đã nói, ở đây ớc có đợc “thêm tay” thực ra là kể sự tình, thổ lộ nỗi niềm cơ cực trong cuộc sống của ngời mẹ Mỗi tay mẹ ớc có đều gắn với một công việc làm lụng, gánh vác Con đau ốm, gia cảnh đói kém, mẹ một tay chạy vạy, lo toan từ hạt gạo cho đến việc “cầu cúng”, trong khi mẹ
vẫn luôn ở bên con, chăm sóc, ấp ôm con Hình ảnh ngời mẹ tháo vát, tảo tần hiện ra trong những
vần thơ chất chứa tủi cực Một tay còn có thể hiểu là chỉ mình mẹ quán xuyến, một mình mẹ gánh
vác “Cúng ma” là phong tục của ngời miền núi, ở đây nó cho thấy sự lo lắng của ngời mẹ khi con
ốm Những nỗi vất vả chỉ càng làm tôn thêm tình yêu thơng mẹ dành cho con Ngay cả khi phảichịu những bất công, ngang trái, bị hành hạ, áp bức, ngời mẹ cũng không quên hớng đến chở che,dành tình thơng cho con Mọi sự cực nhục của đời mẹ vẫn hàng ngày diễn ra, nhng tình cảm mẹdành cho con thì không khi nào thiếu đi tha thiết, nâng niu:
Bồng bồng con ngủ cho say Dới sông cá vẫn lội, chim vẫn bay trên trời.
4 Âm hởng trữ tình tha thiết, giọng điệu đầy cảm thơng của bài ca dao đợc thể hiện bởi hình
thức lặp lại đầy ám ảnh:
- Lặp lại không hoàn toàn cặp câu mở đầu: Bồng bồng con nín con ơi Dới sông cá lội, ở
trên trời chim bay; Bồng bồng con ngủ cho say Dới sông cá vẫn lội, chim vẫn bay trên trời.
Mở đầu lời ru, ngời mẹ dỗ dành con khỏi khóc Kết thúc lời ru, sau khi đã thổ lộ ớc ao, cũng
là gửi gắm nỗi niềm tâm sự nông sâu đầy xúc động về thân phận, về cuộc đời, lời ru của mẹ trở lại
vỗ về, nâng giấc cho con
Cụm từ Một tay đợc lặp lại chín lần tô đậm ớc mơ của ngời mẹ, tạo ra âm hởng và ấn tợng
riêng
- Phép liệt kê trùng điệp đợc sử dụng rất có hiệu quả: bắt cá, bắn chim, chuốt chỉ luồn kim,
làm ruộng, hái rau, ôm ấp con đau, vay gạo, cầu cúng ma, lo bếp nớc, lo cửa nhà, đi củi, muối
d-a, van lạy, bẩm thd-a, đỡ đòn, Lời ru của mẹ cũng là lời kể về nỗi khổ nhục trăm bề Trong lời ru
ấy, biết bao công việc, biết bao nỗi niềm trong cuộc sống hàng ngày của ngời phụ nữ đợc nói đến.Nỗi cực khổ chất chồng đợc khắc sâu nhờ hình thức nghệ thuật này
Trang 7Vận nớc
(Quốc tộ)
Pháp Thuận
A Tác giả
Pháp Thuận (915-990) Theo Thiền uyển tập anh, không rõ Pháp Thuận ngời quê ở đâu, chỉ
biết ông thọ 76 tuổi, là ngời học rộng, có tài, giúp vua Lê Đại Hành trong việc soạn thảo các vănkiện ngoại giao giữa nớc ta và nớc Tống Vì tham gia đắc lực vào triều chính thời Tiền Lê, nên
ông đợc vua Lê Đại Hành rất mực kính trọng và tin cậy Cũng theo Thiền uyển tập anh thì Pháp
Thuận có tài năng đối đáp nên sứ giả nhà Tống rất kính trọng Lí Giác là sứ nớc Tống, làm thơtặng Pháp Thuận có câu: “Ngoài trời còn có trời soi rạng - Sóng lặng khe đầm mấy trăng thu” ýnói ngoài trời Trung Quốc, Việt Nam cũng là một trời nữa
B Tác phẩm
I Thể loại
Đây là bài thơ làm theo thể ngũ ngôn tuyệt cú Đờng luật
II Cách đọc
Cần đọc phần Tiểu dẫn và các chú thích trong bài Đọc chậm, rõ, thể hiện tính chất chính
luận của bài thơ
III Giá trị nội dung và nghệ thuật
1 Câu 1 của bài thơ hiện tồn tại hai cách hiểu Theo cách hiểu thứ nhất, vận nớc nh mây quấn
tức là đất nớc đã độc lập nhng không thể tồn tại một mình mà tồn tại trong sự ràng buộc củanhiều mối quan hệ khác Theo cách hiểu thứ hai, là sự tồn tại bền vững, lâu dài Cách hiểu thứnhất tỏ ra hợp lí hơn vì nó lôgic với ba câu còn lại nói về sách lợc trị nớc
Câu thơ cho thấy tác giả quả là ngời từng trải, hiểu vận nớc một cách sâu sắc, không vì đất
