1. Trang chủ
  2. » Tất cả

phan tich van 8

10 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách 3: Nhà phê bình văn học G.Jung từng viết “Từ sự không thỏa mãn với đương thời, nỗi buồn sáng tạo dẫn đưa nghệ sĩ đi vào bề sâu cho tới khi nó tìm thấy trong vô thức mình cái nguyên

Trang 1

MỞ BÀI CHO DẠNG ĐỀ PHÂN TÍCH NHÂN VẬT

Cách 1: “Đối tượng của văn học vốn là thân phận con người, nên chỉ có kẻ nào đọc và hiểu

nó sẽ hóa thành không phải là một chuyên gia nghiên cứu văn học mà là một kẻ hiểu biết con người một cách sâu sắc” ( Văn chương lâm nguy, Todorov)

Quả thực, con người luôn là nơi bắt đầu và cũng là nơi đi đến của văn học Với mỗi thế giới khác nhau của mỗi một tác phẩm, người đọc lại có một thể nghiệm riêng về con người Và trong tác phẩm…… , nhà văn/nhà thơ …… đã dùng ngòi bút của mình để mang đến những trang văn neo đậu mãi trong tâm hồn chúng ta về nhân vật……

Cách 2: Puskin từng viết: “Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm Cây cỏ sống được là nhờ

ánh sang, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút” Và nhà văn/nhà thơ…… đã để tiếng lòng của mình cất lên, để linh hồn của tác phẩm ………bay lên qua hình tượng

nhân vật……

Cách 3: Nhà phê bình văn học G.Jung từng viết “Từ sự không thỏa mãn với đương thời, nỗi

buồn sáng tạo dẫn đưa nghệ sĩ đi vào bề sâu cho tới khi nó tìm thấy trong vô thức mình cái nguyên tượng có khả năng bù đắp lại cao nhất sự tổn thất và què quặt của tinh thần hiện đại.”

Và trong tác phẩm… …, nhà văn/nhà thơ đã để

nguyên tượng ấy hiện lên đầy sống động qua nhân vật……

Cách 4: Văn học như một thiên thần mang sứ mệnh che chở và bảo vệ con người Trong tác

phẩm …… , nhà văn/nhà thơ …… đã để ngòi bút của mình thực hiện trọn vẹn sứ mệnh cao

cả đó qua hình tượng nhân vật………thật ấn tượng

Trang 2

NGHỊ LUẬN VỀ ĐOẠN TRÍCH, THƠ, VĂN XUÔI

Cách 1: Đâu là cầu nối giữa quá khứ và tương lai, đâu là thanh nam châm thu hútmọi thế hệ?

Đó chẳng phải là văn học hay sao Văn học vẫn luôn sống một cuộc đời cao đẹp gắn liền với con người và kết tinh những giọt ngọc của thời đại Tất cả những giá trị vĩnh cửu đó đã thăng hoa cùng ngòi bút của nhà văn/nhà thơ……để tác phẩm ……., đặc biệt là đoạn trích ……… còn vấn vương trong trái tim biết bao bạn đọc

Cách 2: Nếu phải tìm bản nhạc hay nhất, có lẽ tôi sẽ chọn văn chương Bởi chỉ khi đến với

văn chương, người nghệ sĩ mới được tự do để trái tim dẫn dắt, được thể hiện quan niệm của chính mình và rồi mang đến cho người đọc biết bao giai điệu cảm xúc với nhiều cung bậc Và tác giả… đã để tác phẩm …… của mình là nốt ngân đầy sáng tạo trong bản hòa tấu của văn học, đặc biệt là đoạn trích…

MỞ BÀI CHO DẠNG ĐỀ SO SÁNH CÁC TÁC PHẨM

Mở bài cần nêu được khái quát tên tác phẩm, tác giả và đối tượng cần so sánh Có thể dẫn từ những câu nhận định văn học sau:

Nếu tác giả không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là nhà văn cả… Nếu anh không có giọng riêng, anh khó trở thành nhà văn thực thụ (Sê – Khôp)

Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo vì vậy nó đồi hỏi người viết sự sáng tạo phong cách mới lạ, thu hút người đọc (LLVH)

Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của chính mình, là cái giọng riêng của chính mình mà không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ một người nào khác (Tuốc– ghê – nhép)Không có tiếng nói riêng không mang lại những điều mới mẻ cho văn chương mà chỉ biết dẫm theo đường mòn thì tác phẩm nghệ thuật sẽ chết (Lêonit Lêonop)

CÁCH MỞ BÀI CHO DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

ĐỀ TÀI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

Có thể nói văn học thời kì là một bộ phận của công cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Với trách nhiệm xã hội đó, mặc nhiên tinh thần yêu nước là nội dung bao trùm của toàn bộ nền văn học Phẩm chất yêu nước

ấy có từ văn học của cha ông qua các thời đại, mỗi khi dân tộc đứng trước họa xâm lăng, nhưng đến văn học giai đoạn chống Mỹ được thể hiện tập trung nhất, sâu sắc nhất, biến thành sức mạnh vật chất cụ thể nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tồ quốc Và ở đó ngời sáng vẻ đẹp của những chiến sĩ

anh dũng,kiên cường, một lòng hướng về dân tộc Người đọc có thể sống trọn với những ngày tháng hào hùng ấy qua hình ảnh người lính……trong tác phẩm……của………

Trang 3

MỞ BÀI VỀ NGƯỜI NÔNG DÂN / NHỮNG CON NGƯỜI BẤT

HẠNH

Cách 1: “Cuộc sống còn tuyệt vời biết bao trong thực tế và trên trang sách Nhưng cuộc sống

cũng bi thảm biết bao Cái đẹp còn trộn lẫn niềm sầu buồn Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mắt ở đời.” (Trích trong Nhất ký của Nguyễn Văn Thạc) Có lẽ ta không thể cảm nhận trọn vẹn “niềm sầu buồn” hay “giọt nước mắt” đó nếu nhà văn/nhà thơ…… không dùng ngòi bút của mình để in dấu tất cả qua hình tượng nhân vật……… với đầy những áp bức, bóc lột

và bất công nhưng trên hết những người nông dân ấy vẫn giữ trọn vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn

Cách 2: “Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho

những con người bị cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường Những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời Nhà văn tồn tại ở trên đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực.”(Nguyễn Minh Châu) Với hình tượng nhân vật…….trong tác phẩm…… , nhà văn/nhà thơ………… đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh ấy

Một số cách mở bài dùng cho các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 12

1 Như cây đàn mất đi một dây, vườn hoa mất đi những bông hoa giàu hương sắc, như bầu trời thiếu vắng những vì sao, không có Huygô, Bandắc, Puskin hay Nguyễn Du, Nguyễn Tuân, Nam Cao… nền văn học của nhân loại sẽ trống trải biết nhường nào Bởi lẽ những tác giả ấy thực sự đã tìm được “giọng nói của riêng mình” Và đó chính là “điều còn lại đối với mỗi nhà văn”, điều làm nên vị trí của họ trong lòng người đọc

2 Ai đó đã từng nói rằng hoa hồng ở lại giữa cuộc đời nhờ hương thơm say đắm, không nồng nàn như hoa cúc hay ngọt ngào như ngọc lan; loài chim sơn tước ở lại giữa đời bởi tiếng hót thiết tha vút lên giữa dàn đồng ca của núi rừng Câu chuyện ấy gợi nhắc trong lòng người đọc nỗi băn khoăn: “Có phải điều còn lại với mỗi nhà văn chính là giọng điệu của riêng mình”

3 Có ai đó đã từng ví mỗi nhà văn như một loài hoa, một thứ chim trong cánh rừng đại ngàn văn học Mỗi loài hoa tỏa một hương thơm riêng cũng như mỗi thứ chim cất lên một giọng hót riêng Mỗi nhà văn sẽ chỉ sống được trong lịch sử văn học, trong tâm hồn người đọc khi anh ta tạo ra được một giọng hót, một hương thơm riêng của mình Bởi lẽ, điều còn lại đối với mỗi nhà văn, chính là giọng nói của riêng mình

4 “Thơ hay giống như người con gái đẹp, cái để làm quen là nhan sắc, cái để sống với nhau lâu là đức hạnh Nhanh sắc của thơ là chữ nghĩa, tấm lòng mới là đức hạnh của thơ.” Qua việc đi tìm hiểu tác phẩm… ta thấy nhận định trên lại càng khẳng định được giá trị của mình ( Nêu phần đề bài yêu cầu)

