1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Gián án vuong xuong linh

3 328 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khuê oán và bi kịch tâm trạng của người thiếu phụ trong Đường thi
Chuyên ngành Văn học Trung Quốc
Thể loại Bài viết
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm Phiên âm: Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc Hối giao phu tế mịch phong hầu.. Dịch nghĩa: Người thiếu ph

Trang 1

Vương Xương Linh (?- 756) Tự là Thiếu Bá Người đất Giang Ninh ( tỉnh Giang

Tô ) , năm 727 (đời Ðường Huyền Tông ) , thi đậu tiến sĩ , được bổ làm chức hiệu thư lang Sau vì sơ suất về hành vi , bị biếm ra làm chức úy tại Long Tiêu ,ở phía Tây sông Tương Khi trở về quê nhà, gặp lúc loạn lạc , bị Thứ sử Lư Khâu Hiển giết chết vì tư thù

Vương Xương Linh được người đương thời xưng là Thi thiên tử Có bạn thân là Vương Chi Hoán và Tân Tiệm

Khuê oán là tác phẩm tiêu biểu của Thi Thiên tử Vương Xương Linh, một trong

những tác giả lớn thời Thịnh Đường Khác với những bài thơ thuộc chủ đề biên tái, miêu tả

tâm trạng, tình cảm… của người trực tiếp ra chiến trận, Khuê oán mang nỗi sầu của người thiếu phụ có chồng đang tham gia chinh chiến Khuê oán thường được một số dịch giả, nhà nghiên cứu Việt Nam chọn làm ví dụ tiêu biểu cho khoảnh khắc đốn ngộ trong Đường thi

Trung Hoa

Tác phẩm

Phiên âm:

Khuê trung thiếu phụ bất tri

sầu

Xuân nhật ngưng trang thướng

thúy lâu

Hốt kiến mạch đầu dương liễu

sắc

Hối giao phu tế mịch phong

hầu.

Dịch nghĩa:

Người thiếu phụ nơi phòng khuê không biết buồn

Ngày xuân trang điểm xong, bước lên lầu biếc

Chợt thấy màu dương liễu ở đầu đường Hối hận đã để chồng đi tòng quân để kiếm phong hầu

Dịch thơ

Phòng khuê nàng

chửa biết buồn

Ngày xuân điểm phấn

tô son lên lầu

Chợt trông đường

liễu xanh màu

Xui ai tìm cái phong

hầu mà chi

Trần Trọng San

Trẻ trung nàng biết chi sầu

Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương Nhác trông vẻ liễu bên đường

Phong hầu nghĩ dại, xui chàng kiếm chi

Tản Đà

Cô gái phòng the chửa biết sầu Ngày xuân trang điểm dạo lên lầu Đầu đường chợt thấy tơ xanh liễu Hối để chồng đi kiếm tước hầu

Ngô Tất Tố

Phòng khuê thiếu phụ chửa sầu,

Ngừng tay trang điểm lên lầu ngắm xuân

Đầu đường thấy liễu xanh rần,

Hối xui chàng mãi dấn thân phong hầu

Anh-Nguyên

Bình

Trang 2

Cái đáng thương của người khuê phụ và cũng là bi kịch của nàng là đương hồi tuổi trẻ và sống cảnh êm đềm Người thiếu phụ trong bài thơ được nhắc đến như một biểu tượng gợi cảm về vẻ đẹp của tuổi thanh xuân Trong Đường thi, thi nhân miêu tả vẻ đẹp người con gái thường gắn với tính âm, nhu, mềm, thanh thể hiện sự dịu dàng, nét tinh tế cũng như giá trị trong tính chất ước lệ của ngôn ngữ

Người con gái khuê phòng bất tri sầu là vì vốn dĩ nàng vẫn say mê một quan niệm chừng

như rất bình thường trong xã hội lúc bấy giờ: muốn chồng có công danh sự nghiệp rạng rỡ, bằng khoa cử, bằng chinh chiến trận mạc, hoặc bằng một cách nào đó hợp với đạo người quân tử Ý niệm này quả không có gì sai trái và đáng trân trọng

Ngày xuân trang điểm, lên lầu đều là những chuyện thường tình, những từ ngữ, hình ảnh

này xuất hiện không mới trong thơ cổ nhằm biểu hiện vẻ đẹp uyển chuyển, duyên dáng khi

miêu tả động tác, phong thái của người khuê phụ Đăng cao trong mọi hình thức đều là

mô-típ quen thuộc của Đường thi

Dục cùng thiên lý mục

Cánh thướng nhất tằng lâu (Vương Chi Hoán).

Thơ Lý-Trần cũng vận xu hướng này:

Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư (Không Lộ thiền sư).

Vì đăng cao nên người khuê phụ bất chợt gặp được màu dương liễu!

Hốt kiến chỉ là một khoảnh khắc nhưng nó đập vỡ mọi giá trị của một quan niệm Từ chỗ bất tri đến tri, từ chỗ mờ mịt đến ý sáng tâm sáng là cả một khoảng cách rất xa ẩn trong

một khung cửa hẹp mà ngày ngày vẫn bày ra trước mắt nhưng con người không hề nhìn thấy Bi kịch tâm trạng nằm trong cái biết, cái sáng rõ của nhân tâm

Màu dương liễu xanh khiến nàng hối tiếc, sầu, oán

Trong bao nhiêu ẩn ngữ của một bài thơ tứ tuyệt như Khuê oán, Thi Thiên tử cũng dụng

phép vẽ mây nẩy trăng, giữ được lời ít mà ý nhiều, lời hàm súc chứa ý mênh mang nên không thấy có lời nào khuê oán mà rất nhiều khuê oán; thậm chí nói một mà hàm chứa bao

nhiêu hình ảnh khuê oán lúc bấy giờ Tài của thi nhân và cũng là tuyệt của thể loại bốn câu bảy chữ trong Đường thi chính là chỗ này vậy!

Ngày đăng: 25/11/2013, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w