n-ớc đã độc lập, tự chủ mà lạc quan một cách dễ dãi
2 Hình ảnh "chốn chốn dứt binh đao" trong câu 4.
Có thể hiểu nh thế nghĩa là khắp nơi hoặc nơi nơi không còn cảnh chém giết nữa ý nhà s là:nhà vua nên đặt mục tiêu làm sao cho đất nớc chấm dứt đợc chiến tranh, hết cảnh đao binh, nhândân đợc sống yên bình, có nh thế vận nớc mới đợc bền vững
3 Mối quan hệ giữa câu 3 và câu 4
Có thể gọi mối quan hệ giữa câu 3 và câu 4 trong bài thơ là mối quan hệ nhân - quả; ý PhápThuận khuyên nhà vua chăm lo cho dân thì dân thuận lòng tôn thờ, không chống lại và đó là yếu
tố hạt nhân làm cho vận nớc tồn tại lâu bền
4 Màu sắc chính luận của bài thơ
Về nội dung, bài thơ bàn về một vấn đề mang tính chính luận: về vận nớc, tức là vấn đề chínhtrị
Trang 8Về hình thức: mỗi câu giống nh một vế nghị luận
Lẽ thờng một bài thơ có tính chất nghị luận thờng là khô khan nhng bài này của Pháp Thuậnkhông khô khan vì có sự xuất hiện hợp lí của các hình ảnh sinh động, hấp dẫn
5 Những hình ảnh mang tính tợng trng
- “Vận nớc nh mây quấn”: Đây là một hình ảnh đầy hàm ý, có thể hiểu là đất nớc tuy đã tháibình nhng không thể tồn tại độc lập một mình mà nằm trong nhiều mối quan hệ phức tạp, khéogiữ thì đợc dài lâu, nếu không thì sẽ gặp khó khăn, phúc lộc tuột mất Còn có một cách hiểu thứhai "Vận nớc nh dây mây leo quấn quýt" là chỉ sự bền vững, lâu dài
- “Vô vi trên điện các”: "Điện các" ở đây dùng nghĩa bóng để chỉ cung điện, triều đình của
nhà vua (nơi triều chính) Vô vi theo Đạo gia là không làm gì nhng phải đợc hiểu là thuận theo tự
nhiên, tức là làm những việc thuận với lòng dân, không gây phiền nhiễu cho dân, dân đợc yên vuivì không bị gây phiền nhiễu Đây là một t tởng tiến bộ, gần với t tởng lấy dân làm gốc củaNguyễn Trãi sau này
IV Chủ đề
Bài thơ nêu rõ: chỉ khi nơi điện các, đấng quân vơng từ bi, bác ái thì đất nớc mới có đợc nềnthái bình thịnh trị vững chắc Với ngôn ngữ hàm súc, hình ảnh sinh động và gợi cảm, bằng tâmhuyết và tấm lòng luôn trải rộng tình đời, nhà thơ Pháp Thuận đã góp cho văn học dân tộc một tácphẩm văn học chính luận có giá trị nghệ thuật cao và giá trị triết lí sâu sắc
Cáo bệnh, bảo mọi ngời
(Cáo tật thị chúng)
Mãn Giác thiền s
I Tác giả
Mãn Giác thiền s (1052 - 1096) tên thật là Lí Trờng, sống vào thời vua Lí Nhân Tông Năm
25 tuổi ông mới xuất gia và trở thành một thiền s đợc ngỡng vọng Vua Lí thờng xuyên hỏi ông vềviệc nớc Năm 1096, ông cáo bệnh và làm bài thơ này để báo cho mọi ngời biết Cũng năm đó,
ông qua đời Bài thơ mang nội dung triết lí, đúc kết những trải nghiệm từ chính cuộc đời của nhàthơ, có tính chất nh một bài kệ, vì thế gọi là bài thơ kệ
Trang 9tác giả đang nói đến sự luân hồi của tự nhiên? Nhịp sống không ngừng vận hành, tức vạn vật bấtbiến, dù có đổi thay thì cũng là đổi thay theo vòng luân hồi Không phải ngẫu nhiên tác giảchọn hình ảnh “xuân” và “hoa”, không phải một bông hoa mà là “trăm hoa” Số từ ở đây không
có giá trị tuyệt đối nhng cũng là một sự khái quát về quy luật Đã là quy luật thì khó đổi thay.Hoa nở lại rụng là quy luật Nhng việc đảo vị trí của “hoa rụng” trớc “hoa nở” mang một dụng ýnghệ thuật: sự sống không ngừng tiếp diễn dù quy luật sinh tồn có khắc nghiệt đến đâu