5 Các tác phẩm về đề tài đất nước, Cách mạng

Trang 4

“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ như cha như vợ như chồng

Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi dòng sông”

Lịch sử dân tộc ta đã trải qua những năm tháng kháng chiến trường kỳ gian khổ để có được độc lập tự do và hạnh phúc như ngày hôm nay Trong những tháng ngày mưa bom bão đạn, những giây phút thiêng liêng một thời khói lửa, ta càng trân trọng hơn những tiếng thơ hay của các văn nghệ sĩ viết về quê hương đất nướ, về cách mạng Một trong số đó không thể không kể tới…

MB:Thơ ca chính là sự kết tinh giữa chữ tình và cái tài của thi nhân Tình chính là tâm sơ còn cái tài lại là cái cách biểu đạt qua từng con chữ Để có thể chạm vào vào trái tim người đọc thì mỗi tác phẩm không chỉ mang theo tâm tình, nỗi lòng, tình yêu của tác giả mà nó còn là sự chắt lọc, trau chuốt trên từng vần thơ, câu chữ Nhà thơ vỹ đại của văn học Xô Viết

Mai-a-cop-ki từng cho rằng “Làm thơ là cân một phần nghìn milligram quặng chữ” Câu nói ấy là bàn về trách nhiệm của người làm thơ và đặc điểm của

ngôn từ, bởi thơ ca cũng như văn chương nói chung đều bắt nguồn từ cuộc sống hiện thực và được xây dựng bằng vật liệu ngôn từ Người nghệ sĩ luôn phải dùng tài nghệ của chính mình để biến ngôn ngữ đời thường thành ngôn ngữ văn học, để có thể tạo nên những câu thơ không chỉ đẹp riêng về ngôn ngữ mà còn đẹp về cả ý tứ câu thơ

*KB:Trải qua thời gian, vẻ đẹp ngôn ngữ thơ ca ngày càng phát triển và hoàn thiện tựa như những nguồn nước mát trong nảy sinh từ cội nguồn sáng tạo sâu thẳm vô tận Chính vì vậy, ngôn ngữ thơ ca không phải là vẻ đẹp của đồ trang sức hay trò chơi phù phiếm, mà là vẻ đẹp tỏa ra từ tâm hồn và ánh lên từ cuộc sống, thông qua sự mài dũa và tinh luyện của nhà thơ Nhà thơ không ngừng sáng tạo, gọt giũa, nhào luyện để tạo nên giá trị về nghệ thuật ngôn từ tạo nên ngôn ngữ để sáng tạo thơ ca Ngôn ngữ thơ ca phải tinh luyện, mới mang được dấu ấn sáng tạo riêng của người nghệ sĩ

Trong bóng tối mịt mờ chốn lao tù, dường như sự sống đã chấm dứt hẳn, bởi lạnh giá, bởi cô độc Vậy mà, giữa những âm thanh khô khốc, chói tai của tiếng xiềng xích, vẫn vang lên nhịp tim thổn thức, rạo rực của một hồn thơ trẻ tha thiết yêu đời, yêu người Tố Hữu, bằng cảm xúc chân thật của mình,

đã cất lên tiếng nói tâm tình tha thiết của người chiến sĩ cộng sản suốt đời chiến đấu cho lí tưởng và tâm hồn khát khao tự do đến cháy bỏng trong bài thơ “Khi con tu hú”.

Trang 5

Nhan đề bài thơ là một sự diễn đạt chưa trọn ý một cách kì lạ Kì lạ bởi chính chỗ chưa trọn vẹn đó đã mở ra bao nhiêu liên tưởng Giờ đây, người ta không còn thấy bóng dáng cô đơn, nặng nề của người tù Tố Hữu mà chỉ nghe tiếng lòng nhà thơ đang rộn ràng, ngân vang khi đón nhận lấy tiếng chim tu hú từ xa rộn về Tu hú gọi bầy là âm thanh hết sức quen thuộc ở chốn làng quê Việt Nam, báo hiệu cho sự chuyển mình của sự sống - mùa hè

về Lúc này, khi con tu hú gọi bầy, trong hoàn cảnh tách biệt với cuộc sống bên ngoài, người chiến sĩ cách mạng càng cảm thấy ngột ngạt hơn, tù túng hơn, vì vậy mà càng thêm khát khao cháy bỏng hướng đến cuộc sống tự do tươi đẹp bên ngoài:

“Khi con tu hú gọi bầy

Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần

Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào

Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không.”

