1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách nghệ thuật thơ vũ hoàng chương

100 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 803,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự từng trải cuộc sống riêng của mình, với hoài bão, t- t-ởng và ph-ơng thức biểu hiện tình cảm riêng nhà thơ đã tạo ra phong cách riêng trong tác phẩm của họ.. Đọc thơ ông ta thấy m

Trang 1

mục lục mục lục Trang 1 phần mở đầu 3

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Nhiệm vụ của luận văn 8

4 Ph-ơng pháp nghiên cứu 8

5 Cấu trúc luận văn 9

phần nội dung 10

Ch-ơng 1:Vũ Hoàng Ch-ơng – một cái Tôi cô đơn , buồn nản ,

chán ch-ờng nhất trong Thơ mới

1.1.Cái Tôi trữ tình trong thơ và Thơ mới 10

1.1.1.Quan niệm về cái Tôi trữ tình trong thơ 10

1.1.2 Vài nét về cái Tôi trữ tình trong thơ trung đại 11

1.1.3 Cái Tôi trữ tình trong Thơ say và Mây 13

1.2 Nỗi cô đơn, buồn nản, chán ch-ờng trong Thơ say và Mây 18

1.2.1 Cô đơn , buồn nản , chán ch-ờng bởi cảm giác lạc loài 18

1.2.2 Cô đơn , buồn nản , chán ch-ờng bởi mất mát trong tình yêu 25

Trang 2

Ch-ơng 2: Con đ-ờng thoát ly hiện thực 34

2.1 Tìm đến thú say 35

2.2 Trốn vào tình yêu, tìm thú vui thân xác 48

2.3 Trở về với quá khứ 56

Ch-ơng 3: Đặc sắc nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Ch-ơng qua 61

Thơ say và Mây

3.1 Ngôn ngữ 62

3.2 Hình ảnh 72

3.3.Thể thơ 80

3.3.1 Các thể thơ 80

3.3.2 Nhịp thơ 81

3.3.3.Vần thơ 85

phần kết luận 94

Tài liệu tham khảo 97

Trang 3

Phần mở đầu

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Phong trào Thơ mới 1932- 1945 là một hiện t-ợng văn học lớn nhất của văn học Việt nam nửa đầu thế kỷ XX Ra đời trong thời điểm xã hội Việt nam

có những biến động lớn về kinh tế, chính trị, xã hội… trào l-u thơ ca này đã

đem đến cho văn ch-ơng nghệ thuật một tiếng nói mới, tạo nên b-ớc ngoặt lịch

sử trong thơ ca, đ-a thơ ca từ thời kỳ cận đại b-ớc sang thời kỳ hiện đại

Đóng góp lớn của Thơ mới cho nền văn học dân tộc tr-ớc hết là sự trở về của cái Tôi- cái Tôi đ-ợc biểu hiện một cách đầy đủ theo quan niệm cá nhân

Điều đó đồng nghĩa với việc giải phóng sức sáng tạo của tâm hồn, của thơ văn, làm nên những b-ớc ngoặt trong thi pháp và t- duy thơ, làm xuất hiện những phong cách nghệ thuật độc đáo Ghi nhận sự thành công ấy Hoài Thanh đã

nhận định: “ Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở nh- Thế Lữ, mơ màng nh- L-u Trọng L-, hùng tráng nh- Huy Thông, trong sáng nh- Nguyễn Nh-ợc Pháp, ảo não nh- Huy Cận, quê mùa nh- Nguyễn Bính, kỳ dị nh- Chế Lan Viên, tha thiết, rạo rực, băn khoăn nh- Xuân Diệu“ 42 tr, 29

Chỉ trong vòng m-ời lăm năm Thơ mới đã đi qua cả một chặng đ-ờng dài,

mở ra nhiều h-ớng, có h-ớng lãng mạn thoát ly, có h-ớng chân thật gần gũi, có h-ớng kỳ ảo, xa lạ… Sâu xa hơn Thơ mới chứa đựng nhiều nỗi niềm, có niềm vui gắn bó với sự sống và tạo vật, có niềm vui trong khát khao và bù đắp của tình yêu đôi lứa Nh-ng nặng nề hơn là nỗi buồn chất chứa trong tháng năm, từ nỗi buồn về non n-ớc, cuộc đời đến những nỗi buồn riêng thầm kín và đau khổ Những nỗi buồn này gắn liền với từng cuộc đời thơ nh-ng cũng mang theo hơi

thở chung của thời đại “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi Mất bề rộng ta

Trang 4

đi tìm bề sâu Nh-ng càng đi càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu l-u trong tr-ờng tình cùng L-u Trọng L-, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nh-ng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn trở về với hồn

ta cùng Huy Cận“ 42 ,tr 46  47 Đó là toàn bộ tinh thần của Thơ mới

Vũ Hoàng Ch-ơng (1916 - 1976) cũng không đứng ngoài vòng tinh thần

ấy Là thành viên của phong trào Thơ mới nh-ng tài năng thi ca của ông đ-ợc khẳng định giữa lúc trên bầu trời thơ đã vằng vặc những ngôi sao L-u Trọng L-, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên … Vũ Hoàng Ch-ơng xuất hiện nh- một ngôi sao lạ, mọc muộn cuối bầu trời thơ, một ngôi sao chao đảo,

mờ ảo và buồn não xung quanh một làn khói hơi men

Mang hơi thở chung của thời đại, thơ Vũ Hoàng Ch-ơng chứa đựng một tâm trạng cô đơn, buồn nản, chán ch-ờng và thoát ly cuộc sống Tìm hiểu hai

tập thơ Thơ say (1940) và Mây (1943) ta thấy nhà thơ thoát ly cuộc sống bằng

nhiều con đ-ờng, trong đó tiêu biểu hơn cả là tìm đến những thú say Đây là nét độc đáo mà nhờ đó Vũ Hoàng Ch-ơng đã b-ớc ngang hàng cùng với Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên…trên thi đàn Thơ mới

Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau nên thơ Vũ Hoàng Ch-ơng cho đến nay ch-a đ-ợc nhìn nhận và đánh giá một cách đúng mức, thậm chí có khi còn

bị lên án mạnh mẽ, quyết liệt Chính vì vậy mà ch-a thấy đ-ợc những đóng góp của ông cho Thơ mới Để đánh giá và khẳng định tài năng, sức sáng tạo cũng nh- đóng góp của nhà thơ trong nền văn học dân tộc chúng ta cần xem xét dựa vào phong cách nghệ thuật của họ Phong cách biểu hiện những đặc điểm cá tính sáng tạo của nhà văn, là nhận thức của nhà văn về cuộc sống Đó là cách nhìn và sự cảm thụ thẩm mỹ của nhà văn đối với thế giới, là sự tổng hợp các

đặc điểm của hình thức nghệ thuật trong sự thống nhất nội dung Tìm hiểu phong cách nghệ thuật của một nhà văn ta không nên nghiên cứu, tách rời các vấn đề nh- cuộc đời, thể loại, ngôn ngữ, các mô típ nghệ thuật, t- duy nghệ thuật… mà nên xem xét chúng trong sự toàn vẹn của thế giới nghệ thuật Phong cách một mặt do tài năng bẩm sinh của ng-ời nghệ sĩ, mặt khác quan trọng là

Trang 5

kết quả của sự đào luyện lâu dài, là sự tổng hợp của tâm hồn, trí tuệ, kiến thức học hỏi và sự làm việc của mỗi cá nhân Cần xem phong cách là sự sáng tạo cao nhất của ng-ời nghệ sĩ trong quá trình đồng hoá hiện thực bằng thẩm mỹ Nghệ thuật đạt đến đỉnh cao chính là sản phẩm của những nhà văn có khả năng

in dấu ấn riêng của mình vào việc cảm thụ và lý giải những hiện t-ợng của đời sống con ng-ời

Vì những lý do nói trên tôi đã chọn Thơ say và Mây của Vũ Hoàng

Ch-ơng làm đề tài nghiên cứu với mong muốn đ-ợc đóng góp tiếng nói của mình đ-a Vũ Hoàng Ch-ơng và thơ của ông về đúng vị trí của nó trên thi đàn

Đánh giá về Thơ mới đã có nhiều công trình nổi tiếng Nhìn chung các nhà nghiên cứu phê bình đều nhìn nhận Thế Lữ, L-u Trọng L-, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên …là những nhà thơ có cống hiến lớn cho Thơ mới Còn với

Vũ Hoàng Ch-ơng, mặc dù rất nể phục tài năng của ông nh-ng ít khi ng-ời ta

đề cập đến, thậm chí còn chê bai lên án tới mức trong một quãng thời gian khá dài thơ Vũ Hoàng Ch-ơng chìm trong quên lãng

Khi tìm hiểu về thơ Vũ Hoàng Ch-ơng ng-ời ta th-ờng nói tới những thú say trong thơ của ông Hoài Thanh là ng-ời đầu tiên phát hiện ra cái mới của

Thơ say : “ Vũ Hoàng Chương rất gần Lưu Trọng Lư - Tản Đà: Cả ba đều say Nh-ng cái say của Vũ Hoàng Ch-ơng mới hơn Cái chán nản cũng thế Tuy có chịu ảnh h-ởng của thơ Pháp nh-ng tr-ớc hết là phản ánh cuộc đời mới Say

mà không điên và cái chán nản dẫu có cái vị Baudelaire, vẫn nhẹ nhàng khoáng đãng không nặng nề u ám như cái chán nản của Baudelaire“42 tr, 35

Cụ thể hơn Hoài Thanh chỉ ra: “ý giả Vũ Hoàng Ch-ơng định nối cái nghiệp những thi hào x-a của Đông á : cái nghiệp say Ng-ời say đủ thứ: say r-ợu, say đàn, say ca, say tình đong đưa Người lại còn “hơn“ cổ nhân những thú say mới nhập cảng: say thuốc phiện, say nhảy đầm Bấy nhiêu say s-a đều nuôi bằng một say s-a khác : say thơ“ 42 tr, 352

Trang 6

Nói nh- vậy cái say trong thơ Vũ Hoàng Ch-ơng tr-ớc hết chịu ảnh h-ởng của các nhà thơ thế hệ tr-ớc Chỉ có điều đến Vũ Hoàng Ch-ơng thú say đó

đ-ợc phát triển phong phú đa dạng nhiều màu sắc hơn Ông say những thú say

đời th-ờng nh- say r-ợ- , say đàn , say ca và cả những thú say hiện đại: say thuốc phiện và nhảy đầm Say nhiều nh- thế nh-ng không phải là huỷ hoại tâm hồn, tài năng của mình mà khơi nguồn bồi đắp cho một thú say khác : say thơ

Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan lại cho rằng “ Cái say của thơ ông (Vũ Hoàng Ch-ơng) là cái say phát ra ở điệu thơ, ở nghệ thuật hơn là tính tình ông thổ lộ”37 tr, 134 Vũ Hoàng Ch-ơng quả là nhà thơ có tài trong việc chọn chữ, tạo âm điệu Nh-ng không vì thế mà thơ ông mất đi sự rung động thành thực Chính sự rung cảm tr-ớc cuộc đời là cái gốc phát ra điệu thơ ông Bí quyết của

Vũ Hoàng Ch-ơng nằm ngay trong khối óc và những mất mát thăng trầm trong

cuộc đời nhà thơ Lời nhận định của nhà phê bình Đỗ Lai Thuý trong cuốn Con mắt thơ giúp chúng ta hiểu thêm điều đó:

"Cái say đã làm cho thơ Vũ Hoàng Ch-ơng chân thực và sâu sắc hơn Nhà thơ đã nắm bắt và thể hiện đời sống trong tính toàn vẹn của nó Cuộc sống không chỉ có thực tế mà còn có lý t-ởng, không chỉ có xác mà còn có hồn, không chỉ có tỉnh mà còn có mộng … Và chính sự chuyển di liên tục từ thực sang ảo và ng-ợc lại đã tạo nên vẻ đẹp cho Thơ say"