- Câu 3, 4 diễn tả quy luật biến đổi của đời ngời: Cùng với thời gian, con ngời phải già đi(mái tóc bạc là hình ảnh của tuổi già) Nhng không nh cây cối trong tự nhiên, con ngời không thểluân hồi Đó là sự hữu hạn của kiếp ngời, dù con ngời không muốn cũng không cỡng lại đợc quyluật
2 Hai câu thơ cuối
Hai câu thơ là sự phát hiện một điều khác thờng trong tự nhiên: Lẽ thờng khi xuân qua làtrăm hoa rụng, ở đây lại bất ngờ xuất hiện một “cành mai” Hoa mai thờng nở vào cuối đông đầuxuân Cuối xuân thờng không còn hoa mai nở nữa Vậy hiện tợng mà Mãn Giác thiền s phát hiện
“Đêm qua sân trớc một cành mai” (Đình tiền tạc dạ nhất chi mai) quả là bất thờng Sự bất thờng
ấy có giá trị phủ định cái quy luật tởng nh vĩnh hằng đã nói ở trên
Xét về phơng diện số lợng câu chữ, những câu trên là thơ năm chữ, hai câu cuối mỗi câu 7chữ, độ dài câu chữ nh thêm phần khẳng định chắc chắn hơn về thái độ phủ định cái quy luật
“xuân tàn hoa rụng hết” Nh thế cũng có nghĩa là khẳng định niềm tin mãnh liệt vào cuộc sốngcủa tác giả: một cành hoa mai nở trắng trong đêm, bất chấp quy luật khác chăng con ngời cũng cóthể chống lại tuổi già
3 Bài thơ mang màu sắc Phật giáo rõ rệt
Đây là một bài kệ Theo Thiền uyển tập anh, cuối năm 1096, nhà s Mãn Giác cáo bệnh và
làm bài thơ này để cho mọi ngời biết Nh thế, bài thơ thể hiện sự bừng ngộ về tâm Phật, dùng đểngộ giải cho đệ tử Bài thơ vừa khẳng định sự trờng tồn của bản thể, của vạn pháp trớc những đổithay của thiên nhiên, của cuộc đời, vừa chan chứa cảm xúc, sâu đậm tình ngời, có ý nghĩa khẳng
định và ngợi ca sức sống mạnh mẽ, niềm lạc quan tin tởng và yêu đời của con ngời vợt lên trênmọi hoàn cảnh sống dù hết sức ngặt nghèo
4 Từ sự quan sát, nắm bắt thế giới tự nhiên, tác giả vừa thể hiện tính triết lí, vừa thể hiện
những rung động chủ quan của mình Nói tới Phật giáo thời Lí, không thể không nói tới tinh thần
“hoà quang đồng trần” (hoà cùng ánh sáng trần thế) của đời sống tu hành Đó là t tởng dấn thân,nhập cuộc của ngời tu hành
Giữa cảnh xuân tàn, một nhành mai xuất hiện, nh bất chấp quy luật thông thờng Có thể xemhình ảnh hoa mai ở đây biểu trng cho sức sống mãnh liệt của vạn vật và con ngời, vợt lên trên sựsống chết, thịnh suy, khai lạc bề ngoài, bất chấp sự đổi thay của thời gian và thời tiết Có thể gọicành mai ở đây có giá trị tợng trng cho sự bất biến của tinh thần, của ý chí, t tởng
IV Chủ đề
Bài thơ ngợi ca và khẳng định niềm tin yêu, lòng lạc quan của con ngời trớc mọi đổi thay củacuộc đời
Trang 10IV Giá trị nội dung và nghệ thuật
1 Bài thơ mở đầu bằng nỗi nhớ quê da diết của ngời li khách Nỗi niềm ấy thể hiện bằng những
hình ảnh dân dã quen thuộc đối với cuộc sống thôn quê:
- “dâu già lá rụng”;
- “tằm vừa chín";
- “lúa sớm bông thơm";
- “cua đang lúc béo"
Xa quê có ai không xúc động khi nghĩ về nong tằm, ruộng dâu, nghĩ về hơng lúa trong gió đathoang thoảng, hay nghĩ về một bữa canh cua giản dị mà ngon ngọt đến khó phai
