1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

1561953388326_Thuyết trình kinh tế vĩ mô

42 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuyết trình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ Thuyết Thuyết trình kinh tế vĩ môtrình kinh tế vĩ môình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ mô trình kinh tế vĩ môết trình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ môThuyết trình kinh tế vĩ mô

Trang 1

Môn: Kinh Tế Vĩ Mô Giảng viên: Đào Thông Minh

CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐẾN VỚI BÀI THUYẾT TRÌNH CỦA

NHÓM 3

Trang 2

CHỦ ĐỀ: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LẠM PHÁT? NHẬN

XÉT VÀ GIẢI PHÁP

Trang 3

1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LẠM PHÁP

NƯỚC TA

- Các yếu tố tác động đến lạm pháp ở nước ta tăng lên trong những năm vừa qua là biến số chỉ số giá tiêu dùng CPI, GDP, lượng cung tiền M2, tín dụng, lãi suất,

tỷ giá, giá dầu và giá gạo quốc tế. 

2 TÌNH TRẠNG LẠM PHÁP Ở NƯỚC TA

Trang 4

  Năm

2016

Năm 2017

Năm 2018

Năm 2019

Trang 5

• Nhận xét

- Năm 2016 được coi là thành công trong việc kiểm soát lạm phát trong điều kiện giá một số mặt hàng thiết yếu tăng trở lại

- Nhờ lạm phát thấp nên Nhà nước vẫn có dư địa điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý

tiệm cận dần theo giá thị trường

- Có 3 yếu tố làm cho CPI tăng và 5 yếu tố góp phần làm giảm CPI

+ CPI tăng do điều hành của Chính phủ tăng

+ Giá dịch vụ y tế, tăng học phí theo lộ trình tại Nghị định 86,

+ Tăng lương tối thiểu vùng cho người lao động ở các doanh nghiệp từ 1/1/2016

Trang 6

- Nguyên nhân thứ hai là yếu tố thị trường, các dịp

nghỉ lễ, Tết kéo dài kéo theo sự gia tăng của các chỉ

số giá nhóm hàng ăn uống, dịch vụ

- Chỉ số giá nhóm du lịch trọn gói tăng 3,75% so với

Trang 7

• GIẢI PHÁP CHO NĂM 2017

- Để kiểm soát lạm phát năm 2017 với mục tiêu tốc

độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4% của Quốc hội, Tổng cục Thống kê đã đưa ra một số giải pháp

điều hành giá cả

Trang 8

án điều hành giá giáo dục, giá điện, lãi suất và tỷ giá

để chủ động kiểm soát lạm phát.

Thứ hai

• Các ngành, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần theo dõi sát diễn biến giá cả của các mặt hàng thiết yếu để có các giải pháp điều hành kịp thời

• Sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu phù hợp để hạn chế mức tăng giá mặt hàng này đến CPI chung.

Trang 9

Thứ tư

• Đối với mặt hàng dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục đề nghị Bộ Y tế, Bộ GD & ĐT, ngành liên quan dự báo các yếu tố tác động đến CPI trong năm 2017 để có thể điều chỉnh giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục theo lộ trình cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm giảm thiểu sự tác động lan tỏa lên chỉ số CPI.

Trang 10

Yếu tố ảnh hưởng lạm phát ở Việt

Nam năm 2017

1.Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam năm 2017

a) Tăng trưởng kinh tế

- GDP năm 2017 ước tính tăng 6,81% so với năm 2016, trong đó quý I tăng 5,15%; quý II tăng 6,28%; quý III tăng 7,46%; quý IV tăng 7,65%

Trang 11

Cơ cấu GDP cả nước năm 2017 theo ngành

Trang 12

- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành thủy

sản có mức tăng cao nhất với 5,54%

- Ngành lâm nghiệp tăng 5,14%, do chiếm tỷ trọng

thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm

- Ngành nông nghiệp tăng 2,07% (năm 2016 tăng

0,72%), cho thấy dấu hiệu phục hồi của ngành nông nghiệp sau những ảnh hưởng nặng nề của thiên tai