Đỗ Lai Thuý đã phát hiện ra trong thơ Vũ Hoàng Ch-ơng có sự đi về của hai thế giới thực và ảo Đó là cách cảm mới, một cái nhìn thế giới mới của Vũ Hoàng Ch-ơng theo kiểu t- duy đô thị ph-ơng Tây: thế giới bị xé lẻ thành những mảnh riêng biệt , hai nửa hữu hình và vô hình

Truyền thống thơ ca dân tộc, thơ ca á Đông cùng tinh hoa nhiều thế kỷ của thơ ca Pháp cùng một lúc hợp bồi phù sa cho Thơ mới Vì thế Thơ mới là

sự kết hợp nhịp nhàng các yếu tố Đông - Tây, Kim - Cổ, là sự kết hợp thế giới

âm thanh, mầu sắc, h-ơng thơm, con ng-ời, vũ trụ của Đ-ờng thi và thơ Pháp

Điều này ta có thể tìm thấy ở bất kỳ nhà Thơ mới nào Với Vũ Hoàng Ch-ơng ,

“Thơ ông có ảnh h-ởng của t- t-ởng Lão Trang của câu thơ Đào Tiềm, Lý

Trang 7

Bạch, Bạch Cư Dị“16 tr, 207 Chỉ có điều ông ch-a tiếp thu đ-ợc truyền thống

nhân đạo tích cực trong thơ Đ-ờng

Cũng trên tinh thần ấy giáo s- Đỗ Đức Hiểu cho rằng:“ Nhìn từ ph-ơng

Đông, cái ảo, hình nh- cái nền của thơ Vũ Hoàng Ch-ơng là một đêm dày những giấc mơ về quá khứ, những “đêm hoa đăng“, gái Kim Lăng, gái Giang Nam“ Còn “ nhìn từ ph-ơng Tây, cái hiện đại, Vũ Hoàng Ch-ơng là nhà thơ nhạy bén hoà nhập với tâm linh thơ t-ợng tr-ng chủ nghĩa ph-ơng Tây…Trong Thơ mới Vũ Hoàng Ch-ơng là nhà thơ đô thị nhất, ông nhập thân vào cái chán chường, song “ đời tàn trong ngõ hẹp“, những điệu trùng tuyệt vọng, khủng khiếp diễn đạt cái chán ch-ờng kiểu Baudelaire“18 ,tr 129  130

Nh- vậy thơ Vũ Hoàng Ch-ơng có sự kết hợp cái h- ảo của ph-ơng Đông với cái thực, cái đời th-ờng, cái hiện đại của ph-ơng Tây Đó chính là cái mới của thơ Vũ Hoàng Ch-ơng

Với một cái nhìn tổng thể và khách quan hơn, Ngô Văn Phú trong lời giới

thiệu Thơ say - NXB Hội nhà văn 1993 đã nhận định: “ Thơ Vũ Hoàng Chương lấy cái Tôi làm chủ thể, lấy cảm giác nhập thần vào những phút giây mình là mình nhất mà viết …Vũ Hoàng Ch-ơng dẫn Thơ mới vào cõi sâu xa cá tính Thơ Vũ Hoàng Ch-ơng không hề bí hiểm nh-ng Vũ chẳng giống ai tr-ớc mình

và những ng-ời sau cũng chẳng ai bắt tr-ớc nổi Vũ tạo nhạc, tạo tranh trong thơ, Vũ chọn từ cho từng câu đắc ý, Vũ đắm hồn vào những trang thơ mà Vũ cho đó mới thật đáng gọi là thơ…“ Đó chính là tinh thần thơ Vũ Hoàng

Ch-ơng Đó cũng chính là phong cách thơ Vũ Hoàng Ch-ơng

Nhìn chung hầu hết các ý kiến trên đều đã t-ơng đối thống nhất khi chỉ ra những đặc điểm cơ bản của hồn thơ Vũ Hoàng Ch-ơng: thơ ông mang một nỗi buồn nản, chán ch-ờng Để giải toả tâm trạng ấy nhà thơ đã tìm đến thú say để

ca ngợi và nâng thú say thành thi hứng Và sự kết hợp một cách hài hoà giữa

Cổ - Kim, Đông - Tây đã tạo nên trong thơ Vũ Hoàng Ch-ơng một nét rất riêng, rất đặc sắc

Trang 8

Nh-ng nếu chỉ dừng lại ở đó thì ch-a đủ để hình dung một cách toàn diện

về phong cách nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Ch-ơng Việc xác định phong cách của một nhà văn không phải là xem nhà văn ấy có những đặc sắc gì về nội dung t- t-ởng cũng nh- hình thức nghệ thuật mà phải phát hiện ra tính chất độc đáo trong sự kết hợp những nét đặc sắc ấy Bởi vì phong cách nghệ thuật tr-ớc hết phải là sự thống nhất, toàn vẹn của các yếu tố tạo nên tác phẩm Chính vì vậy

để hiểu và đánh giá một cách đầy đủ và khách quan về phong cách nghệ thuật

thơ Vũ Hoàng Ch-ơng qua hai tập Thơ say và Mây cần phải chỉ ra sự thống

nhất trong quan niệm về cuộc đời, thời đại, nội dung cảm xúc với hình thức nghệ thuật Đây là vấn đề mà luận văn muốn đề cập đến

3 Nhiệm vụ của luận văn

3.1 Luận văn không nghiên cứu, khám phá những vấn đề quá phức tạp

mà chủ yếu đi vào phân tích, so sánh để tìm ra nét đặc sắc trong những thú say của Vũ Hoàng Ch-ơng để b-ớc đầu làm sáng tỏ một phong cách nghệ thuật

độc đáo

3.2 Luận văn tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống thơ Vũ Hoàng

h-ơng qua hai tập Thơ say và Mây ở hai ph-ơng diện nội dung và nghệ thụât

Từ đó tìm ra sự thống nhất giữa hai mặt đó của thơ ông

3.3 Với những điều nói trên luận văn cố gắng đ-a ra một cái nhìn đúng

đắn về Vũ Hoàng Ch-ơng, góp phần xoá bỏ những định kiến, d- luận sai lệch

từ tr-ớc đến nay trong xã hội nói chung về thơ Vũ Hoàng Ch-ơng

4.2 Ph-ơng pháp so sánh, đ-ợc tiến hành ở hai tập Thơ say và Mây với

tác phẩm của một số các nhà thơ tr-ớc và cùng thời với Vũ Hoàng Ch-ơng để tìm ra nét riêng độc đáo ở nhà thơ này

Trang 9

4.3 Ph-ơng pháp phân tích tổng hợp, nhằm tìm hiểu thơ Vũ Hoàng

Ch-ơng một cách khái quát từ chi tiết cụ thể đến tổng hợp giúp cho việc nghiên

cứu có sức thuyết phục cao

Những ph-ơng pháp trên đ-ợc vận dụng hài hoà, khoa học và linh hoạt

nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mà luận văn đề ra

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và t- liệu tham khảo, phần nội dung gồm ba

ch-ơng :

Ch-ơng 1:Vũ Hoàng Ch-ơng - một cái Tôi cô đơn , buồn nản ,

chán ch-ờng nhất trong Thơ mới Ch-ơng 2: Con đ-ờng thoát ly hiện thực

Ch-ơng 3: Đặc sắc nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Ch-ơng qua

Thơ say và Mây

Trang 10

Phần nội dung

Ch-ơng 1

vũ hoàng ch-ơng – một cái tôi cô đơn buồn nản, chán ch-ờng nhất trong thơ mới

1.1 Cái Tôi trữ tình trong thơ và Thơ mới

1.1.1 Quan niệm về cái Tôi trữ tình trong thơ

Trong thực tế khách quan, mỗi con ng-ời cá nhân phải tự ý thức

đ-ợc giá trị của mình Văn học là một hình thái ý thức xã hội nên cần phải phát huy ý thức cá nhân ( hay cái Tôi ) để khai thác tiềm năng sáng tạo của con ng-ời Với thơ, cái Tôi lại cần thiết hơn bao giờ hết Viên Mai - ng-ời đời

Thanh trong Tuỳ viên thi thoại đã viết: “ Làm ng-ời thì không nên có cái Tôi,

có cái Tôi thì hay mắc bệnh kiêu căng, cậy tài…Nh-ng làm thơ thì không thể không có cái Tôi Không có thì dễ mắc cái tệ cóp nhặt phô diễn” Cái Tôi trong

thơ chính là cá tính riêng của nhà thơ, là cảm thụ độc đáo, ngôn từ mới mẻ của nhà thơ đối với đối t-ợng đ-ợc miêu tả, là phong cách biểu hiện khác hẳn ng-ời của nhà thơ

Cái Tôi có vai trò quan trọng trong thơ Với t- cách là trung tâm để bộc lộ tất cả những suy nghĩ tình cảm, thái độ bằng một giọng điệu riêng, cái Tôi làm nên cái độc đáo không lẫn giữa thơ của tác giả này với thơ của tác giả khác Thơ là tâm hồn, là tình cảm, là tính tình của mỗi nhà thơ Mỗi ng-ời lại có một cuộc sống tâm hồn, tình cảm riêng nên mỗi ng-ời có thơ riêng Với sự từng trải cuộc sống riêng của mình, với hoài bão, t- t-ởng và ph-ơng thức biểu hiện tình cảm riêng nhà thơ đã tạo ra phong cách riêng trong tác phẩm của họ

Đọc thơ có khi ta thấy giữa thơ và cuộc đời tác giả là một, nhà thơ là nhân vật, là hình t-ợng trung tâm Khi ấy cái Tôi là cái Tôi- nhà thơ Nh-ng cũng có khi nhân vật trung tâm vẫn là tôi nh-ng không phải là nhà thơ Đó là tr-ờng

Trang 11

hợp nhà thơ đồng nhất cảm xúc của mình với đối t-ợng miêu tả, nhà thơ hoá thân thành cái Tôi - trữ tình Cái Tôi - trữ tình chính là cái Tôi - nhà thơ đã

đ-ợc nghệ thuật hoá Tuy nhiên trong thơ ta không nên tách rời cái Tôi - nhà thơ với cái Tôi - trữ tình Nhà thơ không đồng nhất với cái Tôi - trữ tình nh-ng hoàn toàn thống nhất Đi vào nghệ thuật, cái Tôi đ-ợc nâng cao, đ-ợc trình bày với những màu sắc phong phú hơn, nh-ng cơ bản vẫn là tâm hồn ấy, con ng-ời

ấy Con ng-ời ấy, tâm hồn ấy là cơ sở trực tiếp sáng tạo nên thi ca Nếu có sự khác biệt ở mức độ này hay mức độ khác giữa cái Tôi - nhà thơ với cái Tôi - trữ tình thì không có nghĩa là nhà thơ đã giả dối với chính mình và ng-ời đọc Nhà thơ Chế Lan Viên khi ch-a có dịp lên Tây Bắc nh-ng lại viết rất hay về Tây

Bắc (bài thơ: Tiếng hát con tàu) ; Minh Huệ ch-a một lần đ-ợc gặp Bác nh-ng lại viết rất hay, rất cảm động về Ng-ời ( bài thơ Đêm nay Bác không ngủ ) T-ơng tự nh- vậy bài Con tàu say của Rembô - nhà thơ Pháp cũng đ-ợc viết

khi tác giả ch-a đi biển Có ng-ời viết rất nhiều về tình yêu nh-ng mình lại ch-a bao giờ đ-ợc hạnh phúc Có ng-ời sống giữa mọi ng-ời lại luôn luôn cảm thấy cô đơn sầu tủi… Đó chính là do tâm hồn phong phú, giàu t-ởng t-ợng, biến hoá đã làm cho thơ lung linh đầy màu sắc Nhà thơ đã biến cái Tôi của mình thành cái Tôi nghệ thuật

