1. Trang chủ
  2. » Địa lý

Chúc mừng ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8 -3

29 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 30,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng về di chỉ Đồng Đậu, năm 2000 được Bộ Văn hoá - Thông tin cho phép khai quật lần thứ 6, đã phát hiện bộ di cốt người Việt cổ tay phải còn đeo nguyên vẹn chiếc vòng đá và khối lượng [r]

Trang 1

VỀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

Có thể phân khoáng sản ở vĩnh phúc thành các nhóm sau:

Nhóm khoáng sản cháy: Gồm than antraxit, than nâu và than bùn.

- Than antraxit: ở Đạo Trù (Lập Thạch), xác định chiều dài vỉa 20m, chiều

dầy vỉa 0,5- 0,8m, trữ lượng khoảng ngàn tấn, có nhiệt lượng 7000 - 8000Kcalo

- Than nâu: Địa tầng chứa than nâu ở các xã Bạch Lưu, Đồng Thịnh (Lập

Thạch)

Vỉa than Bạch Lưu dày 0,8m dài 10m chưa được thăm dò đánh giá Vỉathan Đồng Thịnh dày 0,4 - 0,5m nằm thoải dưới chiều sâu 5 - 7m, phủ trên là sétkết và bột kết, có trữ lượng khoảng vài ngàn tấn Than nâu có nhiệt lượng 6.000-8.000 Kcalo

- Than bùn: Vĩnh Phúc có nhiều điểm than bùn trong đó đáng kể là 2 vùng:

Văn Quán (Lập Thạch), Hoàng Đan, Hoàng Lâu (Tam Dương)

Than bùn Văn Quán có trữ lượng ước hàng trăm ngàn m3 có thể sử sụnglàm chất đốt và phân bón

Than bùn Hoàng Lâu phổ biến trên hàng chục hecta ở vùng đầm lầy và đầmchiêm trũng Chiều dày lớp than 1 - 2m, có chỗ 3m, dưới lớp phủ 0,5 - 1m, trữlượng ước khoảng 500.000m3 Địa tầng chứa than là cát sét và bột của trầm tích đệ

tứ hệ tầng Hà Nội, Than Humit chưa phân huỷ hết cây cối

Nhóm khoáng sản kim loại:

- Ba rít chủ yếu gặp dưới dạng tảng lăn, có nguồn gốc nhiệt dịch, đi với

chì, kẽm gồm 3 dải mạch ở Đạo Trù (Lập Thạch)

+ Dải mạch Vĩnh Ninh: Dài 10m dầy 0,2 0,3m, chủ yếu là galen, xphaler

-it kèm bar-it và thạch anh

+ Dải mạch Suối Son: Dài 40m rộng 0,5 - 1m Phát triển không liên tục.

Quặng là galen, đi kèm limolit và barit, đá vây quanh là serinit và acgilit

+ Dải mạch xóm Tân Lập: Có nhiều nhánh dài 30 - 50m, dày 0,5 - 1m.

Trang 2

- Đồng: Mới phát hiện được các điểm khoáng nghèo quặng là chancopyrit

(CuFeS2) được đi kèm với Pirit, pirotin Có thể kể các điểm khoáng hoá ở SuốiSon, Đồng Giếng (Đạo Trù), Đồng Bùa (Tam Quan), Hợp Châu, Bàn Long, MinhQuang (Tam Đảo)

- Vàng: Dọc theo đứt gãy Tây Nam Tam Đảo có nhiều mạch thạch anh

được xác định cùng tuổi với khoáng hoá vàng và những vành phân tán vàng sakhoáng ở Đạo Trù, Minh Quang, Thanh Lanh, Thanh Lộc

- Thiếc: Thiếc có trong sa khoáng ở xóm Giếng (Đạo Trù), suối Đền Cả

(Đại Đình) Các nhà địa chất dự báo ở vùng núi Tam Đảo còn có một loại thiếc thớ

gỗ, giàu nhưng chưa phát hiện được

- Sắt: Có 2 dải đáng kể là:

Dải sắt Bàn Giản (Lập Thạch): Khoáng vật chứa sắt là mahetit Dải có

chiều dài 200m rộng 50m, phần trên là mũ sắt và đá ong, nhân dân khai thác làmgạch táng ong Mahetit ở đây thuộc loại sắt từ dùng để sản xuất từ tính