Tình yêu quê hơng của tác giả không chỉ biểu hiện kín đáo qua nỗi nhớ mà còn thể hiện quacái khát khao đợc quay về Sống sung sớng nơi đất khách, mà vẫn luôn nhớ đến quê hơng Sự độc
đáo của bài thơ chính là ở chỗ, những tình cảm lớn lao (lòng yêu nớc, niềm tự hào dân tộc) lại đợcthể hiện bằng những hình ảnh thơ giản dị, chân thực, mộc mạc và rất đỗi đời thờng
2 Bài luật tuyệt chỉ có 28 tiếng nhng đã có 6 tiếng là h từ: phơng (vừa), chính (đang), diệc
(vẫn), tuy (tuy), bất (chẳng) và hai tiếng thuộc khẩu ngữ: kiến thuyết (nghe nói) Do vậy, lời thơ
càng thêm linh hoạt, phóng khoáng
Nỗi nhớ quê hơng luôn là cảm xúc thờng trực của ngời khách xa quê Điều đáng lu ý là ở bàithơ này, nỗi nhớ ấy đợc gợi lên bằng những hình ảnh vô cùng quen thuộc: cây dâu già lá rụng,nong tằm vừa chín, lúa sớm trổ bông thoang thoảng hơng thơm, cua đang lúc béo Tất cả nhữnghình ảnh này đều rất giàu sức gợi bởi chúng làm nên những hơng vị riêng vốn chỉ có ở thôn quê Các cụm từ “nghe nói”, “nghèo vẫn tốt”; “tuy vui, cũng chẳng bằng về nhà” khẳng định sựlựa chọn dứt khoát; cái hơng vị đồng quê, nỗi nhớ cuộc sống nơi quê nhà đã đa đến một sự so
Trang 11sánh để hớng hẳn đến ớc ao đợc trở về Mới chỉ là “nghe nói” (câu 3có lối diễn đạt phỏng đoán,không khẳng định chắc chắn) nhng cũng “chẳng bằng về”, bằng cách khẳng định dứt khoát, tácgiả thể hiện tình yêu quê hơng thật sâu sắc, đậm đà.
và một số tập văn, trong đó có một số bài bàn về quy cách làm thơ
IV Giá trị nội dung và nghệ thuật
1 Về hình ảnh thiếu phụ trong câu thơ thứ nhất
Nhan đề bài thơ là Khuê oán nhng tâm trạng thiếu phụ ở câu đầu lại là "bất tri sầu" (không biết buồn) Điều tởng chừng phi lí này lại có lí trong thời đại lúc bấy giờ: ra trận, lập công để đợc
phong hầu là giấc mộng của nam nhi Bởi vậy, dễ hiểu vì sao thiếu phụ trong bài thơ này lại vô t,
"bất tri sầu", và nàng vẫn trang điểm rồi bớc lên lầu, "đăng cao" để trông ra xa, nh một động tácquen thuộc tức là vẫn làm cái việc bình thờng của một ngời phụ nữ khuê các
2 Hình ảnh thiếu phụ trong câu thơ thứ ba
Lên lầu, thiếu phụ quan sát và "chợt thấy sắc (xuân) của cây dơng liễu đầu đờng" chữ "hốt"(bỗng, chợt) đánh dấu một sự đột biến trong tâm trạng của thiếu phụ Màu dơng liễu trong thơ cổthờng là hình ảnh ớc lệ nói về sự biệt li và sự xa xôi cách trở Vì vậy, thiếu phụ bỗng cảm thấy ânhận khi đã động viên chồng tham gia chinh chiến Điều đó thể hiện rõ hơn ở câu 4
Trang 123 Về câu thơ thứ t
Hối giao phu tế mịch phong hầu ("Hối hận đã để chồng đi [tòng quân lập công, làm quan]
kiếm tớc hầu") Vậy là nhận thức của thiếu phụ chuyển biến từ "bất tri sầu" tới "hốt" và tới
"hối" (từ vô t đến thấy (nhận thức) và hối hận) Hối hận vì đã động viên chồng đi tìm cái vô
nghĩa để gia đình li tán, tuổi xuân của con ngời trôi đi một cách phí hoài, oan uổng Có thể hiểuchữ "hối" ở đây là lời oán thán đối với ấn phong hầu, tức là đối với chiến tranh phi nghĩa
4 Chiến tranh và phụ nữ thờng là đề tài thể hiện về các giá trị nhân đạo, đợc mọi ngời, mọi
thời quan tâm Chính vì thế, nhan đề Khuê oán thu hút đợc sự chú ý của ngời đọc ngay từ đầu.