1.1.2.Vài nét về cái Tôi trữ tình trong thơ trung đại

Quá trình sáng tác thơ ca về một ph-ơng diện nào đó là quá trình chủ quan hoá, trong đó cái Tôi trữ tình đóng dấu ấn chủ thể vào trong mọi hiện t-ợng qua một sự lựa chọn, một cái nhìn, một nội dung cảm nghĩ Khả năng biến cái chung thành cái riêng càng lớn thì tiếng nói thơ ca ngày càng phong phú Tuy nhiên không phải thơ ca thời đại nào cũng làm đ-ợc điều đó

Thời trung đại, trong thơ ca nhà nho có “cái Tôi đơn nhất” (Chữ dùng của

Trần Nho Thìn), tức là cái Tôi không xuất hiện trong một mối liên hệ cụ thể, trực tiếp nào với hoàn cảnh sống hay với môi tr-ờng hoạt động Bên cạnh đó cũng có cái Tôi đang trầm t- suy nghĩ, cũng có thể là đang hoạt động, đang thực hiện mối quan hệ giao tiếp với môi tr-ờng xung quanh Nh-ng môi tr-ờng

ấy lại là môi tr-ờng thiên nhiên chứ không phải là môi tr-ờng xã hội Các nhà

Trang 12

nho khi đã hoàn thành xong sứ mệnh “ hành đạo“ thì th-ờng lui về ẩn dật chủ

tr-ơng sống một cuộc sống trong thiên nhiên để di d-ỡng tính tình, bảo toàn phẩm giá trong sạch của mình Họ tìm thấy trong thiên nhiên những phẩm chất

đạo đức cao quý của con ng-ời theo quan niệm Nho giáo: cây tùng, cây trúc là hình ảnh ng-ời đại tr-ợng phu và ng-ời quân tử ; cúc, mai là biểu hiện của sự trong trắng tinh khiết ; ng-, tiều, canh, mục là những nghề nghiệp trong sạch ; phong hoa tuyết nguyệt là những thứ thanh tao Nhà nho miêu tả cái Tôi khi

đã gạt bỏ mối quan hệ của nó với môi tr-ờng xã hội và chỉ diễn tả mối quan hệ của cái Tôi với môi tr-ờng thiên nhiên Tuy nhiên những nhà nho, đồng thời là những nhà thơ tiêu biểu của thơ ca trung đại nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…là những con ng-ời kiên trì với lý t-ởng phong kiến ở họ luôn có một nỗi niềm -u quốc ái dân, một t- t-ởng

“Trí quân trạch dân” sâu sắc Cho nên dù họ có thoát li khỏi cuộc sống xã hội

thì đó chỉ là con đ-ờng lánh đục tìm trong, tránh cuộc sống bon chen nơi triều

đình để bảo toàn nhân cách trong sạch Cái Tôi ấy không phải là cái Tôi hành

động mà là cái Tôi suy t- chiêm nghiệm Nhà nho không dửng d-ng không bàng quan mà trái lại gắn bó, quan tâm tới cuộc sống xã hội Chỉ có điều họ đặt mình cao hơn cuộc sống, cao hơn nhân dân, h-ớng về thiên nhiên, vũ trụ để suy t- về cuộc đời, về con ng-ời Họ gạt bỏ những gì liên quan đến cuộc đời trần tục chỉ cốt giữ lại cái Tôi cao quý trong sạch, không gợn chút bụi trần

Nh- vậy trong thơ ca trung đại cái Tôi ch-a có cơ sở xã hội để bộc lộ những vẻ riêng độc đáo của nó Trong truyền thống thơ ca dân tộc chúng ta trân trọng những phong cách thơ giàu bản sắc nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân H-ơng… Nh-ng họ vẫn chỉ là số ít trong một biển thơ chịu sự quy định ngặt nghèo của nội dung phi ngã Trong thơ văn đó cá tính con ng-ời không

đ-ợc bộc lộ, bản lĩnh con ng-ời bị bóp nghẹt, “tất cả những gì thuộc về cá nhân

bị bỏ rọ”(Chữ dùng của Huy Cận), bị nhào nặn theo những mô hình, công thức

bất di bất dịch Văn thơ trung đại với những ràng buộc khắt khe đã khiến con ng-ời không có điều kiện để bộc lộ, giãi bày cảm xúc, tình cảm thực của mình

Điều đó đã kìm hãm sự sáng tạo của thơ văn, làm cho thơ cũ gần nh- khô nhựa

Trang 13

trong luồng ngâm vịnh rất sáo mòn cả về nội dung và hình thức Giữa lúc đó

(đầu thế kỷ XX) Tản Đà xuất hiện với một bản lĩnh độc đáo đã “dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kì đương sắp sửa“42 tr, 12 Ông

là ng-ời dọn đ-ờng cho Thơ mới ra đời

1.1.3 Cái Tôi trữ tình trong Thơ mới

Sự ra đời của Thơ mới không phải là ngẫu nhiên mà đó là kết quả của

sự vận động và phát triển của văn hoá dân tộc trải qua bao chặng khai phá và tìm kiếm Một thế hệ nghệ sĩ mới xuất hiện mang trong mình cả một hệ thống quan niệm thẩm mỹ mới với những phạm trù nghệ thuật mới Từ đó Thơ mới đã

mở ra nhiều chân trời, nhiều tâm trạng, nhiều sắc thái mới, làm thay đổi cả quan niệm về nhiều điều x-a nay vốn đã đ-ợc định hình trong đời sống dân tộc Tr-ớc hết là quan niệm về con ng-ời và thế giới Nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ

đã nhận định: “Cảm hứng sáng tạo gắn liền với cá nhân tự ý thức, tự khẳng

định đ-a đến một b-ớc ngoặt quyết định trong lịch sử thơ ca Việt Nam phát triển theo h-ớng hiện đại Thơ mới là thơ của cái Tôi“28 tr, 46 Hoài Thanh,

Hoài Chân cũng gọi thời đại của Thơ mới là “Thời đại chữ Tôi” “ với cái nghĩa tuyệt đối của nó” Trong Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh, Hoài Chân viết: “Xã hội Việt Nam từ x-a không có cá nhân, chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình Còn cá nhân, cái bản sắc cá nhân chìm đắm trong gia

đình, hoà tan trong quốc gia như giọt nước trong biển cả“ Điều đó làm cho thơ ca trung đại nặng tính chất duy lý, giáo huấn Các nhà thơ cổ “ dẫu táo bạo

đến đâu cũng không một lần dám dùng chữ Tôi, để nói với mình, hay - thì cũng thế - với tất cả mọi ng-ời “ Có nghĩa là họ không dám dùng quan điểm cá

nhân, lập tr-ờng cá nhân, cái nhìn cá nhân để nhìn đời và nói chuyện với mọi ng-ời Nh-ng Thơ mới thì khác Thơ mới đã dám coi cái Tôi cá nhân nh- một quan điểm, nh- một t- cách để nhìn đời và nói với mọi ng-ời Thơ mới đã thoát khỏi quan điểm duy lý, giáo huấn vốn là sự ràng buộc của cái chung truyền thống đối với mỗi cá nhân để giãi bày mọi bí mật của cõi lòng riêng t-, từ nỗi buồn , sự cô đơn đến những phút giây yếu đuối, thất vọng chán ch-ờng… Các

Trang 14

nhà Thơ mới đã dám nói yêu cái mình yêu, ghét cái mình ghét Họ dám nói nên những nỗi vui - buồn - yêu - ghét - giận - hờn - mộng - thực một cách độc lập

Hồn đơn nh- chiếc đảo rời dặm biển

Suốt một đời nh- núi đứng riêng tây

(Huy Cận)

X-a các nhà thơ trung đại luôn v-ơn tới sự hài hoà giữa con ng-ời với thiên nhiên, với cuộc sống Tuy cái Tôi trung đại ch-a có môi tr-ờng xã hội để

Trang 15

hoạt động nh-ng nó cũng ch-a có nhu cầu bức bách để tự bộc lộ mình nh- một cá thể tách khỏi xã hội Nay cái Tôi ấy không còn nữa Giờ là thời của cái Tôi cô đơn, buồn nản, chán ch-ờng Và mỗi cái Tôi tự tìm thấy cho mình một lối thoát, một hoài vọng vào quá khứ, tôn giáo, hay vào những thế giới siêu hình Nh-ng càng tìm càng lạc lối, càng thất vọng, cái Tôi lại càng cô đơn, bế tắc Thế Lữ thoát lên tiên, say s-a du hồn mình và dẫn dắt ng-ời đọc vào cảnh tiên nga, mỹ ngọc vang dội lung linh Nh-ng tất cả chỉ nh- một làn gió lạnh đ-a lại một ít nguôi quên, làm một thứ giải toả cho tâm hồn giữa vòng vây của biết bao

lệ sầu ngang trái Tiếng sáo thiên thai dội vào lòng nhà thơ một nỗi buồn hiu

hắt của cái Tôi cô đơn :

ánh xuân l-ớt cỏ xuân t-ơi

Bên rừng thổi sáo một hai kim đồng

Tiếng đ-a hiu hắt bên lòng

Buồn ơi ! xa vắng mênh mông là buồn…

(Tiếng sáo thiên thai)

Không chỉ thi sĩ mà chính ng-ời tiên cũng buồn, cũng mơ màng ngỡ tiếng sáo đang chở lòng buồn của mình dìu dặt lên khơi :

Thiên thai thoảng gió mơ màng

Ngọc Chân buồn t-ởng tiếng lòng xa bay

(Tiếng sáo thiên thai)

ở cõi trần Thế Lữ lại càng buồn Nỗi lòng của Thế Lữ là nỗi Nhớ rừng của con hổ bị giam cầm trong v-ờn bách thú :

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

Đâu những ngày m-a chuyển bốn ph-ơng ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới

… Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu

L-u Trọng L- thì ngoảnh mặt lại với mọi sự đau khổ, h-ớng cái nhìn vào một thế giới mơ màng Cái Tôi trong thơ L-u Trọng L- hầu nh- rất ít mối quan

Trang 16

hệ với thực tại, mất khả năng nhận thức cuộc sống mà luôn luôn chìm đắm trong thế giới mộng t-ởng Trong thơ L-u Trọng L- tất cả các yếu tố màu sắc,

đ-ờng nét, bóng dáng con ng-ời cho đến không gian, thời gian đều không đ-ợc xác định mà bảng lảng trong màn s-ơng của những giấc mộng Bởi vậy cái nhìn mênh mang xa vắng của Thế Lữ đến L-u Trọng L- đã thấm thía ngọt ngào

và có sức lan toả lớn :

M-a chi m-a mãi!

Buồn hết nửa đời xuân!