Dải sát Khai Quang (Vĩnh Yên): Bắt đầu từ xã Đạo Tú, Thanh Vân (Tam

Dương) qua Định Trung về Khai Quang (Vĩnh Yên), có chiều dài hàng chục km,rộng hàng chục mét, có chỗ hàng trăm mét

Sắt ở Khai Quang cũng mới điều tra, phát hiện, có quặng chủ yếu làhematit, manhetit, phần trên mặt đã biến đổi thành limonit và gotit, hàm lượng đạt

40 - 50%

Ngoài hai điểm trên, còn có một số điểm sắt như ở Đồng Bùa (Tam Đảo).Đây là khu vực cần được nghiên cứu chi tiết để có thể phát hiện các vùng cókhoáng sản quan trọng nói trên

Nhóm khoáng sản không kim loại.

Chủ yếu là cao lanh, có nguồn gốc phong hoá từ các đá alumoxilicat nhưgranit, plagio granit có các mạch đá aplit, sionit phân bố ở Tam Dương, Vĩnh Yên

và Lập Thạch

Mỏ cao lanh Định Trung (Vĩnh Yên), diện tích 5,5 km2 Có 2 loại cao lanh:

- Cao lanh do đá granit phong hoá, trữ lượng trên 6 triệu tấn

Trang 3

Cao lanh phong hoá còn có ở Thanh Vân, Hướng Đạo, Hoàng Hoa (TamDương), Yên Dương (Tam Đảo) nhưng chưa được đánh giá.

- Cao lanh do đá mạch kiềm Pecmalit, Sienit được phong hoá triệt để từ các

đá thuần Fenspat, phân bố ở mỏ Định Trung, xóm Mới Thanh Vân và rải rác ởthôn Lai Sơn (phường Đồng Tâm - thị xã Vĩnh Yên), xã Kim Long (Tam Dương)

Nhóm vật liệu xây dựng:

- Sét gạch ngói: Phân bố rộng rãi ở vùng đồng bằng và vùng đồi.

- Sét đồng bằng: Có nguồn gốc trầm tích sông biển, đầm hồ Tầng sét dày

từ 1-10m, trên diện tích hàng trăm km2 với trữ lượng hàng tỷ mét khối Chỉ tính 3

mỏ được thăm dò là Đầm Vạc, Quất Lưu (Vĩnh Yên), Bá Hiến (Bình Xuyên) đã cótrữ lượng hàng chục triệu mét khối

Sét vùng đồi: Có nguồn gốc phong hoá không triệt để từ các đá alumosili

-cat nên độ mịn không cao, độ xốp không lớn và kém dẻo Loại sét này có độ dày

từ 1 - 5m có màu nâu vàng, dùng sản xuất gạch nhưng gạch thường xốp và giòn,tốn nhiều nhiên liệu đốt Gạch sản xuất từ sét vùng đồi chỉ chiếm 1-3%

- Sét màu xám đen, xám nâu Xuân Hoà được phong hoá từ đá phiến sét có

tuổi Devon Khi nung đến 900-1000oC, nước thoát ra làm cho đất sét phồng lên,tạo ra những lỗ xốp được gọi là sét Kêranzit dùng sản xuất bê tông nhẹ để xâydựng các công trình trên nền đất yếu, để chống nóng, chống ồn do tính cách nhiệt,cách âm của nó Mỏ sét Xuân Hoà có trữ lượng hàng triệu mét khối

- Cát sỏi lòng sông và bậc thềm: Cát sỏi lòng sông Lô, sông Phó Đáy thuộc

loại cát sỏi thạch anh, silic, có độ cứng cao, độ lựa chọn tốt, sắc cạnh, có độ bámdính và liên kết vôi vữa, xi măng

+ Cát sỏi sông Lô có trữ lượng tới 30 triệu m3 hàng năm được bổ sung từthượng nguồn về hàng triệu m3

+ Cát sỏi bậc thềm, bậc 2- 3 ở vùng Cao Phong, Xuân Lôi, Văn Quán,Triệu Đề (Lập Thạch), các xã Hoàng Đan, Kim Xá thuộc sông Phó Đáy có trữlượng hàng chục triệu m3