Giữa nhan đề và câu khai có vẻ không ăn nhập, có thể hiểu đây là dụng ý nghệ thuật của tác
giả Lẽ thờng, câu khai có nhiệm vụ trực tiếp triển khai ý của nhan đề ở đây, nhan đề là Nỗi oán
của ngời phòng khuê nhng câu mở đầu bài thơ lại là: “Ngời đàn bà trẻ nơi phòng khuê không biết
buồn” Lối vào đề nh thế gây đợc hứng thú tìm hiểu và thu hút sự tò mò của độc giả Ngời thiếuphụ trẻ chẳng những không biết buồn mà nh còn say sa, lâng lâng chìm trong trạng thái tinh thầnsảng khoái: nàng trang điểm lộng lẫy, bớc lên cao để thởng ngoạn cảnh xuân Và cảnh màu xuântrở nên đẹp thêm, thơ mộng thêm nhờ có khuôn mặt đã đẹp lại đợc trang điểm lộng lẫy của nàng,cùng căn nhà của nàng: lầu sơn màu xanh biếc (thuý lâu) Sự hài hoà giữa thiên nhiên và con ngờilàm cảnh và ngời thêm đẹp đẽ, thơ mộng hơn Tác giả muốn gây bất ngờ và hứng thú cho ngời
đọc khi chuyển tiếp ý dần dần nói về sự chuyển biến tâm lí của nhân vật trong bài thơ
Câu thơ thứ ba trong bài thơ của Vơng Xơng Linh đã tạo nên đợc sự chuyển biến đột ngột màhợp lí, tự nhiên trong sự mạch lạc của bài thơ cũng nh trong diễn biến cảm xúc của thiếu phụ Hình thức ngôn từ là một lời tự oán trách nhng bản chất vấn đề là sự phủ định mạnh mẽ quanniệm về công danh phổ biến trong xã hội lúc bấy giờ Có ý kiến cho rằng ở đây không đơn thuầnchỉ là sự chuyển biến nhận thức của thiếu phụ mà còn là nhận thức t tởng của chính tác giả vềnhững cuộc chiến tranh liên miên xảy ra dới thời Thịnh Đờng
V Chủ đề
Thông qua quá trình nhận thức, chuyển biến tâm lí và lời oán thán về chiến tranh của thiếuphụ trong bài thơ, tác giả giúp ngời đọc - hiểu đợc tinh thần phản đối chiến tranh phi nghĩa củanhân dân Trung Quốc đời Đờng
Lầu hoàng hạc
(Hoàng Hạc lâu)
Thôi Hiệu
A Tác giả
Thôi Hiệu (704 - 754), ngời Biện Châu tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, đỗ Tiến sĩ năm 725 Thơ
ông hiện còn truyền lại 40 bài, nổi tiếng nhất là bài Lầu Hoàng Hạc.
Bài thơ nổi tiếng và có ảnh hởng mạnh mẽ ở Trung Quốc tới mức đã tạo nên một cách điệuriêng mà nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc gọi là “Thôi thể” (thể thơ Thôi Hiệu)
Trang 13B Tác phẩm
I Thể loại
Đây là bài thơ thất ngôn bát cú Đờng luật
Những nguyên tắc cơ bản của luật Đờng đối với bài thơ thất ngôn bát cú là:
+ Về số câu, số chữ: Mỗi bài 8 câu, mỗi câu 7 chữ, cả bài 56 chữ
+ Về gieo vần: toàn bài chỉ dùng một vần (độc vận), thờng là vần bằng gieo ở chữ cuối (cớc
vận).
+ Về đối ngẫu: trừ hai câu đầu và hai câu cuối không nhất thiết đối với nhau, 4 câu giữa: câu
3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6
+ Về luật bằng trắc: toàn bài chia làm 4 “liên”, mỗi liên gồm hai câu kề nhau Trong mỗiliên, bằng trắc hai câu đối nhau Chữ thứ hai, bốn, sáu của câu 2 ở liên trên và chữ thứ hai của câu
1 ở liên dới bằng trắc giống nhau, tức là “niêm” (dính với nhau) Câu 1 và câu 8 cùng niêm vớinhau
ở mỗi câu có sự luân phiên giữa các bớc thơ (mỗi bớc thờng do hai chữ tạo thành) theo bốnkiểu tiết tấu:
BB - TT - TBB
BB - TT - BBT
TT - BB - TTB
TT - BB - BTTTrong luật thơ Đờng có quy tắc “nhất tam ngũ bất luận” nghĩa là các chữ một, ba, năm trong
câu có thể linh động bằng hoặc trắc; và có quy tắc “nhị tứ lục phân minh”, nghĩa là các chữ thứ hai, bốn, sáu trong câu phải theo đúng luật, không đợc linh động.