Mộng vàng không kịp hái

M-a mãi m-a hoài

(M-a… m-a mãi)

L-u Trọng L- đi giữa cuộc đời và trong mơ mộng nh- “Con nai vàng ngơ ngác” Nh-ng cuộc đời với những sự thật phũ phàng khiến ông nhiều lúc “Giật mình ta thấy mồ hôi lạnh / Mộng đẹp bên chăn đã biến rồi” Giật mình - tỉnh

mộng nh-ng vẫn không tìm đ-ợc h-ớng đi để rồi sau phút giật mình ấy nhà thơ lại chìm vào nỗi sầu trong mộng t-ởng

Xuân Diệu đ-ợc coi là ng-ời phát ngôn đầy đủ nhất cho t- t-ởng cá nhân của phong trào Thơ mới Đọc thơ ông ta thấy một cái Tôi trữ tình nặng trĩu nỗi buồn cho dù ông là con ng-ời khát khao sự sống nhất trong các nhà Thơ mới Xuân Diệu buồn khi nhìn ra rặng liễu đứng đìu hiu, buồn khi chiều buông l-ới, buồn khi thu đến, xuân về…Ta bắt gặp trong thơ ông nỗi buồn chung của cả một thế hệ về nhân tình thế thái cùng những cám cảnh th-ơng tâm của những phận thi sĩ nghèo và bức tranh toàn cảnh ngột ngạt tù đọng không lối thoát của xã hội đ-ơng thời :

Chúng ta nay trong cuộc sống ao tù

Đốt điếu thuốc chiêu hồn s-ơng quá khứ

(Mơ x-a)

Thi sĩ kh- kh- ôm trong mình nỗi – sầu đơn vạn kiếp”, thu mình lại trong

thế giới “ riêng tây“ Nhiều lúc nhà thơ tự gọi mình là “chàng sầu”, có lúc

ông lại hoá thân vào con nai, con chim không tổ, núi non, hoặc ng-ời kỹ nữ

Trang 17

Cùng ngơ ngơ ngác ngác giữa đời nh-ng “con nai vàng” của Lưu Trọng Lư còn b-ớc đi để lại tiếng xào xạc còn “con nai chiều” của Xuân Diệu không thể cất nổi b-ớc vì bị bủa vây trong “lưới chiều” :

Tôi là con nai bị chiều đánh l-ới

Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối

( Khi chiều giăng l-ới)

Cùng ra đời với Thơ mới trong cảnh n-ớc mất nhà tan, trong một xã hội có nhiều chuyện đau buồn nh-ng cái Tôi trong thơ ca cách mạng là cái Tôi hoà hợp với cái Ta của quần chúng lao khổ Nói nh- Tố Hữu :

Tôi buộc lòng tôi với mọi ng-ời

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

(Từ ấy)

Còn cái Tôi Thơ mới lại rơi vào tình trạng cô đơn, lạc lõng “hồn đơn chiếc nh- đảo rời dặm biển“ ( Huy Cận ) hay“không có chi bè bạn nổi cùng ta“ ( Xuân Diệu ) Thực ra không phải đến Thơ mới lãng mạn mới buồn mà cái buồn

đã triền miên day dứt trở đi, trở lại trong nhiều thế hệ thi ca Các nhà nho nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Lê Hữu Trác, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến đều không tránh đ-ợc tâm trạng đau buồn và cô đơn Chỉ

có điều tuy đau buồn cô độc nh-ng họ không bao giờ dao động, hoang mang Còn với Thơ mới đau buồn cô độc là tâm trạng của cái Tôi nhỏ bé, bơ vơ lạc lõng giữa cuộc đời Tâm trạng ấy đã thấm sâu vào quan điểm thẩm mỹ của các

nhà thơ Huy Cận cho rằng “Cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn“( Kinh cầu tự ) Chế Lan Viên thì hết lời ca ngợi cái đẹp của hạt lệ: “Hạt lệ ! Những ngôi tinh lạc rơi từ một vòm trời luôn luôn khuya khoắt là bầu mắt thẳm xuống trần gian mãi mãi gió s-ơng, là lòng đau bát ngát của con ng-ời” ( Lời tựa chung cho Vàng sao và Gai lửa) Đau buồn và cô đơn đã trở thành thứ tâm bệnh chung của

chủ nghĩa lãng mạn và là tình trạng phổ biến của cả một thế hệ thi nhân trong

Trang 18

phong trào Thơ mới Từ Thế Lữ đến Huy Cận, từ Xuân Diệu đến Vũ Hoàng Ch-ơng, từ Nguyễn Bính đến Hàn Mặc Tử… đã tích tụ tất cả những nỗi đau nhân tình thế thái để viết nên bản đại hoà tấu mà tất cả các cung bậc đều ngậm ngùi đau xót, ảo não, tái tê

1.2 Nỗi cô đơn, buồn nản chán ch-ờng trong Thơ say và Mây

Vũ Hoàng Ch-ơng xuất hiện với một cái Tôi lồ lộ trong không gian

bao la của bầu trời Thơ mới Thơ say và Mây của ông chất chứa cả một khối

sầu bởi nó xuất phát từ những nét thăng trầm, những mất mát trong chính cuộc

đời của nhà thơ Bởi thế cái buồn trong thơ ông mang một âm h-ởng rất riêng, rất Vũ Hoàng Ch-ơng Đó là nỗi buồn của một trái tim đa sầu đa cảm và tràn ngập yêu th-ơng Nỗi sầu ấy xuất phát từ những nguyên nhân sau

1.2.1 Cô đơn , buồn nản, chán ch-ờng bởi cảm giác lạc loài

Nh- trên đã nói, cái Tôi Thơ mới ngay từ khi mới ra đời đã rơi vào tình trạng bơ vơ, lạc lõng không lối thoát Mặc cảm lạc loài đã khiến các nhà thơ lo sợ, hốt hoảng trốn tránh cuộc đời, nh-ng càng lẩn tránh càng tuyệt vọng, càng bế tắc Bao trùm lên thơ Vũ Hoàng Ch-ơng là một khối sầu cao ngất Và gắn liền với khối sầu ấy là cảm hứng cô đơn lạc loài của một cá nhân luôn muốn tự khẳng định mình Sống giữa cuộc đời mà thi sĩ luôn cảm thấy vô nghĩa tầm th-ờng, con ng-ời không thể hoà đồng với hiện tại Thi sĩ đã tự biến mình thành kẻ cô đơn xa lạ với hiện thực, đứng ngoài cuộc sống Tâm trạng cô

đơn của Vũ Hoàng Ch-ơng phản ánh sự thiếu vắng một ý thức cộng đồng, xa lạ

và chủ quan trong nhận thức xã hội và thời đại :

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ

Một đôi ng-ời u uất nỗi chơ vơ

Đời kiêu bạt không dung hồn giản dị

Thuyền ơi thuyền xin nghé bến hoang sơ

( Ph-ơng xa )

Cô đơn, lạc loài khiến cho nhà thơ cảm thấy xa lạ với đời, với chính mình,

với cả quê hương giống nòi Mặc cảm “bị quê h-ơng ruồng bỏ giống nòi

Trang 19

khinh“ đã khiến nhà thơ nghi ngờ vào chính sự xuất thân của mình : “Lũ

chúng ta lạc loài dăm bảy đứa“, “Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ“ Không

biết bấu víu vào đâu , nh- chiếc thuyền giữa biển khơi mịt mùng, thi sĩ chỉ còn

biết buông xuôi phó mặc cuộc đời cho số phận Nhà thơ đã tự tách mình ra khỏi

cuộc đời, chạy trốn khỏi cộng đồng, tìm đến một ph-ơng xa vô định :

Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng

Xô về đông hay dạt tới ph-ơng đoài

Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng

Lòng cô đơn cay đắng hoạ dần vơi

( Ph-ơng xa )

Đó là sự bất lực, buông xuôi hay là sự nổi loạn để khẳng định cái Tôi - cá

nhân Vũ Hoàng Ch-ơng ? Ta thấy rằng Vũ Hoàng Ch-ơng là thi sĩ đầy tài năng

và tâm huyết Nh-ng tài năng và tâm huyết của ông đã bị làn gió vô tình của

cuộc đời cuốn mất khiến ông lâm vào tình trạng thất vọng, chán ch-ờng

Nh-ng đó cũng là lúc khát vọng sống hoà nhập lại trỗi dậy hơn lúc nào hết

Nhà thơ đau đớn thốt lên :

Ta đã làm chi đời ta x-a?

Ta đã dùng chi đời ta ch-a?

( Đời tàn ngõ hẹp )

Tr-ớc Vũ Hoàng Ch-ơng, Nguyễn Công Trứ , Cao Bá Quát cũng là những

nhà nho có tài Thời thanh niên có những hoài bão lớn lao, Nguyễn Công Trứ tự

tin ở tài năng của mình đồng thời có ý thức về sự tồn tại, về địa vị, về sứ mệnh

của cá nhân mình ở trời đất Cao Bá Quát cũng ôm ấp hoài bão muốn đem tài

kinh bang tế thế ra phò vua giúp n-ớc Nh-ng tất cả đều vỡ mộng dẫn đến u

uất, bế tắc lâm vào con đ-ờng hoặc ngông cuồng, phá phách, hoặc đề cao triết

lý h-ởng lạc thậm chí tới mức cực đoan “Nhân sinh bất hành lạc, thiên tuế

diệc vi thương“ ( Nguyễn Công Trứ ) hay “Nhân sinh quí thích“ (Cao Bá Quát ).

Không ngông cuồng, phá phách nh- Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát, Vũ

Hoàng Ch-ơng mang đến cho thơ mình một lời tự bạch, ẩn chứa bên trong là

nỗi đau của một cá nhân có tài nh-ng không đ-ợc đem cái tài đó ra thi thố với

Trang 20

đời Ta bắt gặp trong thơ ông cái Tôi nơi Nguyễn Công Trứ hay Cao Bá Quát Nh-ng cái Tôi của Vũ Hoàng Ch-ơng lạc lõng hơn, bơ vơ hơn, vì thế khối sầu của ông u uất, chồng chất và sừng sững hơn giữa cuộc đời :

Cánh r-ợu thu gần vạn dậm khơi

Nẻo say h- thực bóng muôn đời

Ai đem xáo trộn sầu kim cổ?

Trăng n-ớc Đà Giang mộng Liêu Trai

( Đà Giang )

Cùng với thơ của Thế Lữ, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc

Tử, Vũ Hoàng Ch-ơng đóng góp những vần thơ thấm đẫm những giọt n-ớc mắt cô đơn, sầu tủi :

Cha mẹ mất đi lạnh h-ơng khói,

Một chị một em sầu má hồng,

Khuya sớm cô đơn giọt lệ tủi,

ấu thơ đã trêu gì hoá công?

( Đời còn chi )

Nh- chú chim non lạc mẹ Vũ Hoàng Ch-ơng kêu gào, cầu cứu trong sự tuyệt vọng Nh-ng không gian thì rộng quá, lòng ng-ời thì thờ ơ, lạnh nhạt biết tìm đâu chốn dung thân, nhà thơ chỉ biết n-ơng tựa vào chính mình N-ơng tựa vào mình - ? Điều đó là không thể bởi Vũ Hoàng Ch-ơng đang nghi ngờ về sự xuất thân, về sự tồn tại của mình thì làm sao mà v-ợt qua đ-ợc Sự giằng co giữa một bên là sự cô đơn lạc lõng, một bên là -ớc muốn hoà nhập với cuộc đời

đã đẩy thi sĩ vào tâm trạng bế tắc không lối thoát Tâm trạng này đ-ợc thể hiện

rõ nét trong Đời tàn ngõ hẹp và Tuý hậu cuồng ngâm

Mở đầu bài thơ Đời tàn ngõ hẹp là nỗi buồn nản chán ch-ờng của nhân

vật trữ tình sau một giấc mộng dài tỉnh dậy bỗng chợt nhận ra ngày đã ngả sang chiều và cuộc đời cũng theo đó mà khép lại:

Gối vải mộng phong hầu

Vàng son mờ gác xép

Trang 21

Bửng tỉnh m-a càng mau

Chiều tàn trong ngõ hẹp

Đời hiu hiu xế tà

Sự kết hợp hai mô típ quen thuộc “ bầu trời mưa“, “chiều hiu hiu“ đã

tạo một không gian tĩnh lặng, thời gian nh- đang ngừng trôi, đang vơi dần lắng

nghe tiếng thở dài não ruột của thi sĩ M-a trong Đời tàn ngõ hẹp khiến ta nhớ

đến bầu trời sũng n-ớc làm não nề cả cõi lòng cô đơn trong khúc ariét của Veclen : “M-a rơi trong tim tôi, mưa rơi trên thành phố“ M-a nh- nguồn ám

chỉ cuộc đời đầy những giăng mắc, tù túng lạnh lẽo và cô đơn Ta cũng gặp m-a nh- thế trong thơ của Huy Cận :