Mười chín tuổi, còn trẻ trung, bồng bột, người thanh niên Tố Hữu đã tìm thấy cho mình lí tưởng cao đẹp cuộc đời Những bước đi không mỏi mệt trên chặng đường chông gai, phút chốc phải dừng đột ngột, bị bó buộc tù hãm khiến cho Tố Hữu không khỏi có lúc thốt lên chua xót: “Cô đơn thay là cảnh thân tù” Nhưng rồi phút giây ấy cũng nhanh chóng đi qua, nhường chỗ cho không gian cảnh vật tràn trề nhựa sống: những bông luá chín, hạt bắp vàng, ánh nắng đào, trời xanh rộng, đôi sáo diều, tiếng ve ngân

Phải có một sự tưởng tượng lãng mạn, bay bổng và một tâm hồn mến yêu sự sống sâu sắc mới có thể vẽ lại toàn bộ bức tranh phong cảnh mùa hè sống động đến vậy Thiên nhiên hiện lên tuyệt đẹp kia không phải là hiện thực, tất

cả chỉ là sự tưởng tượng của một tâm hồn mơ mộng khi căng tất cả các giác quan để nghe, để nhìn, để ngửi, để cảm nhận không khí hè qua tiếng gọi bầy của tu hú Chỉ bằng vài đường nét, màu sắc, âm thanh, nhà thơ đã phơi bày một bức tranh đầy nhựa sống với cánh đồng lúa chiêm quen thuộc của quê hương đã bao lần đi vào thơ Tố Hữu:

“Đây từng ô mạ xanh mơn mởn

( )

Ôi ruộng đồng quê hương thương nhớ ơi!”

Giờ đây lại hiện về trong trạng thái căng đầy nhất, viên mãn nhất, lúa ngả

Trang 6

vàng, ngả sang màu niềm vui, là màu vàng rực rỡ của mùa hè, của mồ hôi kết tinh thành hạt thóc.

Với một tâm hồn lãng mạn tinh tế, Tố Hữu đã cảm nhận sự thay đối của màu nắng với nhiều góc độ: từ ánh nắng của “đôi ánh lạt ban chiều” (Tâm tư trong tù), ánh nắng yếu ớt dễ bóp nghẹt bởi bóng tối tới một “ánh nắng đào” giữa mùa hè, lấp đi dấu ấn của “vườn râm” Câu thơ là một không gian thoải mái với sắc hồng kì lạ Đó là thứ ánh sáng êm dịu, hiền hậu, vỗ về cho con người trước những mất mát, đau khổ trong cuộc đời Có lẽ từ chính sự gặp

gỡ tuyệt diệu của chàng thanh niên trẻ tuổi:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim”

đã khiến cho ánh nắng mùa hè có sự thay đổi tinh tế đến vậy Và sự xuất hiện của bầu trời trong vắt như mặt nước yên bình nâng tầm bay cho các cánh diều đã đẩy tầm nhìn, tầm nhận thức của nhà thơ lên đến độ sâu nhất,

xa nhất, cao nhất:

“Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”

Thấp thoáng trong ánh nhìn người tù, là một không gian mở rộng đến vô cùng vô tận Mặc dù có thể lúc ấy ánh nhìn của nhà thơ - chiến sĩ có phần bị che khuất đi bởi chấn song nhà tù chật hẹp Trên bầu trời lúc này không phải

là một mình lẻ loi, con sáo diều cũng có đôi, có cặp, có được sự tự do bay lượn trong vùng trời riêng kia Huống chi là con người Vậy mà, thực tế thì sao? Con người cô đơn, cô đơn hơn bao giờ hết, và mất tự do.

Không ngẫu nhiên mà bài thơ có sự bổ đôi của hai câu thơ lục bát Nhà thơ diễn tả bức tranh mùa hè sống động đối lập với cảnh mùa đông trong ngục tối đã làm nổi bật lên khát vọng cháy bỏng của người chiến sĩ trên con đường tìm đến tự do bốn câu thơ kết đã lắng lại cho tiếng lòng náo nức bật lên:

“Ta nghe hè dậy bên lòng

Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!