II Cách đọc
Đọc bản phiên âm và bản dịch thơ thứ hai ngắt nhịp 4/3, bản dịch thơ thứ nhất đọc theo nhịpthơ lục bát
III Giá trị nội dung và nghệ thuật
1 Sự khác biệt về cảnh sắc đợc miêu tả ở bốn câu đầu so với cảnh sắc bốn câu cuối:
- Bốn câu đầu cảnh sắc đợc miêu tả trong tơng quan đối lập giữa hiện tại và quá khứ, giữa cáicòn và cái mất, thể hiện một cách sâu sắc tâm trạng bâng khuâng nhớ tiếc của thi sĩ
- Bốn câu cuối cảnh sắc đợc miêu tả trong tơng quan đối lập giữa cái nhìn thấy và cái khôngnhìn thấy Nh thế tức là tác giả đã quay về sống với thực tại
2 Bài thơ tuy miêu tả một di tích xa xa nhng vẫn đem lại cảm giác gần gũi với cuộc đời, với
con ngời
Không phải chỉ đến hai câu thơ cuối khi bộc lộ trực tiếp nỗi sầu xa xứ thì bài thơ mới gợi đợccảm giác gần gũi đối với ngời đọc mà toàn bộ bài thơ từ đề tài, nội dung đến cảm xúc đều gần gũivới con ngời, bởi lẽ:
Trang 14- Dẫu vô thức, con ngời vẫn phải công nhận một sự thực hiển nhiên là cuộc đời mỗi ngời hữuhạn đối lập với thời gian, không gian vô cùng.
- Chỉ một bài thơ ngắn, tác giả đã đề cập đợc hai chủ đề: một triết lí, một nhân sinh.
- Chữ “hơng quan” nếu không chỉ bó hẹp trong một nghĩa là quê hơng cụ thể, là nơi chônnhau cắt rốn của nhà thơ mà là nơi con ngời có thể an c lạc nghiệp thì ý nghĩa của hình tợng cuốibài thơ còn đợc mở rộng hơn nhiều
3 Sự phá cách, sự sáng tạo của nhà thơ
Mặc dù đợc coi là một trong số rất ít những bài thơ Đờng luật hay nhất ở đời Đờng nhng Lầu
Hoàng Hạc lại có nhiều chỗ phá cách, không đúng luật:
- Chữ cuối câu thứ nhất gieo vần, ở đây lại không gieo vần
- Chữ thứ năm trong câu hai, ba, t cùng thanh với chữ thứ bảy trong câu (theo quy định, phải
ngợc thanh)
- Câu thứ nhất và câu thứ ba không theo đúng phép “nhị tứ lục phân minh”
- Hai câu đầu không nhất thiết phải đối thì lại có đối.
- Cả cặp câu đầu lẫn cặp câu thứ hai, đối ngẫu đều có chỗ không chỉnh.
Tất cả các trờng hợp phá cách đó đều do nội dung quy định, đều là điểm sáng của bài thơ Ví
nh, ở bốn câu đầu, câu thứ nhất có đối là một hiện tợng phá cách Dùng “hoàng hạc” (chim) để
đối với “Hoàng Hạc” (lầu) lại cũng là một hiện tợng phá cách nữa Nhng chính thế đã làm nổi bật
đợc mối quan hệ đối lập giữa cái còn và cái mất làm rõ hơn tâm trạng bàng hoàng của nhà thơ.
Theo lệ thờng, “khứ” (động từ) không thể đối đợc với “lâu” (danh từ) nhng ở đây, Thôi Hiệu vẫn
sử dụng và hiệu quả nghệ thuật đạt đợc thật lớn: Diễn tả cái đã đi xa, đi mãi không bao giờ trở lạithì dùng động từ là hiệu quả nhất, diễn tả cái còn ở lại, không gì bằng sử dụng danh từ
Cũng vậy, hiện tợng đối không chỉnh ở liên tiếp theo “ bất phục phản / không du du” làm
nổi bật sự đối lập giữa cái đã đi mất và cái còn lại mãi mãi Ba chữ “không du du”, đều là thanh
không, đi liền gợi lên hình ảnh những đám mây trên cao cứ lơ lửng nh ngng đọng, nh tồn tại mãi,
dù thực tế thì không gì tồn tại vĩnh viễn
4 Hệ thống hình ảnh biểu tợng trong bài thơ
Bài thơ đợc trình bày trong rất nhiều mối tơng quan: cảnh tiên - cõi tục, quá khứ - hiện tại, cảnh xa - gần, cảnh - tình.
- Bốn câu thơ đầu gắn trực tiếp với nhan đề Lầu Hoàng Hạc: tại đây, tác giả cảm nhận rõ rệt hơn
bao giờ hết thời gian một đi không trở lại, ngời xa không thể tìm về, đời ngời quả là ngắn ngủi, chỉ
có thời gian là vô thuỷ, vô chung
- Bốn câu tiếp theo, tơng quan đối lập hiện ra không rõ nét nh bốn câu trên, tuy vậy vẫn cóthể thấy:
Thứ nhất, là sự đối lập của bốn câu trên và bốn câu dới tạo nên sự chuyển đổi từ cảnh tợngcủa truyền thuyết trở về thực tại Sự chuyển đổi này cũng nằm trong một đặc điểm của thi phápthơ Đờng Có một nhà thi học nổi tiếng đời Nguyên cho rằng “chuyển” thờng “né tránh ý của liêntrên, phải biến hóa, nh sấm xé núi lở, khiến cho ngời xem kinh ngạc” Bài thơ của Thôi Hiệu đã
Trang 15làm đợc nh vậy, chuyển ở đây đã nối tiếp một cách kín đáo vấn đề triết học đã đợc đặt ra ở bốncâu trên: đến lầu Hoàng Hạc, thi sĩ ngớc mắt nhìn lên trên không trung, dõi theo đám mây lơlửng, suy t về quá khứ nhng rốt cuộc vẫn hớng về những vấn đề của hiện tại, của “mảnh đất này”.Tính chất biểu tợng của các hình ảnh thơ đợc thể hiện: Lầu chơ vơ, mây trắng bồng bềnh trôi cókhác chi thân phận nổi nênh của con ngời đang sống trong cảnh tha hơng lữ thứ?