Đêm m-a nằm nhớ không gian

Lòng run thêm lạnh nỗi lòng bao la…

(Buồn đêm m-a)

Nguyễn Bính nghe m-a rơi mà khơi sâu nỗi sầu buồn cô quạnh :

M-a mãi, m-a hoài, m-a bứt rứt

Đêm dài dằng dặc, đêm bao la …

( M-a trên đất khách )

Còn Vũ Hoàng Ch-ơng nghe m-a rơi mà buồn cả cuộc đời :

Chiều m-a rồi đêm m-a ;

Đời tàn trong ngõ hẹp

Những buổi chiều buồn là mô típ rất quen thuộc trong thơ ca truyền thống Ta đã gặp một chiều tê tái trong ca dao :

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

hay một chiều buồn man mác trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan :

B-ớc tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen lá đá chen hoa

Lom khom d-ới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Trang 22

Các thi sĩ Thơ mới cũng viết nhiều về mô típ này Đó là một chiều “ hiu hiu khẽ buồn“ của Xuân Diệu hay một chiều cô tịch của Huy Cận :

Chiều lại xuống ở trên lầu cô tịch

Chờ thi nhân đã chết tự ngàn x-a

Còn chiều trong Đời tàn ngõ hẹp là chiều tàn tạ bức bối trong một không

gian chật hẹp bỗng chốc bị nứt vỡ trong tiếng than khắc khoải, chua chát, xót

xa :

Ôi ! ta đã làm chi đời ta?

Ai đã làm chi lòng ta

Cho đời tàn tạ lòng băng giá

S-ơng mong manh quạnh chớm thu già

Đây không phải là buổi chiều buồn duy nhất trong Thơ say và Mây mà

những chiều nh- thế cứ trở đi trở lại trong ông nh- một nỗi ám ảnh :

Nhìn quanh : chiều xám với tha ma!

Vắng tanh! Ôi chiều, nơi tha ma !

Nh-ng đâu đây ai khóc gần hay xa

Mà thảm thiết ? Hay thu vừa nức nở ?

( Bạc tình )

Trong cái không khí đang sợ ấy thi sĩ đã tạo nên một khúc nhạc buồn tê tái

đáng th-ơng:

Chập chờn kim ốc giai nhân…

Gió lạnh đ-a vèo

Khoa danh trên gối rụng tàn theo !

Nao nao đàn sáo phai dần

Hạnh phúc tàn theo

Nửa gối thê nhi lá rụng vèo !

Cùng với Đời tàn ngõ hẹp, Tuý hậu cuồng ngâm cũng nói về tâm trạng cô

đơn lạc lõng, bế tắc của cái Tôi - cá nhân Vũ Hoàng Ch-ơng Nh-ng nếu Đời tàn ngõ hẹp là tâm trạng về số phận một cá nhân thì ở Tuý hậu cuồng ngâm tâm

Trang 23

trạng ấy đã đ-ợc nâng lên thành cảm xúc về con ng-ời nói chung Thi sĩ đã đặt con ng-ời ở hai thế giới h- vô và thực tại để giải đáp cuộc đời:

Nhớ thủa x-a ch-a có ta hề đ-ờng đi thênh thênh

Kịp tới khi có ta hề chông gai mông mênh

Cuồng vọng cả mà thôi, bốn ph-ơng hề v-ớng mắc

Ba m-ơi năm trên vai hề trống không bình sinh

Thi sĩ muốn đi trên một con đ-ờng mà mộng và thực cùng chung một lối Nh-ng một phút tỉnh thi sĩ thấy đó là cuồng vọng Hai con đ-ờng là hai thế giới

khác biệt Đ-ờng x-a “thênh thang“ nay “ chông gai mông mênh“ X-a nay

mộng – thực có bao giờ chung một con đ-ờng Mộng và thực luôn là nỗi dày

vò suy t-, là nỗi chán ch-ờng cũng là niềm khao khát của Vũ Hoàng Ch-ơng Thi sĩ muốn có sự hợp nhất giữa mộng và thực, muốn giải phóng, muốn tự do nh- những đám mây, những cánh chim trên bầu trời cao rộng nh-ng đó chỉ là cuồng vọng bởi :

Niềm u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi?

Há vì cơm áo chẳng no lành?

Há vì đời không ai mắt xanh?

Sự khốn khó về vật chất, ngột ngạt về tinh thần đã làm cho con ng-ời trở nên đáng th-ơng hơn và nhu cầu về sự chia sẻ cảm thông cũng theo đó mà lớn dần lên Vũ Hoàng Ch-ơng là ng-ời từng nếm trải nỗi cơ cực vì thiếu thốn, túng quẫn nên ông cảm nhận rất sâu sắc về vấn đề này:

Lều nát hề chơ vơ, ngõ m-a lầm lội

Trăng lạnh đèn mờ, hồn đơn hề le lói;

Đọc truyện cổ nhân hề lòng ta quặn đau

Gió bụi xôn xao hề th-ơng vay ng-ời sau

Có biết bao nhà văn, nhà thơ đã đề cập đến vấn đề cơm áo nh-ng chỉ đến

Vũ Hoàng Ch-ơng vấn đề ấy mới đ-ợc nâng lên thành nỗi niềm suy t-, trăn trở

về thân phận con ng-ời Vì thế những vần thơ của ông mới não nuột u uất cấu

xé tâm can ng-ời đọc

Trang 24

Suy t- trăn trở nhiều lắm nh-ng thi sĩ đành bất lực bó tay tr-ớc thời cuộc

và không thể làm gì hơn thế bởi nhân tình thế thái trớ trêu đã kìm hãm tài năng

của những kẻ có tài Buông xuôi thi sĩ cầu cứu “ai mách giùm ta với!“ Nh-ng

càng kêu cứu thì nỗi đau càng cồn cào da diết nh- con n-ớc lãng mạng đang lê mình trong dòng khô cạn, nh- con thuyền lênh đênh giữa sóng cao gió cả, nh- chiếc lá úa sắp sửa rời cành, nh- đám mây tím chiều tà còn thoi thóp trong bóng hoàng hôn :

Ôi đ-ờng gai góc là bao hề sóng cồn mặt bể!

Th-ơng cho tay lái non hề con thuyền lao đao,

Tiếc cho cơ hội muộn hề chặt gai đ-ợc sao!

Lá úa cành khô, thu đông hề nối gót,

Chếnh choáng giang san hề còn say hát ngao

Mây hồng tím ph-ơng tây hề tà huy thoi thóp

Đời sắp tàn trăng hề bấc lu dầu hao?

Đây không phải là sự nổi loạn của cái Tôi trong nỗi bất lực, buông xuôi

phó mặc cho số phận nh- ở bài Ph-ơng xa mà ở đây con ng-ời cá thể đã dám

tự khẳng định mình Chỉ tiếc rằng cái Tôi ấy không thể hoà đồng vào cuộc sống

để tìm cho mình một chỗ đứng nên đã sớm rơi vào cô đơn, bế tắc Mang trong mình nhiều -ớc mơ, ôm ấp nhiều mộng t-ởng nh-ng thực tế cuộc đời phũ phàng dày xéo lên tất cả mọi -ớc mơ và khát vọng ấy nên tất yếu nảy sinh những bi kịch cá nhân Một mặt con ng-ời cá thể không thể tìm đ-ợc sự dung hoà với cuộc đời, mặt khác lại không dễ dàng dứt bỏ Bi kịch tinh thần lớn nhất của ng-ời nghệ sĩ lãng mạn tr-ớc Cách mạng tháng Tám 1945 là ở chỗ đó: yêu

đời nh-ng đau đời Cho nên hầu hết các nhà thơ lãng mạn đều có tâm trạng giống Vũ Hoàng Ch-ơng : buồn nản, cô đơn, sống giữa mọi ng-ời mà luôn cảm thấy xa lạ, ngơ ngác nh- ở chốn rừng hoang Có thể cắt nghĩa tâm trạng này bằng nhiều nguyên nhân khác nhau nh-ng chủ yếu vẫn là cái nhìn bế tắc không lối thoát của tầng lớp tiểu t- sản trí thức thành thị đã thoát ly đấu tranh chính trị Điều kỳ diệu là các nhà thơ đã nói nên tâm trạng ấy một cách nghệ thuật, chân thật và độc đáo Nói nên nỗi buồn, biến nỗi buồn thành nghệ thuật, thành

Trang 25

cái đẹp là phẩm chất của thi sĩ và cũng là công cụ, là chủ đề nghệ thuật của các nhà Thơ mới Họ nói đến cái buồn một cách tâm huyết , coi cái đẹp , cái buồn

là đồng nhất nên là lẽ tự nhiên Vũ Hoàng Ch-ơng đã đem đến cho Thơ mới muôn vàn giọt lệ

1.2.2 Cô đơn, buồn nản, chán ch-ờng bởi mất mát trong tình yêu

Tình yêu vốn là yếu tố luôn len lỏi vào những nguồn vui khổ đau buồn của con ng-ời Tình yêu cũng là đề tài muôn thủa của thơ ca Với các nhà thơ, tình yêu là ph-ơng tiện song hành, là nguồn cảm xúc khơi mạch thi ca và làm chiếc cầu nối để thơ đến với đời Thơ mới cũng vậy, tình yêu là chủ đề trung tâm , là cảm hứng sáng tạo của cả trào l-u Giáo s- Hà Minh Đức đã

-khẳng định tình yêu là “đề tài quan trọng vào bậc nhất và góp phần tạo cho Thơ mới một diện mạo riêng , độc đáo“ Đọc Thơ mới ta có thể cảm nhận đ-ợc

tất cả các dạng thức và cung bậc của tình yêu : mơ mộng trong thơ L-u Trọng L- ; nhẹ nhàng, bâng khuâng trong thơ Nguyễn Nh-ợc Pháp ; chân thành và xúc động của những mối tình quê trong thơ Nguyễn Bính ; tha thiết, sôi nổi trong thơ Xuân Diệu …Nh-ng tình yêu trong Thơ mới ch-a có cơ sở vững chắc nên nó đến rồi lại đi nh- là một quy luật Do đó, bên cạnh nỗi buồn do cảm giác lạc loài còn là nỗi buồn do mất mát trong tình yêu

Chủ nghĩa lãng mạn nh- là sự bùng nổ của tình cảm, thơ ca lãng mạn là sự khẳng định của cái Tôi cá nhân cùng những khát vọng đ-ợc tự do về tình cảm

ở Việt Nam, khi tình cảm cá nhân đ-ợc giải phóng khỏi những ràng buộc của

lễ giáo, tập tục x-a thì tình yêu đ-ợc nâng lên thành lý t-ởng Các thi sĩ lãng mạn đi tìm lý t-ởng của cuộc đời trong tình yêu Nhiều thi sĩ coi tình yêu là nguồn cảm hứng duy nhất, là lẽ sống duy nhất ở đời Nh-ng sự thật giữa lý t-ởng và cuộc đời chẳng bao giờ đi đôi Vì thế khi tình yêu tan vỡ thì cuộc đời cũng nh- sụp đổ tan tành

Vũ Hoàng Ch-ơng là một trong những thi sĩ nh- thế Cũng nh- những chàng thanh niên dạo ấy Vũ Hoàng Ch-ơng có những phút rạo rực, bâng khuâng, nhớ nhung của một tình yêu đẹp, tình yêu say đắm , yêu tới mức si mê, yêu một chiều :

Trang 26

Long lanh giọt lệ tuyết,

Lặng lẽ trôi theo thuyền

… Ôm hờ lá vẫn rõi theo bên…

Bẽ bàng, lá vẫn theo bên,

Si tình , lá vẫn theo bên ,

(Tình si)

Nh-ng sau những phút đắm mình trong hạnh phúc thần tiên thi sĩ chợt

tỉnh, cảm thấy có gì bất ổn trong tình yêu :

Nắng ngả còn ch-a tin là chiều

Lá đổ còn ch-a là mùa thu

(Yêu mà chẳng biết)

Tình yêu đến với Vũ Hoàng Ch-ơng mau đ-ợm chóng tàn, ch-a kịp bắt

đầu đã trắc trở.Và d-ờng nh- phải éo le, trắc trở, phải có vị đắng cay sầu tủi thì mới đúng là tình yêu theo phong cách lãng mạn Vũ Hoàng Ch-ơng đã từng coi tình yêu là lí t-ởng, đã nâng niu, nuôi d-ỡng mối tình đầu trong suốt m-ời năm trời nay bỗng kết thúc thật phũ phàng: ng-ời yêu đi lấy chồng Nỗi đau mất tình yêu nh- đào thêm nỗi sầu lạc loài khiến nhà thơ rơi vào tâm trạng hụt hẫng, tròng trành nh- con thuyền giữa biển khơi Một tâm hồn vốn đã cô đơn buồn tủi bởi cảm giác lạc loài nay càng thêm cô đơn, trống trải Thi sĩ thốt lên

đau đớn :

Là thế! Là thôi! Là thế đó!