Trang 4

- Đá xây dựng: Bao gồm đá khối, đá tảng, đá dăm với một khối lượng

khổng lồ hàng tỷ m3 được phân bố ở dãy núi Tam Đảo

- Đá núi Tam Đảo: là đá riolit, poofia và các loại đá tuf được khai thác làm

đá hộc, đá khối, đá dăm để rải đường và làm bê tông

Hiện nay trong tỉnh có 4 mỏ đang khai thác là mỏ Tân Trung (Lập Thạch),

mỏ Đá Cóc (Minh Quang), mỏ Trung Mầu (Bình Xuyên) và mỏ Xuân Hoà (MêLinh) hàng năm cung cấp hàng trăm ngàn m3 đá xây dựng các loại Tiềm năng này

ở vùng núi Tam Đảo còn rất lớn

- Đá tạc, đá kè đê: Vùng Bạch Lưu, Hải Lựu (Lập Thạch) có loại đá cát kết,

hạt vừa và nhỏ, bột kết dạng macnơ, cấu tạo khối, xếp lớn dàn ở Hải Lựu đã hìnhthành một làng nghề truyền thống đẽo đá, tạc đá thành những sản phẩm gia dụngnhư cối giã, máng lợn hoặc sản phẩm mỹ thuật như các loại tượng đá, bia đá dùngcho lăng mộ, với hàng triệu sản phẩm /năm Loại đá hộc, đá khối nhỏ không dùng

để tạc đều làm đá kè đê, kè đường mỗi năm cung cấp hàng trăm ngàn m3

+ Một khối không khí lạnh, ẩm, từ biển đông đến từ tháng 1- 3

+ Một khối không khí nóng và ẩm, thổi từ phương Nam tới, từ tháng 4- 5.Lượng mưa mùa khô dao động từ 330 - 430m/m ở đồng bằng, 400-550m/mvùng đồi và 530 - 630m/m vùng chân núi

Thời tiết vụ đông:

Trang 5

Đặc điểm chung của khí hậu vụ đông ở Vĩnh Phúc là vụ rét nhất thường cónhiệt độ thấp nhất và những đợt kéo dài trong năm Vụ đông cũng là vụ ít mưa,nhiều ngày khô hanh nhất trong năm Vụ đông có 2 thời kỳ có thời tiết khác nhau.

+ Thời kỳ từ tháng 10-11 và 12: Thời tiết tương đối ấm Nhiệt độ trung

bình ngày phần lớn từ 20 - 250C Trung bình tối thấp chưa xuống dưới 150C, tốithấp tuyệt đối ở cuối tháng 11 cũng ít ngày xuống dưới 100

Lượng mưa trong các tháng 11 - 12 giảm nhiều so với các tháng 7 - 8 giữamùa mưa nhưng lượng mưa ở các nơi trong tỉnh vẫn còn đo được trên dưới100mm ở tháng 10 và gần 50mm ở tháng 11 Số ngày mưa 10-12 ngày một tháng,giảm so với các tháng giữa mùa mưa

+ Thời kỳ tháng 12 và tháng giêng: Các tháng này nằm giữa mùa rét, mùa

khô hanh Nhiệt độ không khí trung bình ngày từ 15-180, trung bình tối thấp 12

-140, tối thấp tuyệt đối nhiều năm xuống đến 4-60

Mưa rất ít, lượng mưa tháng trung bình trên dưới 20mm Có vài năm chỉmưa 2-3mm

Vụ đông nhiệt độ tuy thấp nhưng vẫn ở mức độ tương đối, phù hợp với khảnăng chịu rét của cây trồng vụ đông như ngô đông, đậu tương đông, khoai tây, lúa

mỳ, mạch hoa, khoai lang và các loại rau cao cấp

Vụ đông ít mưa, khô hanh, đất không đủ ẩm nên cần phải có biện phápnâng cao năng suất trong khi các cây vụ đông hầu hết là cây trồng cạn, không ưangập nước nhưng lại rất cần nước

Thời tiết vụ đông xuân:

Nhìn lại thời tiết vụ đông xuân ở Vĩnh Phúc, có thể thấy thời tiết biến độngkhông vụ nào giống vụ nào Có vụ, mùa đông đến sớm và là năm rét đậm kéo dàinhiều ngày Nhiệt độ trung bình tháng 1-2 xuống dưới mức bình thường tới 30 làmcho mạ, lúa bị chết rét nhiều Cuối vụ gặp nắng hạn, lúa bị nghẹn đòng nên năngsuất, sản lượng thấp

Có năm mùa đông rất ấm và mưa nhiều, mùa đông đến nuộn và kết thúcmuộn làm cho năng suất, sản lượng cây trồng nói chung thấp

Trang 6

Thời gian rét kéo dài và cường độ các đợt rét có ảnh hưởng rất lớn đến sảnxuất vụ đông xuân.

Tuy nhiên, qua thống kê cho thấy điều kiện mùa đông lạnh dễ đạt năng suấtcao hơn trong điều kiện mùa đông ấm

Biến động thời tiết trong vụ đông xuân ảnh hưởng đến thời vụ gieo mạ nhất

là mạ xuân, ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng chiêm xuân Chính vì vậy mà

xu thế để có một vụ lúa xuân chắc ăn và năng suất cao là chuyển làm lúa xuânmuộn và phát triển các kỹ thuật tiến bộ chống rét cho mạ bằng che phủ nilon

Thời tiết vụ mùa:

Tính từ tháng 6 đến hết tháng 10, thời tiết vụ mùa khác với vụ đông xuânkhắc nghiệt, rất thuận lợi cho cây trồng phát triển

Số giờ nắng trong mùa mưa tăng hơn mùa khô 45%

Mùa mưa thường có gió nồm theo hướng đông và đông nam đem theonhiều hơi nước Lượng mua sáu tháng mùa khô trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc daođộng từ 330-630mm trong khi đó sáu tháng mùa mưa bình quân mưa tới 1.101mmgấp 2 - 3 lần lượng mưa mùa khô Trong đó tháng tám có lượng mưa cao nhất(322mm - số tuyệt đối là 725mm)

VĨNH PHÚC - MỘT VÙNG ĐẤT CỔ

VÀ KHO TÀNG DI SẢN VĂN HOÁ

Vĩnh Phúc là một vùng đất cổ với sự xuất hiện con người sinh sống từ mấynghìn năm về trước Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, bao tác động của tựnhiên, con người vùng đất nơi đây đã toạ nên một kho tàng di sản phong phú, đặcsắc về văn hoá Đó cũng là một vốn quý, một tài sản vô giá của Vĩnh Phúc

Theo nhiều nhà nghiên cứu (xưa và nay) thì Phú Thọ là vùng đồi núi truyềnthuyết của Mẹ Tiên, Vĩnh Phúc là vùng biển truyền thuyết của Cha Rồng

Trang 7

Bốn ngàn năm trước, đất đai tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay đã nằm trong một cõichung, có điều chưa gọi là tỉnh, là Vĩnh Yên, Phúc Yên, Vĩnh Phúc mà mang địadanh khác, theo cách phân vùng hành chính khác với bây giờ.

Thời đại Hùng Vương, nước ta có nước Văn lang Nước Văn Lang có 15

bộ, trong đó bộ Văn Lang là bộ gốc, trung tâm của nước Văn Lang nằm trên hợplưu của 3 con sông: sông Thao, sông Đà, sông Lô Lãnh thổ bộ Văn Lang trải rộng

ra hai bên sông Thao, sông Hồng, từ dãy núi Ba Vì sang dãy núi Tam Đảo Nhưvậy, đất đai tỉnh Vĩnh Phúc bây giờ nằm trong bộ Văn Lang xưa Và không phảingẫu nhiên mà người ta nói, cùng với Phú Thọ, Vĩnh Phúc là một vùng đất cổ, nơisinh tụ đầu tiên của cư dân nước Việt