Trang 13

- Quy mô nền kinh tế năm 2017 theo giá hiện hành

đạt 5.007,9 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385

USD, tăng 170 USD so với năm 2016

GDP năm 2017 tăng cao kỷ lục kể từ năm 2011 trở lại đây

Trang 14

- Về cơ cấu nền kinh tế năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 15,34%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,34%; khu vực dịch vụ chiếm 41,32%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,00%

Trang 15

b) Cán cân thương mại

- Trong tháng 12 năm 2017, tổng trị giá xuất nhập

khẩu hàng hoá của Việt Nam ước đạt 39,1 tỷ USD,

giảm 0,7% so với tháng trước

- Trong đó, tổng trị giá xuất khẩu ước đạt 19,3 tỷ USD, giảm 3,5% và tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 19,8 tỷ USD, tăng 2,1%

- Với kết quả ước tính trên thì trong năm 2017, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam dự kiến đạt gần 424,87 tỷ USD, tăng 20,9% so với năm 2016

- Trong đó, tổng trị giá xuất khẩu ước đạt 213,77 tỷ

USD, tăng 21,1% và tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 211,1 tỷ USD, tăng 20,8%

Trang 16

Thời điểm ghi nhận các mốc kỷ lục xuất nhập khẩu hàng hóa của

Việt Nam

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Trang 17

c) Đầu tư

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (ký hiệu thông thường là FDI- Foreign Direct Investment) ngày càng đóng vai trò quan trọng và thậm chí đáng kể trong thực hiện các mục tiêu tăng trưởng và phát triển của Việt

Nam

- Có 23.731 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 300,74

tỷ đô-la Mỹ và vốn thực hiện đạt khoảng 50%

- FDI đóng góp khoảng 23% vốn đầu tư toàn xã hội và 70% kim ngạch xuất khẩu của cả nước

- 6 tháng đầu năm 2017, FDI vào Việt Nam có xu

hướng tăng lên cao

- Mục tiêu tăng trưởng năm 2017 được Chính phủ đặt

ra là 6,7%

Trang 18

Vốn FDI đăng ký vào Việt Nam từ 2009-2017 Đơn vị: tỷ USD

Trang 19

- GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu

đồng, tương đương 2.385 USD, tăng 170 USD so với năm 2016

- CPI tháng 12 chỉ tăng 0,21% so với tháng trước

- CPI bình quân năm tăng 3,53% so với bình quân

2016

- CPI bình quân tháng 12/2017 chỉ tăng 2,6% so với tháng 12/2016, bình quân mỗi tháng tăng 0,21%

- Lạm phát cơ bản tháng 12 chỉ tăng 0,11% so với

tháng trước và tăng 1,29% so với cùng kỳ năm

trước

- Lạm phát bình quân năm 2017 tăng 1,41% so với

bình quân 2016

Trang 21

2.Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát

ở Việt Nam giai đoạn năm 2017

- Thuế bảo vệ môi trường 39,8 nghìn tỷ đồng

- Thuế thu nhập cá nhân 73,9 nghìn tỷ đồng,

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 153,9 nghìn tỷ đồng

Trang 22

b) Lãi suất

- Mặc dù vậy, lãi suất cho vay trong Quý I khá ổn định

so với thời điểm cuối năm 2016 Theo NHNN, mặt

bằng lãi suất cho vay phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6-7%/năm đối với ngắn hạn và 9-10%/năm đối với trung và dài hạn

- Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh

thông thường ở mức 6,8-9%/năm đối với ngắn hạn;

9,3- 11%/năm đối với trung và dài hạn

- Đối với nhóm khách hàng tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, lãi suất cho vay có thể từ 4-

5%/năm

Trang 23

c) Cung tiền M2

- Tỷ lệ cung tiền M2/GDP của Việt Nam liên tục tăng

trong những năm qua (xem biểu đồ)

- Về nguyên tắc, tỷ lệ cung tiền M2/GDP thường phải nhỏ hơn 1 (100%) Nhưng cung tiền của Việt Nam