M-ời năm thôi thế mộng tan tành!

( M-ời hai tháng sáu)

Không biết bấu víu, n-ơng tựa vào đâu, nhà thơ chỉ biết làm thơ để khóc than, ngậm ngùi, tiếc nuối cho tình yêu, cho số phận hẩm hiu của mình :

Trang 27

Mãi hôm nay một buổi sớm thu mờ ,

Lòng chơ vơ rùng rợn nỗi kinh hoàng

Lời cay đắng t-ởng vô cùng bất tuyệt

Ngậm ngùi thống thiết

Rầu rĩ thê l-ơng

Niềm oán hận càng nghe càng rõ rệt

Ôi trăm năm nghìn tủi quá đau th-ơng

( Bạc tình )

Đau đớn, ngậm ngùi, rầu rĩ, thê l-ơng và đầy oán hận, nhà thơ quyết chôn vùi mối tình dang dở của mình bằng khúc bi ai của ngày m-ời hai tháng sáu - ngày ng-ời yêu đi lấy chồng:

Men khói đêm nay sầu dựng mộ

Bia đề tháng sáu ghi m-ời hai

( M-ời hai tháng sáu )

Cái đêm hôm ấy - đêm m-ời hai tháng sáu - sự đau khổ chán ch-ờng, tuyệt vọng, chua chát nên tới đỉnh điểm Để chôn vùi cay đắng nhà thơ đắm mình trong khói thuốc, men r-ợu, quay cuồng trong điệu ca uất hận:

Kiều Thu hề trọn kiếp th-ơng!

Sầu cao ngùn ngụt mấy đ-ờng tơ khô

Xừ, xang, xế, xự, xang, hồ

Bàn tay nhịp ngõ điên rồ khói lên

Ngôi mộ tình yêu mà tự tay Vũ Hoàng Ch-ơng xây nên để chôn vùi kỷ niệm xót xa của một thời trai trẻ đã trở thành nỗi ám ảnh trong suốt cuộc đời

Trang 28

nhà thơ Mỗi khi ký ức sống dậyVũ Hoàng Ch-ơng lại đau đớn gọi tên ng-ời

yêu trong nỗi ngẹn ngào đầy uất hận “Tố của Hoàng ơi! Tố của anh! “

Nỗi đau do sự mất mát trong tình yêu đối với Vũ Hoàng Ch-ơng quả là quá lớn Nỗi đau ấy d-ờng nh- không hề phai nhạt theo thời gian mà càng ngày càng gân guốc, góc cạnh, có hình khối Có lẽ lần đầu tiên trong Thơ mới ta gặp một nỗi đau nh- thế - một nỗi đau có dạng, có hình, một nỗi đau nh- khắc tạc vào tâm hồn, một nỗi đau khiến cho thể xác rã rời tinh thần tê dại, đau đớn, cuộc sống không còn ý nghĩa và mọi cái trở nên xa lạ, mờ nhạt :

Đêm nay đây hồn nẻo xế thu tàn …

Khóc chia lìa ai níu gọi than van?

Ta chỉ biết nằm nghe tình hấp hối

Tay đã gắng để khuây sầu lẻ gối,

M-a; m-a hoài! R-ợu chẳng ấm, lòng đau

( Lá th- ngày tr-ớc )

Thơ mới viết nhiều về tình yêu, nhất là tình yêu trắc trở cách ngăn Song

có lẽ chỉ có Vũ Hoàng Ch-ơng mới thể hiện hết ngọt bùi ,cay đắng mà tình yêu

đem đến cho con ng-ời

Xuân Diệu - nhà thơ đ-ợc mệnh danh là “ông hoàng của tình yêu“, “thi

sĩ của tình yêu“ - đã chọn tình yêu để gửi gắm lòng yêu đời và nỗi khát vọng

sống của mình Bằng những cảm xúc chân thực và khát vọng ân ái chính đáng

của mình Xuân Diệu đã thiết lập nên một thứ “chủ nghĩa yêu đương“ hoàn

toàn mới mẻ, phù hợp với quan niệm sống và yêu của thế hệ trẻ đ-ơng thời Với Xuân Diệu tình yêu chỉ thực sự là tình yêu khi con ng-ời ta cảm thấy khao khát, say mê mãnh liệt, vô biên Nh-ng hình nh- với Xuân Diệu càng khao khát càng mãnh liệt thì càng thấy xa cách, cô đơn, thiếu hụt Trong rất nhiều bài thơ tình của Xuân Diệu ta nh- cảm nhận đ-ợc một cái gì đó bất trắc, thiếu

sự bền vững, mong manh và có thể trôi tuột nh- “mưa lũ” đổ “lá khoai“: Lòng ta là một cơn m-a lũ

Đã gặp em là lá khoai

(N-ớc đổ lá khoai)

Trang 29

Có lẽ vì thế mà Xuân Diệu luôn vội vàng, gấp gáp, cuống quýt để tận h-ởng h-ơng vị của tình yêu Nh-ng dù nhà thơ có cố gắng đến bao nhiêu thì cũng không xoá đ-ợc cảm giác cô đơn, trống vắng vô bờ giữa hai ng-ời đang

yêu: “ Em là em, anh vẫn cứ là anh ” Không tìm đ-ợc sự hoà hợp trong tình

yêu cuộc sống trở nên xa lạ, nhạt nhẽo, thi sĩ cảm thấy cô đơn, vắng vẻ và càng cô đơn vắng vẻ thì càng khao khát niềm hạnh phúc Nh-ng thật trớ trêu, hạnh phúc ch-a bao giờ mỉm c-ời với Xuân Diệu Tình yêu ch-a kịp hé nở đã lụi tàn trong dang dở Chỉ có điều Xuân Diệu chấp nhận không một lời than vãn và sẵn

sàng cho qua nh- sự đã rồi : “Tình đã cho không lấy lại bao giờ“ chứ không

đau đớn tuyệt vọng nh- Vũ Hoàng Ch-ơng “Cả đời thêu gối c-ới nh-ng ch-a bao giờ được làm cô dâu“ nh-ng không vì thế mà Xuân Diệu phũ phàng, rẻ

rúng tình yêu Điều ở Vũ Hoàng Ch-ơng không thể có đ-ợc

Bên cạnh Xuân Diệu, L-u Trọng L- cũng là thi sĩ có nhiều duyên nợ với tình ái nh-ng lại là thứ ái tình trong mộng Ông ngây ngất, đắm say và mải mê theo đuổi một hình bóng giai nhân thoáng hiện trong giấc mộng Nh-ng theo

đuổi mãi mà chẳng bắt đ-ợc ng-ời thiếu nữ kiều diễm ấy, nhà thơ bừng tỉnh quay trở về với cuộc đời thực và nhận ra sự thật phũ phàng, tình yêu tan biến :

Cõi trần m-ờng t-ởng bóng Tiên nga

Không biết còn đây hay đã xa

Dáng điệu trong g-ơng rồi vụt biến

Gối chăn còn để mộng đêm qua

Đau khổ, hụt hẫng vì tình yêu không đ-ợc đoái hoài, thi nhân chỉ còn biết

an ủi lòng mình bằng chút hy vọng mỏng manh: “em là dải ngân hà“, còn

“anh là chim Ô Th-ớc” để mỗi năm một lần được “bắc cầu nguyện ước”

Nh-ng chút hy vọng mong manh tội nghiệp ấy cũng không làm vơi đi nỗi sầu buồn do mất mát trong tình yêu Chính sự khắc nghiệt của tình yêu đã tạo nên trong thơ L-u Trọng L- một nỗi buồn nhẹ nhàng man mác nh-ng day dứt ám

ảnh tâm can ng-ời đọc Thơ L-u Trọng L- chính là bản tình ca trong mộng,

bản tình ca của trái tim khắc khoải, của tình yêu dang dở, của buồn th-ơng man

Trang 30

mác, của mộng mơ bất thành Nỗi đau mất mát bởi tình yêu của ông cũng rất lớn, nh-ng là nỗi đau của ng-ời trong mộng nên nó mơ màng da diết chứ không trực tiếp, cụ thể, có tên có tuổi, có ngày có tháng nh- Vũ Hoàng Ch-ơng

: Tháng sáu, m-ời hai từ đấy nhé

Chung đôi, từ đấy nhé lìa đôi!

Em xa lạ quá, đâu còn phải

Tố của Hoàng x-a, Tố của tôi

Cũng nh- L-u Trọng L-, Thế Lữ - một con ng-ời “khát yêu“ (Chữ dùng

của Hoài Thanh , Hoài Chân ) – cũng không dễ gì thoát khỏi vòng vây oan

nghiệt của ái tình cho dù lòng đã dặn lòng: “ Trong thuở bình sinh đôi mắt ta không hề đẫm lệ bao giờ “ Ng-ời đẹp và ái tình quả có sức cuốn hút kỳ diệu

Ng-ời l-u luyến cảnh tiên trong t-ởng t-ợng, phảng phất nghe tiếng sáo tiên,

mải mê nhìn những nàng tiên “đẹp nh- ngọc nữ uốn mình trong không“ Giữa

cuộc đời thực, mặc dù có Nàng Thơ lúc nào cũng đi cùng nh-ng trái tim nhà thơ không thể không thổn thức, rộn ràng tr-ớc vẻ đẹp đến nao lòng của ng-ời thiếu nữ kiều diễm:

Tiếng hát trong nh- n-ớc ngọc tuyền

Êm nh- hơi gió thoảng cung tiên

Cao nh- thông vút buồn nh- liễu

N-ớc lặng, mây ngừng, ta đứng yên

(Tiếng gọi bên sông)

Nh-ng rồi cả Nàng Thơ, cả ng-ời đẹp cũng bỏ chàng thi sĩ ấy mà đi để lại một khoảng không mênh mông vô tận với niềm cô đơn trống trải ngày càng ngấm sâu Đau khổ, chua xót, tâm hồn nhà thơ quằn quại, đau đớn, sầu giận :

Trang 31

Nỗi đau bởi mất mát trong tình yêu của Thế Lữ cũng mạnh mẽ, cũng dữ dội nh-ng nó chỉ thoáng qua nh- cơn m-a rào mùa hạ chứ không ám ảnh vò xé tâm can nh- nỗi đau của Vũ Hoàng Ch-ơng:

Tuyết xuống ph-ơng nào lạnh lắm không?