Ngột làm sao, chết mất thôi

Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”

Trang 7

Khổ thơ là lời bộc lộ trực tiếp cho tâm tư con người Bốn câu cảm thán là sự dồn nén những cảm xúc mãnh liệt của một trái tim đau khổ, uất hận vì mất

tự do Nhà thơ nghe hè, cảm nhận hè chỉ qua tiếng chim tu hú gọi bầy Hè đã đến, ba tháng trong ngục tối cũng đã trôi qua, lòng người thanh niên đầy nhiệt huyết càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn tiếng gọi lên đường, tiếng gọi của tự do.

Từ trong sâu thẳm tâm tư mình, người tù đã nhận ra tất cả cuộc sống náo nức, vui tươi bên ngoài lúc chỉ là tưởng tượng, bởi đó là tất cả những hình ảnh tồn tại trong trí nhớ của nhà thơ Đó là những cánh đồng, những vườn cây trái, những vườn râm Còn hiện tại, kẻ thù đang giày xéo quê hương, đã biến bao đồng quê thành hoang mạc và thực chất không gian tự do mà nhà thơ khát khao bên ngoài kia cũng chỉ là một không gian tù hãm, một cái lồng

to giam chí lớn, như chụp lên cuộc sống con người, lên quê hương Cho nên, khổ thơ là sự bừng tỉnh của lí trí, là tâm trạng uất ức, ngột ngạt muốn đạp bỏ tất cả, tìm đến không gian tự do, tự tại thật sự Bằng cách ngắt nhịp mạnh kết hợp với những từ ngữ mạnh mẽ: “đạp tan”, “chết uất”, câu thơ đã tập trung cao độ tinh thần yêu đời, yêu người cháy bỏng.

Tiếng kêu tu hú cứ day đi day lại cả bài thơ, như thúc giục, như lời thôi thúc người tù vượt thoát cảnh giam cầm, tìm về với tự do Có lẽ vì vậy mà ba năm sau, Tố Hữu đã vượt ngục và quay về đội ngũ, để làm tròn ước nguyện cống hiến tất cả cuộc đời cho cách mạng.

“Khi con tu hú” là một bài thơ kết hợp hài hoà của cảnh và tình Cảnh mở ra rạo rực, tha thiết, tình lắng đọng da diết, trầm buồn Với tâm hồn dân tộc, ngòi bút linh hoạt, mềm mại, Tố Hữu xứng đáng với danh hiệu con chim đầu đàn trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam.

Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên

Theo dòng thời gian bất tận, mọi thứ sẽ lui vào dĩ vãng mịt mờ, để lại cho con người bao nỗi niềm tiếc nuối Nhất là khi những vẻ đẹp tài hoa một thời chỉ còn vang bóng Cũng bắt nguồn từ cảm hứng ấy, bài thơ Ông Đồ thể hiện một hoài niệm day dứt, thương cảm cho một giá trị tinh thần sắp tàn lụi Bài thơ là tấm gương phản chiếu cho hồn thơ giàu lòng thương người và hoài cổ của Vũ Đình Liên

Trang 8

Được ra đời trong phong trăo Thơ mới, nhưng băi thơ thoât khỏi hai trục cảm xúc chính thời bấy giờ lă tình yíu vă thiín nhiín Trong lúc những nhă thơ lêng mạn đang chìm đắm trong câi tôi câ nhđn, muốn vẽ nín hiện thực mă họ muốn có, say sưa trong mộng ảo thì

Vũ Đình Liín – một trí thức tđy học trong lúc sững người, ngoảnh đầu quay lại phía sau để bất chợt nhận ra “câi di tích tiều tuỵ, đâng thương của một thời” Ông đồ – hình ảnh cuối cùng của nền Nho học đê từng tồn tại trong suốt một ngăn năm phong kiến Việt Nam