được nới lỏng quá mức Tỷ lệ M2/GDP từ 50% năm

2000 tăng lên 163% vào năm 2017

- So sánh với các nước trong khu vực, tỷ lệ M2/GDP

của Việt Nam đang cao nhất trong khối ASEAN và cao thứ hai khu vực châu Á, chỉ sau Trung Quốc, tuy

nhiên, quy mô tín dụng so với nền kinh tế thì đứng

thứ 4, sau Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia

Trang 24

Bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá,

đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu

Triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu

dùng

Tăng cường công tác quản lý thị trường,

kiểm soát việc chấp hành pháp luật nhà

Trang 25

Thực hiện chính sách tiền tệ thắt

chặt

Cắt giảm đầu tư công và chi phí

thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách

Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, khắc

phục nhanh hậu quả của thời tiết và dịch bệnh để tăng sản lượng lương

thực, thực phẩm

Trang 26

Các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát ở

Việt Nam 2018

Các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát ở

Việt Nam 2018

1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam từ năm 2018

a) Tăng trưởng kinh tế

- GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất

kể từ năm 2008 trở về đây Mức tăng trưởng năm nay vượt mục tiêu 6,7% đặt ra là kết quả sự điều hành

quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước

Trang 28

- Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng đóng góp chính cho tăng trưởng kinh tế với mức tăng cao 12,98%, tuy thấp hơn mức tăng của năm 2017

nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng các năm

2012-2016, đóng góp 2,55 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung

- Kết quả tăng trưởng cho thấy nền kinh tế đã thoát khỏi sự phụ thuộc vào khai thác khoáng sản và tài nguyên khi năm 2018 là năm thứ ba liên tiếp công nghiệp khai khoáng tăng trưởng âm (giảm 3,11%), làm giảm 0,23 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế

Trang 29

- Khu vực dịch vụ năm 2018 tăng 7,03%, cao hơn mức tăng các năm giai đoạn 2012-2016, trong đó các

ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng đóng góp lớn

vào tăng trưởng GDP như:

+ Bán buôn, bán lẻ;

+ Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm;

+ Dịch vụ lưu trú và ăn uống;

+ Vận tải, kho bãi

Đều đạt mức tăng trưởng khá

- Hoạt động thương mại dịch vụ năm 2018 có mức

tăng trưởng khá, sức mua tiêu dùng tăng cao, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm nay đạt 4.395,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với năm 2017

Trang 30

b) Cán cân thương mại

- Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018 ước tính đạt 244,7 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017 (vượt mục tiêu Quốc hội đề ra là tăng 7%-8% và Nghị

quyết 01 của Chính phủ là tăng 8%-10%)

- Trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 69,2 tỷ USD, tăng 15,9% so với năm 2017, chiếm 28,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước;

- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 175,5 tỷ USD, tăng 12,9%, chiếm 71,7% (giảm 0,6 điểm phần trăm so với năm 2017)

Trang 31

- Năm 2018, khu vực kinh tế trong nước chuyển biến tích cực khi đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao hơn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với

tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng lên so với năm 2017

- Trong năm 2018 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tới 91,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong đó có 5 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm 58,3%

Trang 32

c) Đầu tư

- Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/12/2018 thu hút 3.046 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 17.976,2 triệu USD

- Có 1.169 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước

đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 7.596,7 triệu USD, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm trước Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong năm 2018 đạt 25.572,9 triệu USD, giảm 13,9% so với cùng kỳ năm 2017

- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2018 ước tính đạt 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% so với năm 2017

Trang 33

d) Thực trạng lạm phát năm 2018

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2018 giảm 0,25%

so với tháng trước; CPI bình quân năm

2018 tăng 3,54% so với năm 2017, dưới mục tiêu

Quốc hội đề ra; CPI tháng 12/2018 tăng 2,98% so với tháng 12/2017

- Lạm phát cơ bản tháng 12/2018 tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước

Trang 34

2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát

ở Viêt Nam giai đoạn năm 2018

a) Thâm hụt ngân sách

- Thu ngân sách Nhà nước năm nay ước đạt trên 1,35 triệu tỷ đồng; chi ngân sách hơn 1,56 triệu tỷ đồng

Như vậy, bội chi ngân sách 204.000 tỷ đồng (khoảng

8,8 tỷ USD), bằng 3,67% GDP, tương ứng với tỷ lệ bội chi kế hoạch Quốc hội giao

Xét về giá trị tuyệt đối, thâm hụt ngân sách năm nay

nằm trong kế hoạch Quốc hội giao và thấp hơn 0,03% GDP về tỷ lệ, dù vậy vẫn tiềm ẩn những tồn tại trong cơ cấu nguồn thu, chi