Mà đây lòng trắng một mùa đông,

T-ơng t- nối đuốc thâu canh đợi ,

Thoảng gió…trà mi động mấy bông

( Đời vắng em rồi say với ai )

Với Nguyễn Bính - thi sĩ của làng quê - thì tình yêu cất nên tiếng nói lung linh của mọi cung bậc tình cảm đầy t-ơng t-, dễ cảm, dễ yêu và cũng đầy đau khổ, thất vọng Tình cảm của ông mộc mạc, đơn sơ nh-ng vô cùng phóng túng,

đam mê, dài rộng nh- con sông đi về ngả nào cũng còn h-ớng chảy Đam mê, phóng túng, Nguyễn Bính gặp ai cũng yêu hoặc t-ởng t-ợng ra ng-ời ta yêu mình để mà yêu, mà nhớ Do đó, t-ơng t- không còn là trạng thái tình cảm bình th-ờng trong yêu đ-ơng mà đã trở thành một căn bệnh, một căn bệnh không chết ng-ời nh-ng không kém xót xa đau đớn về tinh thần trong thơ Nguyễn Bính:

Gió m-a là bệnh của trời

T-ơng t- là bệnh của tôi yêu nàng

( T-ơng t- )

T-ơng t- là đồng nhất với đau khổ Cuộc đời thi nhân gặp không biết bao nhiêu bóng giai nhân nh-ng chỉ là những hình bóng chập chờn, lởn vởn Con ng-ời đa tình này đã mang nhiều mối tình trăng gió trên con đ-ờng xê dịch nh-ng rồi tất cả chỉ là phù hoa để lại cho nhà thơ nỗi niềm đau th-ơng thất vọng Biết bao những tâm t- đổ chan hoà trên trang thơ chua xót, oán hận do những bóng giai nhân đó dệt lên Nh-ng, t-ơng t- nhiều mà chẳng đ-ợc bao nhiêu Tình yêu của thi sỹ làng quê ấy nh- cánh hoa trinh bạch trắng trong nở trên mặt đất đầy vật cản Biết bao những mộng -ớc bị tan vỡ ngổn ngang, nhà thơ chỉ còn biết than thở :

Trang 32

Tôi rót hồn tôi xuống mắt nàng

Hồn tôi là cả một lời van

Tôi van nàng đấy, van nàng đấy

Ai có yêu đ-ơng chẳng vội vàng

(Ng-ời con gái ở lầu hoa)

Trong thơ Nguyễn Bính ta ít thấy những cuộc gặp gỡ của trai gái trong hạnh phúc lứa đôi mà th-ờng là những giấc mơ, trạng thái mong -ớc, t-ơng t-

Đặc biệt có cả -ớc mơ về đám c-ới đẹp với “ những mâm cau phủ lụa điều“, với “ xe cưới ngời hoa trắng“, “ cửa kính huy hoàng vạt áo thêu“ Nh-ng

đám c-ới là tột đỉnh của hạnh phúc hay là tột đỉnh của khổ đau ? Tình yêu với Nguyễn Bính chỉ nh- chiếc bong bóng khi trời m-a để rồi khi m-a tạnh nhà thơ ngậm ngùi, tiếc nuối :

M-a thế mà to chảy -ớt sân

Giọt gianh dài xuống những dòng ngân

Từng con bong bóng lanh chanh nổi

Nh- mộng đời tôi vỡ tan tành

( M-a )

Cho nên dù có mơ nhiều về hôn nhân, về đám c-ới thì Nguyễn Bính vẫn không thể thoát khỏi vòng dây oan nghiệt của ái tình Vì vậy đọc thơ ông ta thấy chất chứa một không gian đầy mong -ớc và cùng với nó là thời gian của sự

đợi chờ và cuối cùng là thời gian vô vọng :

Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn

Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng !

Vẫn là chuyện tình dang dở nh-ng những vần thơ viết về tình yêu ngang trái của Nguyễn Bính lại lặng lẽ, êm đềm , tĩnh và phẳng, chậm dãi và lắng sâu

Nó giống nh- thứ m-a phùn nhẹ của mùa xuân “ phơi phới bay“ nên đầy ắp

những t-ơng t- Hơn thế nữa, mặc dù mất mát trong tình yêu nh-ng Nguyễn Bính không bi quan chán nản mà tìm thấy sự cảm thông với những khó khăn trắc trở trong tình yêu :

Trang 33

Tình tôi nở giữa mùa thu

Tình em lẳng lặng kín nh- buồng tằm

( Đêm cuối cùng )

Và nhất là trong cảnh ngộ “lỡ b-ớc sang ngang” của bao nhiêu số phận,

bao nhiêu cuộc đời

Từ Xuân Diệu, L-u Trọng L- đến Thế Lữ, Nguyễn Bính…đều mang trong mình nỗi đau mất mát trong tình yêu Nh-ng có lẽ không ai thể hiện nỗi đau sâu sắc đến tê dại nh- Vũ Hoàng Ch-ơng

Qua việc tìm hiểu thơ Vũ Hoàng Ch-ơng và một số nhà Thơ mới ta thấy: buồn, cô đơn, đau khổ là những trạng thái tinh thần đồng hành với các thi sĩ Trong Thơ mới có cái buồn vô cớ, cái bơ vơ, cái nhớ nhung, cái côi cút, quạnh

quẽ và cả cái sầu thảm “sầu chi lắm, trời ơi, chiều tận thế (Huy Cận). Những bơ vơ, đau buồn và sầu thảm ấy nếu đứng trên yêu cầu cách mạng mà bàn thì không tránh khỏi đ-ợc xem là tiêu cực Nh-ng xét cho cùng chúng có cơ sở, ngọn nguồn là lòng yêu đời yêu cuộc sống Bởi vì có yêu đời, yêu cuộc sống thì

mới đau đớn, xót xa tr-ớc thực tế cuộc đời “ đang giơ vuốt” Hơn thế nữa

những trạng thái tình cảm ấy lại là sự thể hiện cái Tôi bản ngã, là sự ý thức vai trò, vị trí của mình trong nền văn học n-ớc nhà của các thi sĩ Thơ mới Chính cái Tôi của Thơ mới đã mở ra cho thơ con đ-ờng mới , rộng rãi và tốt đẹp hơn nhiều, đem đến b-ớc ngoặt trong lịch sử thơ ca Việt Nam

Trang 34

Ch-ơng 2

Con đ-ờng thoát ly hiện thực

Thoát ly hiện thực là một cách phủ nhận thực tại và thể hiện cái Tôi đầy bản lĩnh của Thơ mới Tuy nhiên, đây là trào l-u thơ ca mang ý thức hệ t- sản

và quan điểm “ Nghệ thuật vì nghệ thuật“, chịu ảnh h-ởng rõ nét của những

quan điểm nghệ thuật ph-ơng Tây, đặc biệt là chủ nghĩa t-ợng tr-ng của Baudelaire và các tr-ờng phái suy đồi khác ở Pháp Điều này đ-ợc thể hiện rõ

trong quan điểm sáng tác của nhiều nhà thơ có tên tuổi Hàn Mặc Tử cho rằng:

“Làm thơ tức là điên” Xuân Diệu thì quan niệm :

Là thi sỹ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây

(Cảm xúc)

Thế Lữ tâm sự :

Tôi chỉ là một khách tình si

Ham vẻ đẹp có muôn hình muôn vẻ

M-ợn cây bút nàng Ly Tao tôi vẽ

Và m-ợn cây đàn ngàn phím tôi ca

( Cây đàn muôn điệu)

Phạm Hầu chủ trương: “ Nghệ thuật cao cấp phải đài các Phải đem ta xa

đời sống th-ờng về vật chất…“ Còn Chế Lan Viên thì cho rằng: “ Làm thơ là làm sự phi thường“ và kêu gọi các thi sỹ hãy lánh xa những “phiền hà sâu bọ của cuộc đời“ mà “ thoát lên tất cả các nhu cầu…Thoát tục ở trên cõi tục”

Rõ ràng các nhà Thơ mới đã đ-a nghệ thuật đi xa hơn cuộc sống và luôn mơ

-ớc đến một cái gì “trong sạch“ “thanh tao“ xa lạ với trần thế

Nh-ng đôi khi giữa quan niệm và thực tế sáng tác cũng không phải là một Thơ mới là tiếng nói của một lớp ng-ời đang khao khát tự do, khao khát đ-ợc giải phóng tâm hồn khỏi những ràng buộc của xã hội cũ Muốn đ-ợc bay nhảy

Trang 35

giữa bầu trời cao rộng, muốn đ-ợc tự do cất tiếng nói của chính mình nh-ng họ không thể tìm đ-ợc lối ra giữa cuộc sống đầy bon chen Cho nên muốn thoát ly cũng chẳng dễ dàng bởi những nỗi buồn, những chua chát đắng cay của cuộc

đời vẫn theo đuổi và đôi khi cứ bám diết lấy nhà thơ nh- mối duyên nợ không

thể bứt Bởi thế dù có “ thoát lên tiên cùng Thế Lữ“ hay “ phiêu l-u trong tr-ờng tình cùng L-u Trọng Lư“ hoặc “đắm say cùng Xuân Diệu“ thì cõi tiên

ấy, tr-ờng tình ấy cũng không thể ở ngoài cuộc đời Xét cho cùng thoát ly cũng

là thái độ phủ nhận cuộc sống Thoát ly cũng là ph-ơng tiện để thể hiện mình, thể hiện cái Tôi một cách mạnh mẽ nhất

Vũ Hoàng Ch-ơng đến với Thơ mới bằng một cái Tôi sừng sững giữa bầu trời thơ Thất vọng trong tình yêu, ý thức đ-ợc sự lạc loài khiến ông lâm vào tình trạng bế tắc Cái Tôi Vũ Hoàng Ch-ơng vẫy vùng trong vũng lầy cuộc sống để tìm đ-ờng thoát ly Con đ-ờng quen thuộc là trở về quá khứ, trốn vào tình yêu nh-ng với Vũ Hoàng Ch-ơng tỏ ra vẫn ch-a hữu hiệu Vũ Hoàng Ch-ơng đã tìm đến thú say với hy vọng tìm thấy một niềm đam mê, một lẽ sống mới, một sự tự do cho chính cuộc sống, lý t-ởng và nghệ thuật của mình

mộng ảo Đó là một thế giới “tuyệt đối“ một thế giới vẹn toàn, lý t-ởng: Xin dốc hết nồng cay cho đến cặn

Uống cho mê và uống nữa cho điên

Rồi dang tay theo chậm gót Nàng Men

Về tắm ở suối Mơ, nguồn Tuyệt đối

Trang 36

Với bài Lý t-ởng trong tập Thơ say Vũ Hoàng Ch-ơng nh- muốn tuyên

ngôn cho ph-ơng châm nghệ thuật của mình, thậm chí cho cả cuộc sống của

mình bằng “say“- một tuyên ngôn lạ so với các nhà thơ cùng thời Qua Thơ Say và Mây thi đã thực hiện một cuộc hành trình cùng “khói, rượu, say, tình, mộng“ tìm đến một thế giới “ Toàn H-ơng và Tận Mỹ“ Chỉ có say mới giúp

đ-ợc ông thoát ly thực tại một cách tuyệt đối Đó là cái cá biệt, độc đáo riêng của Vũ Hoàng Ch-ơng mà ch-a hẳn nhà thơ nào cũng dám tìm đến vì đó là con