Thứ hai, là sự đối lập giữa cái nhìn thấy (hàng cây, dòng sông, khói sóng) và cái không nhìnthấy (hơng quan)
IV Chủ đề
Từ hình thức tổ chức chuẩn mực đến phá cách độc đáo, từ quá khứ đến hiện tại, từ những triết
lí sâu xa trong quan hệ giữa vũ trụ và con ngời đến tình cảnh cụ thể của lữ khách tha hơng tại di
tích xa, Lầu Hoàng Hạc là những suy ngẫm và trải nghiệm thâm trầm, lịch lãm của Thôi Hiệu.
khe chim kêu
(Điểu minh giản)
Vơng Duy
A Tác giả
Vơng Duy (701 - 761) là một trong những nhà thơ nổi tiếng đời Đờng, tự là Ma Cật, ngời đấtKì, Thái Nguyên (nay thuộc tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc) Năm 21 tuổi ông đỗ tiến sĩ, ra làm quan,nhng có một thời gian dài ông sống nh ngời ẩn dật, "mỗi lần bãi triều về là đốt hơng ngồi mộtmình, đọc kinh niệm Phật" Thơ Vơng Duy thuộc loại thơ điền viên sơn thuỷ Cảnh sắc thiênnhiên trong thơ ông mang tính chất thanh nhàn, yên tĩnh, giàu chất hoạ, mỗi bài thơ là một bứchoạ
Điểu minh giản là bài thơ khá tiêu biểu cho phong cách thơ Vơng Duy.
III Giá trị nội dung và nghệ thuật
1 Cảnh và tình trong hai câu thơ đầu
Khe chim kêu là một bức tranh thanh tĩnh Ngời và cảnh dờng nh hoà chung một niềm tâm t:
Nhân nhàn / quế hoa lạc
Dạ tĩnh xuân sơn không
Trang 16(Ngời nhàn, hoa quế rụng
Đêm yên tĩnh, non xuân vắng không)
Ngời sống trong cảnh nhàn hạ, đó là cuộc sống của ngời ẩn sĩ Hoa quế là loài hoa rất nhỏ,nên hoa rụng không gây nên sự thanh động nào cả Cảnh vật vẫn rất nhẹ nhàng và thanh cao Mộtkhung cảnh thiên nhiên trữ tình, một bức tranh sơn thuỷ đáng yêu Cảnh và ngời thật hoà hợp, ng-
ời thì nhàn nhã, cảnh thì thanh tao, những bông hoa li ti nhẹ rơi càng làm tăng thêm vẻ tĩnh mịch
Đêm đã yên tĩnh, đêm trên núi vắng vào mùa xuân lại càng tĩnh lặng hơn Một chữ "tĩnh" và mộtchữ "không" cộng hởng để làm bật lên sự tịch mịch của đêm trên núi vắng Không gian ở đây lànúi chứ không phải "đồi" Ngô Tất Tố dịch câu này cha sát nghĩa "Tĩnh" cũng khác với "vắngtanh" Cảnh vật ở hai câu đầu thiên về vẻ tĩnh và tối Một đêm mùa xuân yên tĩnh và thanh tao
2 Hai câu sau
Không gian đột ngột có sự thay đổi, tởng nh trái ngợc với cảnh ở hai câu trên Đó là sự xuấthiện của âm thanh và ánh sáng ánh sáng của trăng xuân đã lên và âm thanh của tiếng chim núi giậtmình Tởng nh cảnh sáng hơn và động hơn, nhng thực ra ánh sáng và âm thanh chỉ đủ sức làm nổibật hơn sự tĩnh lặng của đêm trên núi vắng Trăng làm tăng vẻ huyền ảo, tiếng chim "thỉnh thoảngcất tiếng kêu trong khe suối" càng làm rõ hơn cái tĩnh của đêm Một bức tranh sơn thuỷ hữu tình,yên tĩnh nhng không quá buồn Trăng lên và tiếng chim kêu đợc miêu tả thật sinh động, giàu sứcgợi Nhà thơ đã dùng ánh sáng để miêu tả đêm tối, dùng âm thanh để miêu tả cái tĩnh lặng Đâycũng là một thủ pháp nghệ thuật khá quen thuộc của thơ ca đời Đờng Khung cảnh thiên nhiên nhthoát tục, gợi đến một cuộc sống thanh thản và nhàn nhã chốn điền viên sơn dã Điểm nổi bật củabức tranh này là hình ảnh một tao nhân mặc khách đang muốn lánh chốn bụi trần để tịnh tâm