Trang 35

- Số thu vượt dự toán chủ yếu từ các nguồn thu về

nhà, đất và dầu thô Trong khi khoản thu từ đất

không ổn định, thu từ dầu thô tăng do giá lập dự toán

50 USD một thùng, thấp hơn thực tế 23,5 USD và sản lượng tăng 450.000 tấn. 

- Các nguồn thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước,

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đều giảm, lần lượt trên

4.900 tỷ đồng, 33.646 tỷ và 4.855 tỷ đồng

Trang 36

b) Lãi suất

Lãi suất trên thị trường tiền gửi của khách hàng tổ

chức kinh tế và cá nhân tăng Lãi suất tiền gửi bình quân tăng từ 5,11% năm 2017 lên 5,25% năm 2018 Lãi suất cho vay bình quân khoảng 8,91% (năm 2017: 8,86%)

Trang 37

c) Cung tiền M2

Cung tiền và tín dụng so với GDP tăng nhẹ: Tổng

phương tiện thanh toán (M2)/GDP ước khoảng 168%; Tín dụng/GDP là 134% Tín dụng năm 2018 ước tăng 14-15%, thấp hơn 3-4 điểm% so với năm 2017 Cung tiền, tín dụng đang dần được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo mục tiêu ổn định vĩ mô

Trang 38

3 Các giải phát kiềm chế lạm phát tai Việt Nam năm 2019

- Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, gắn kết chặt chẽ với nền kinh tế khu vực và toàn cầu

- Kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ sẽ là nền tảng quan trọng đóng góp rất lớn cho kinh tế Việt Nam

- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế không chỉ diễn ra giữa

các ngành kinh tế mà còn có xu hướng chuyển đổi tích cực trong nội bộ ngành sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả về tốc độ và chất lượng trong thời gian tới

Trang 39

- Dự kiến năm 2019, bên cạnh hơn 3 triệu m2 sàn xây dựng nhà ở và trung tâm thương mại, nhiều dự án, công trình lớn sẽ đi vào sản xuất kinh doanh như: Tổ hợp Nhà máy Vinfast tại Hải Phòng với công suất 250 nghìn xe/năm; dự án đầu tư công trình Nhà máy điện sông Hậu tỉnh Hậu Giang có công suất 1200 MW; dự

án BOT Bắc Giang - Lạng Sơn với chiều dài 63,9 km; công trình đường cao tốc La Sơn - Túy Loan tại Thừa Thiên - Huế với chiều dài 78 km

Trang 40

Nhận xét đánh giá chung về các nhân tố ảnh

hưởng dẫn đến lạm phát

- Một số nguyên nhân tác động làm tăng CPI quý

2/2019 so với cùng kỳ năm trước là do chỉ số giá

nhóm xăng, dầu tăng 1,36%, làm cho CPI chung

tăng 0,06%

- Giá gas cũng điều chỉnh tăng liên tục từ tháng

1/2019 đến tháng 5/2019 làm cho chỉ số giá gas

tăng 1,58% so với cùng quý năm trước. 

- Song song với đó, giá điện sinh hoạt điều chỉnh tăng

từ ngày 20/3/2019, cùng với nhu cầu tiêu dùng điện tăng vào quý 2/2019 do thời tiết nắng nóng làm cho giá điện sinh hoạt quý 2/2019 tăng 8,81% so với

cùng kỳ năm trước

Trang 41

- Trong 6 tháng đầu năm 2019, giá xăng dầu trong

nước được điều chỉnh tăng 4 đợt, giảm 4 đợt và 4 đợt giữ ổn định, tính chung 6 tháng đầu năm 2019 chỉ số giá xăng dầu giảm 3,55% so với cùng kỳ năm

2018, góp phần giảm CPI chung 0,15%

- Hay tại Tp Hồ Chí Minh đã điều chỉnh giảm mức thu học phí học sinh bậc nhà trẻ, trung học cơ sở và bổ túc trung học cơ sở tại các trường công lập trên địa bàn, kéo theo chỉ số giá nhóm giáo dục chung cả

nước giảm 0,55% trong tháng 2/2019 góp phần

giảm CPI chung 0,03%. 

 

Ngày đăng: 14/03/2021, 00:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w