đ-ờng xa lạ, không quen thuộc và thất bại vì thế cũng nặng nề hơn, cay đắng hơn

Để tìm hiểu về cái say trong thơ Vũ Hoàng Ch-ơng, một lần nữa xin đ-ợc

trở lai với lời nhận xét của Hoài Thanh, Hoài Chân trong cuốn Thi nhân Việt Nam: “ý giả Vũ Hoàng Ch-ơng định nối nghiệp những thi hào x-a của Đông

á :cái nghiệp say Ng-ời say đủ thứ: say r-ợu, say đàn, say ca, say tình đong

đưa Người lại còn “hơn“ cổ nhân những thú say mới nhập cảnh: say thuốc phiện, say nhảy đầm Bấy nhiêu say s-a đều nuôi bằng một say s-a to hơn mọi say s-a khác: say thơ“

Nh- thế Vũ Hoàng Ch-ơng say nhiều thứ quá Và thứ say nào ông cũng

đắm đuối, hết mình đến mức “ngả nghiêng“ “điên rồ xác thịt“ Đây là tâm

trạng của nhà thơ trong thú say r-ợu:

Cổ ch-a khô, đầu ch-a nặng, mắt ch-a hoa ,

Tay mềm mại b-ớc còn ch-a chếnh choáng

Ch-a cuối xứ Mê ly, ch-a cùng thời Phóng đãng

Còn ch-a say, hồn khát vẫn thèm men

(Say đi em)

Vũ Hoàng Ch-ơng say trong sự điên đảo của cuồng vọng, trong sự chìm

đắm của chán ch-ờng, thất vọng Thơ say của ông chủ yếu mang một nỗi lòng

ngao ngán bi quan, có lúc mang vẻ chua chát, hằn học Say đi em là thi phẩm tiêu biểu nhất trong cảm hứng trên của Vũ Hoàng Ch-ơng Đến với Say đi em

ng-ời đọc đ-ợc tận h-ởng cảm giác lâng lâng, chếnh choáng của hơi men Cảm

Trang 37

giác ấy lại đ-ợc trợ giúp bởi ánh đèn màu h- ảo, bởi những giai điệu, âm thanh nhiệt cuồng gấp gáp của Tây ph-ơng nên nó giục giã, riết nóng và mời gọi :

Âm ba gờn gợn nhỏ

ánh sáng phai phai dần…

Bốn t-ờng g-ơng điên đảo bóng giai nhân

Lui đôi vai, tiến đôi chân;

Riết đôi tay, ngả đôi thân,

Sàn gỗ trơn chập chờn nh- biển gió

Lảo đảo, quay cuồng, lập loè ánh sáng là cái say mới Với tác động của các yếu tố dẫn dụ ngoại quan nh- r-ợu, âm nhạc, ánh sáng, vũ điệu…Vũ Hoàng Ch-ơng đã đi đến tận cùng cảm giác của kẻ say cuồng trong điệu nhảy để thả hồn quên lãng trong những ảo giác mập mờ, tiếng nhạc du d-ơng, căn phòng

điên đảo:

Say đi em! Say đi em!

Say cho lơi lả ánh đèn

Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt

R-ợu, r-ợu nữa và quên, quên hết !

Vừa trầm bổng du d-ơng, vừa da diết khắc khoải nhịp điệu bài thơ có một sức gợi cảm mãnh liệt đem đến cho ng-ời đọc cảm giác lâng lâng, chếnh choáng theo ánh đèn lơi lả, ngả nghiêng, theo âm thanh réo rắt, theo b-ớc chân xiêu vẹo D-ờng nh- trong phút giây ấy r-ợu - thể xác - linh hồn đã có sự hoà hợp thành nhất thể để dâng tặng cho đời một cảm giác tuyệt vời: huyền ảo, h- h- thực thực, bồng bềnh nh- trong mộng:

Hồn ngả lâu rồi nh-ng chân còn dẻo

Trang 38

quan tê liệt: “Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ“ thì sự hoà hợp thể xác và linh hồn ở tuyệt đỉnh và tất cả trở thành “hư ảnh“ :

Ta quá say rồi!

Sắc ngã màu trôi…

Gian phòng không đứng vững,

Có ai ghì h- ảnh sát kề môi ?

Ta thấy d-ờng nh- Vũ Hoàng Ch-ơng không phải m-ợn r-ợu để giải sầu

mà ông nh- đang muốn hoà mình vào cốc r-ợu đắng để các giác quan tê liệt,

để quên đi nỗi niềm đau xót, thống khổ đang dồn đọng trong tâm t- Vậy thì

đâu phải say để mà vui, say để đ-ợc “Dốc cả giang hà“ nh- Tản Đà mà Vũ

Hoàng Ch-ơng say bởi sầu, bởi tuyệt vọng, bởi ngao ngán Say để mà quên đời Trong phong trào thơ mới, Thế Lữ, L-u Trọng L-, Chế Lan Viên…Cũng có ý muốn say s-a, muốn truỵ lạc để quên đi lẽ đời Nh-ng các thú say của họ ở mức nhẹ hơn, bình tĩnh hơn so với khát vọng say s-a của Vũ Hoàng Ch-ơng

Có lẽ vì thế mà thơ say của họ còn ng-ợng ngập, bối rối ch-a tới mức điên cuồng nh- thơ Vũ Hoàng Ch-ơng Đó là điểm nổi bật trong thơ say của ông

Có lẽ khi say con ng-ời ta dễ thật với lòng mình nhất cho nên Vũ Hoàng Ch-ơng không ngần ngại mà phơi bày tất cả với -ớc muốn quên hết thảy của

mình để “Uống cho mê và uống nữa cho điên“

X-a nay, những ng-ời thành thực luôn mở hết lòng mình và th-ờng bị

thói đời c-ời giễu, khinh bỉ Giá mà Vũ Hoàng Ch-ơng khôn ngoan hơn, thủ

đoạn hơn một chút mà đừng đem ra phơi bày tr-ớc bàn dân thiên hạ những bí mật của đời mình thì chắc chắn ng-ời ta sẽ nhìn ông với một con mắt khác Nói nh- cái việc nhảy đầm, việc tìm quên lãng trong những thú vui giải trí thì có gì

là lạ? Hồi ấy Hà Nội đâu còn giữ đ-ợc nét cổ x-a mà đã rất tân thời với điệu

điệu valse, tango trong ánh đèn biếc , ánh đèn hồng Vũ Hoàng Ch-ơng đã mang sắc màu ấy, nhịp điệu ấy vào thơ mình và thể hiện nó bằng tất cả sự say

mê đắm đuối Thế mà ng-ời ta lại coi ông là truỵ lạc, là khêu gợi mà quên rằng

đằng sau nó là cả một nỗi niềm sâu lắng Phải đọc đến những vần thơ cuối bài

ta mới nhận ra nỗi đau đớn đến tê dại của một ng-ời nghệ sĩ tài ba :

Trang 39

Nh-ng em ơi

Đất trời nghiêng ngửa

Mà tr-ớc mắt thành Sầu ch-a sụp đổ

Đất trời nghiêng ngửa

Thành Sầu không sụp đổ em ơi !

( Say đi em )

Vũ Hoàng Ch-ơng muốn r-ợu để quên đi tất cả Hoà cùng chén r-ợu ông

muốn say đến tột cùng để cảm giác hoà tan không còn sự cảm nhận :

“điên đảo thời gian“, “ lẫn lộn không gian“, “sụp đổ bóng đêm“ (Bài hát

cuồng) Nh-ng cho dù có “say không còn biết chi đời” thì trong tâm khảm nhà

thơ vẫn sừng sững một “ thành Sầu“ Vì thế t-ởng “say không còn biết chi

đời” tưởng quên, quên hết nh-ng không sao quên nổi Càng say lại càng sầu

Đọc những vần thơ viết về thú say r-ợu ta thấy bên cạnh những nét hiện

đại của Thơ mới, thơ Vũ Hoàng Ch-ơng còn in dấu ấn khá đậm của thơ truyền

thống ở một số bài thơ say, nhà thơ d-ờng nh- cũng muốn bắt tr-ớc Lý Bạch,

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà…để trở thành một

“Trích tiên“ với cái say thanh cao, tài hoa :

Bữa tiệc phàm phu, ai đáng mặt

Nối bài dâng r-ợu thửa x-a đâu

Trích tiên đã khuất đời ai kẻ

Tìm thấy trong men ý nhiệm màu?

( Chân hứng)

Cái thực thực, h- h- trong thơ Vũ Hoàng Ch-ơng rất gần với những tiền đề

triết học của đạo giáo mà Lý Bạch là ng-ời chịu ảnh h-ởng sâu sắc nhất Ông

từng là một cây cổ thụ thi tuý có cái say ngạo nghễ tráng tâm :

R-ợu say múa bút thơ thành

Nghênh ngang chuyển bể rung non chợt c-ời

Cái say của Lý Bạch nghênh ngang cùng trời đất, sánh cùng trăng sao

Ông lấy cái say để biểu đạt cái bản ngã siêu nhiên, một cái say hoà mình trong

Trang 40

vũ trụ Ông ca vịnh, du tiên để lấy cảnh tiên đối lập với thế giới thực tại, để tỏ lòng bất mãn phản kháng xã hội phong kiến đ-ơng thời Nh-ng cảnh tiên cũng không làm tiêu tan đ-ợc nỗi buồn day dứt, phiền muộn của thực tại nên ông

dùng r-ợu để tiêu sầu, coi cảnh say nh- một thế giới lý t-ởng Trong thú say

ông dám bày tỏ thái độ hiên ngang, dám khinh mạn triều đình và bọn quyền quí Cho nên nhiều vần thơ của Lý Bạch dù đắm chìm trong men và thoát trần

du tiên nh-ng lại có sức công phá mãnh liệt đối với xã hội phong kiến đ-ơng thời Với bản chất thanh cao và tinh thần hiên ngang bất khuất không cho phép

ông hoà mình với bọn quyền thần hại dân hại n-ớc, lại càng không cho phép

ông đứng nhìn cảnh giặc giã khắp bốn ph-ơng Lực bất tòng tâm ông chỉ biết dùng ngòi bút của mình để vạch trần tội ác của ph-ờng nghịch tặc và xoa dịu nỗi đau cho dân chúng Nh-ng tội ác thì tày trời, nỗi đau thì vô hạn, sức mình thì nhỏ bé, Lý Bạch chỉ còn một cách duy nhất là say Nhà thơ muốn m-ợn r-ợu để bay bổng lên cõi tiên, tránh xa cuộc sống đời th-ờng, nh-ng thoát lên tiên rồi nhìn lại Tổ quốc ông thấy lòng mình se lại Sự giằng co giữa hai con

đ-ờng nhập thế và xuất thế khiến Lý Bạch rơi vào tình cảnh “Chân không đến

đất, cật không đến trời“ Để dung hoà ông đành nuôi chí “công thành thân thoái“ tức là ra sức phò vua giúp n-ớc đến lúc thành công thì rút lui nh-

Nghiêm Quan đời Đông Hán Thật là bậc kỳ tài hiếm có ở trên đời

Thơ của Lý Bạch có ngông, có sầu, có mộng nh-ng không thoát ly cuộc sống Đây là điểm tích cực mà Vũ Hoàng Ch-ơng ch-a tiếp thu đ-ợc ở Lý Bạch

Trong lịch sử thơ ca Việt Nam thi nhân ta tìm đến thú say không nhiều Cái say của họ là cái say chiêm nghiệm cuộc đời, say để sảng khoái, thanh lọc tâm hồn siêu thoát nên rất ít cái say, khắc khoải siêu hình nh- Vũ Hoàng

Ch-ơng Nguyễn Bỉnh Khiêm đến với r-ợu trong t- thế của một ông “nhàn“

xa rời danh lợi, phiền muộn :

Bàn cờ, cuộc r-ợu, v-ờn hoa trú

Bó củi cần câu chốn n-ớc non

Ngày đăng: 15/03/2021, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w