3 Tác giả sử dụng những hình ảnh có khả năng gợi tả tơng đồng, nhẹ nhàng mà sâu sắc:
Nhân nhàn quế hoa lạc
Dạ tĩnh xuân sơn không
(Ngời nhàn, hoa quế rụng
Đêm yên tĩnh, non xuân vắng không)
Tả nh không tả, nhng đọc kĩ, thấy đợc cả âm thanh, màu sắc, không gian và thời gian và tâmhồn tinh tế của con ngời
4 Bản dịch của Tơng Nh thiếu mất chữ "tĩnh" (trong "Dạ tĩnh") là chữ thần của câu thơ thứ
hai, đó là điều đáng tiếc, bởi chữ "tĩnh" mới tạo nên tính hệ thống và lô gích cho cả bài thơ: trongkhông gian yên lặng, tất cả các động thái của thiên nhiên đã trở nên hiển hiện
IV Chủ đề
Với sự hoà hợp giữa thơ và hoạ, Điểu minh giản của Vơng Duy thể hiện vẻ tao khiết của tâm
hồn
viên mai bàn về thơ
Trang 17(Trích Tuỳ viên thi thoại)
A Tác giả
1 Viên Mai (1716 - 1797), ngời Tiền Đờng (nay thuộc Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang), là nhà
thơ, nhà lí luận phê bình văn học nổi tiếng của Trung Quốc đời Thanh
2 T tởng của Viên Mai về văn học chủ yếu bộc lộ ở Thuyết tính linh Thuyết tính linh gồm ba
điểm cơ bản sau:
- Chân tình (tâm tình chân thật): “Văn chơng xa nay chỉ truyền cái chân thật chứ không
truyền điều giả dối”, “Kẻ làm thơ không thể đánh mất đi tấm lòng trẻ thơ ”
- Cá tính: “Làm thơ không thể không có cái tôi”.
- Tài năng: “Nhà thơ không có tài thì không thể vận chuyển đợc tâm linh”, “Không có tình
thì không phải là tài”
Viên Mai nhấn mạnh vai trò của tình cảm, đồng thời cho rằng: “Chỉ lời thơ tinh vi đẹp đẽ mới
có thể khiến cho ngời cảm kích mà phấn chấn, còn nh lời thơ quá ngay thẳng thật thà, tầm thờng,
III Giá trị nội dung và nghệ thuật
1 Quan niệm của Viên Mai về cong hay chính là lối nói gián tiếp
Đặc điểm của thơ là khơi gợi, của ngôn ngữ thơ là hàm súc, cho nên hàm ý trong thơ nói
chung là kín đáo hơn ở văn xuôi Có nhiều cách thể hiện hàm ý, song nói gián tiếp là lối thờng thấy nhất Mầm dơng liễu và hoa mai là hai sứ giả báo tin xuân Ai đi đa tin trớc? Liễu và mai là
hai kẻ “giành nhau” chiếm vị trí ấy Rõ ràng đối tợng không xuất hiện của nụ cời hể hả ở kẻ chiến
thắng, giả định ở đây (cành dơng) là mai.
Tơng tự nh vậy, trong Thăm bạn, nói đến điểm sáng lung linh trên lầu là nói đến màn đêm
tĩnh mịch, nói đến cái nhìn hớng lên của ngời đến thăm bạn và tiếng gõ cửa cha vang lên kia,
tiếng đọc sách đêm vẳng lên kia là để nói cái tĩnh, yên ả của không gian đêm.
Hay mợn cái nhìn hồn nhiên của trẻ chăn trâu để nói cái đẹp thơ mộng, vẻ quyến rũ của hồngmai trong mùa xuân
2 Về đặc điểm “ý tại ngôn ngoại” trong ngôn ngữ thơ ca
Khi Viên Mai cho thơ quý ở chỗ cong thì thực chất đã nhấn mạnh đến đặc điểm “ý tại ngôn
ngoại” của ngôn ngữ thơ ca Cái hấp dẫn của thơ chính là hàm ý, hàm súc, gợi tả, nói những cái ởngoài lời, tạo ra d vị, sự liên tởng, suy ngẫm cho ngời thởng thức Vịnh hoa mai mà không nói đếnchuyện hoa mai, nói đến hoa mai lại là để gợi tả vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của tâm hồn con ngời,