Sự trượt dốc của nền Nho học đê kĩo theo cả một lớp người trở thănh nạn nhđn đau khổ Ông đồ của Vũ Đình Liín lă một chứng tích cho một vẻ đẹp không bao giờ trở lại Lă hình ảnh đê ăn sđu văo tiềm thức mọi người vă vì thế chưa mất đi hoăn toăn, nhất lă đối với những con người có tđm trạng hoăi niệm cho vẻ đẹp quâ khứ như Vũ Đình Liín Khi

mă chữ nghĩa thânh hiền cao quý không còn vị trí, phải ra tận vỉa hỉ, đường phố, đê trở thănh một món hăng… con người ta mới thảng thốt, giật mình, xót xa cho ânh hăo quang rực rỡ một thời Tđm sự ấy đê được thể hiện trong băi thơ tạo nín sự giao thoa đồng cảm giữa nhđn vật trữ tình vă chủ thể trữ tình:

Mỗi năm hoa đăo nở

Lại thấy ông đồ giă

Băy mực tău giấy đỏ

Bín phố đông người qua

Ở đó lă những hình ảnh, ấn tượng đê hằn sđu trong kí ức của chăng thanh niín còn rất trẻ

Lă sự tuần hoăn của hoa đăo, của ông đồ, của mực tău, giấy đỏ tạo nín một nĩt riíng thiíng liíng của không gian văn hoâ dđn tộc khi Tết đến, xuđn về Nhưng ta không khỏi chạnh lòng trước cảnh ông đồ phải sống lay lắt trín con đường mưu sinh của mình Vẻ giă nua đâng thương hay lă đạo học sắp suy tăn? Trớ tríu thay, nơi ông có thể níu giữ vẻ đẹp văn hoâ, nơi ông có thể kiếm sống lại lă “bín phố đông người qua” Hình bóng lẻ loi,

cô độc của con người như bất lực trước hiện thực phũ phăng Trong dòng đời hối hả trôi, hiện lín hình ảnh ông đồ đang gò trín từng con chữ tăi năng vă tđm huyết của một đời người ngay giữa chợ đời:

Bao nhiíu người thuí viết

Tấm tắc ngợi khen tăi

Hoa tay thảo những nĩt

Như phượng múa rồng bay

Đó lă dư vang của một thời, nhưng cũng lă hình ảnh đâng buồn trong sự chống chọi vô vọng, như một ânh nắng cuối ngăy rực rỡ, bùng lín khi ngăy đê sắp tăn Câi cảnh xúm xít, chen lấn để mua một cđu đối, một đôi chữ Nho mới đau đớn lăm sao Trong từng người ấy, có ai thật sự cảm thấy xót xa cho sự xuống cấp thảm hại của chữ Thânh Hiền – một giâ trị tinh thần được đặt xuống ngang hăng với giâ trị vật chất?

Dẫu rằng sự hiện hữu của ông đồ góp thím nĩt đẹp truyền thống ấm cúng, trang trọng cho ngăy Tết vă nĩt chữ “như phượng múa rồng bay” kia cố níu kĩo lấy chút thể diện cuối cùng, được mọi người thân phục, ngưỡng mộ nhưng trânh sao khỏi cảm giâc bẽ

Trang 9

bàng, sượng sùng? Nhưng cái danh dự còn sót lại nhỏ nhoi ấy cũng đâu tồn tại mãi, nó vẫn bị thời gian khắc nghiệt vùi lấp không thương tiếc:

Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu

Giấy đỏ buồn không thắm

Mưcï đọng trong nghiên sầu

Khổ thơ là một sự hụt hẫng trong ánh mắt kiếm tìm: “Người thuê viết nay đâu?”, là nhịp thời gian khắc khoải đến đau lòng: “mỗi năm mỗi vắng” Sự tàn lụi của nền văn hoá Nho học là một điều tất yếu, cái mới sẽ thay thế cái cũ, ánh hào quang nào trước sau cũng dần một tắt, bị lãng quên, thờ ơ trong dòng đời vất vả với những kế mưu sinh, nhưng hiện thực phũ phàng cũng khiến cho lớp hậu sinh như Vũ Đình Liên không khỏi ái ngại, tiếc thương khi trước mặt mình là một cảnh vật hoang vắng, đượm buồn Trong sắc phai bẽ bàng của giấy, sự kết đọng lạnh lòng của mực tự thân nó đã dâng lên một nỗi buồn tủi Là ngoại cảnh nhưng cũng là tâm cảnh, một nỗi buồn thắm thía, khiến cho những vật vô tri

vô giác cũng nhuốm sầu như chủ nhân của chúng “một mình mình biết, một mình mình buồn”, “trĩu nặng những ưu tư, xót xa trước thời thế đổi thay” Và càng đáng buồn hơn, đến khổ thơ thứ tư thì còn lại cái hình ảnh của ông đồ lặng lẽ, cô đơn giữa quang cảnh lạnh lẽo:

Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay

Bằng hi vọng mong manh còn lại, chút gắng gỏi vì miếng cơm manh áo,ông đồ vẫn kiên nhẫn ngồi đợi Nhưng đáp lại sự đợi chờ vô vọng đó là những dáng tấp nập qua lại của mọi người, hờ hững, quên đi sự hiện diện của ông Giữa cái ồn ào, náo động xung quanh

là bóng dáng cô độc của ông đồ Sự đối lập giữa ông đồ và cuộc sống tất bật khiến nhà thơ ngậm ngùi thương cảm Giữa không gian đông người ấy, ông đồ vẫn ngồi, bóng dáng trầm tư có khác chăng Nguyễn Khuyến trước kia “tựa gối ôm cần lâu chẳng được” Từng đợt lá vàng rơi xuống đường, rơi trên giấy cùng ánh mắt thẫn thờ như ngơ ngác trông ra màn mưa bụi mịt mờ thật ám ảnh, khiến cho con người dâng lên bao nỗi xót xa, đánh động vào lương tri của mỗi người Không gian hoang vắng đến thê lương Bất chợt tôi lại nghĩ đến câu thơ của Yến Lan trong Bến My Lăng: “Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách” “Lá vàng rơi trên giấy” cũng gợi ra cái không gian thấm đẫm nỗi buồn “lá vàng rơi”, cũng như số phận hẩm hiu của ông đồ đã đến hồi kết thúc:

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Thực sự đến giờ bài thơ “chứa đựng cả một hệ vấn đề: bi kịch của sự gặp gỡ Đông và Tây, sự suy vong và cáo chung của một thời đại, sự biến mất vĩnh viễn của một lớp

Trang 10

người” Vòng tuần hoàn của đất trời vẫn tiếp tục, nhưng bóng dáng của ônd đồ không còn nữa Cảnh đấy, còn người ở đâu? Hoa đào kia như một biểu tượng của dòng thời gian, của tạo hoá Cái còn, cái mất ám ảnh trong tâm trí mọi người Ở đó là một niềm nhớ thương vời vợi:

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Khi bóng dáng ông đồ không còn, liệu nét chữ – “hồn” của ông – còn chăng? Những tinh hoa của giá trị tinh thần đã hoàn toàn mất hẳn? “Những người muôn năm cũ” là ông

đồ, là người thuê viết hay chính là thế hệ của lớp người mới trong đó có chính nhà thơ? Dẫu là ai, câu thơ vẫn gợi lên một niềm ray rứt, ngậm ngùi Mạch đồng cảm của người xưa và người nay được nối liền: Sự chán ngán cùng cực của ông đồ và nỗi lòng ân hận, tiếc nuối của lớp hậu sinh đã vô tình lãng quên thế hệ cha ông

Hỏi để đánh thức dậy trong tiềm thức sâu xa của mỗi người dân Việt những nỗi niềm vọng tưởng, đánh thức dậy nỗi ân hận, day dứt nhưng cũng đồng thời nhắc nhở mọi người đừng quên lãng đi quá khứ, lãng quên đi lòng yêu nước và văn hoá dân tộc Bởi lẽ,

đó cũng là hồn nước, hồn thiêng sông núi, là quốc hồn quốc tuý Đánh mất đi hồn dân tộc

có khác chi là mất nước?

Và có lẽ, Vũ Đình Liên không đến nỗi bảo thủ khư khư mực tàu giấy đỏ mà quan trọng hơn đó là tình cảm gắn bó và trân trọng một lớp người tài hoa, đáng kính của nhà thơ Để rồi, trong tâm hồn ta bất chợt một lúc nào đó lại vọng về tiếng bà ru cùng tiếng đua nôi kẽo kẹt:

Chẳng ham ruộng cả ao liền

Chỉ ham cái bút, cái nghiên anh đồ

(Ca dao)

Ngày đăng: 13/03/2021, 20:49

w