DI CHỈ LŨNG HOÀ

Di chỉ nằm trên một khu đất cao thuộc cánh đồng đầu thôn Hoà Loan, xãLũng Hoà, huyện Vĩnh Tường, cách thị xã Vĩnh Yên 14 km về phía Tây Nam,cách Việt Trì 4 km về phía Tây, cách sông Hồng nơi gần nhất là 2,5 km Di chỉLũng Hoà được phát hiện vào tháng 6.1963 và tiến hành khai quật đợt 1 từ ngày14/11/1965 đến ngày 1/4/1966 Kết quả khai quật cho thấy:

Các lớp đất được cấu tạo tương đối đơn giản, tầng văn hoá mỏng và đơnthuần, chủ yếu ở lớp đơn thuần, chủ yếu ở lớp đất thứ hai có độ sâu từ 0,40 - 0,60

m đã phát hiện và thu nhập được 285 hiện vật gồm 262 hiện vật bằng đá (91,92%tổng số), 23 hiện vật bằng gốm (8,08%), 5.618 mảnh gốm và nhiều cuội tự nhiên

Đồ đá cũng như đồ gốm ở Lũng Hoà rất gần gũi với đồ đá, đồ gốm ở các dichỉ Phùng Nguyên (Phú Thọ), Văn Điển (Hà Nội) Kỹ thuật đồ đá đạt đến mức caocủa kỹ thuật chế tác đá Đồ gốm rất tiến bộ, hầu hết đã chế tạo bằng bàn xoay.Chưa thấy đồ xương và xương thú vật, chưa thấy xuất hiện đồ đồng

Trong đợt khai quật này đã phát hiện 22 ngôi mộ, trong đó có 4 ngôi thờihiện đại, 6 ngôi thời Bắc thuộc và quan trọng nhất là 12 ngôi thuộc thời đại đồ đámới Các mộ này đều là đơn táng Người chết được chôn theo tư thế nằm thẳng,nhưng không rõ nằm nghiêng, nằm ngửa hay nằm sấp

Trang 8

Hiện vật chôn theo trong mộ có 56 chiếc đồ đá, 46 chiếc đồ gốm (gốm rìu,đục, bàn mài, vòng tay, hạt chuỗi, nồi, bình, bát, vật hình cốc…) Đặc biệt, tronghầu hết các ngôi mộ đều chôn theo xương hàm răng lợn.

Tình hình hiện vật và mộ táng nói trên chứng tỏ địa điểm khảo cổ học LũngHoà vừa là một khu di chỉ cư trú, vừa là một khu mộ địa

Đây là loại di chỉ nằm ở các doi đất thấp hoặc các doi đất cao ven sông Ởmiền Nam Trung Quốc, về thời đại đồ đá mới, loại di chỉ này được phát hiện nhiều

và gọi là “Đài hình di chỉ” Ở nước ta, di chỉ Phùng Nguyên, Văn Điển cũng thuộcvào loại “Đài hình di chỉ” này

Căn cứ vào loại hiện vật đồ đá, đồ gốm và mộ táng, di chỉ Lũng Hoà có thể

ở vào giai đoạn cuối của thời đại đồ đá mới chuyển qua sơ kỳ thời đại đồng thau.Niên đại có thể tồn tại từ 3000-4000 năm trước đây và thuộc về loại hình văn hoáPhùng Nguyên

Người cổ đại ở đây sống chủ yếu bằng nghề nông, bên cạnh đó đã biết chănnuôi thêm gia súc và gia cầm, ngoài ra còn săn bắn thú nhỏ và đánh cá sông làmthực phẩm phụ

Qua các hình thái sinh hoạt kinh tế, phần nào có thể hình dung được tổ chức

xã hội đương thời Tất cả mọi người trong thị tộc cùng lao động, cùng hưởng thụbình đẳng như nhau Nhưng do sức sản xuất đã phát triển đến một trình độ nhấtđịnh nên những người đứng đầu thị tộc hay bộ lạc có một số đặc quyền nào đó vềchính trị cũng giữ một phần nào đặc quyền trong việc phân phối sản phẩm

Di chỉ Lũng Hoà thuộc loại hình văn hoá Phùng Nguyên Văn hoá PhùngNguyên phân bố liền khoảnh trong một vùng rộng lớn, dài hàng trăm cây số haibên bờ sông Hồng, từ Lâm Thao (phía Nam tỉnh Phú Thọ), tỉnh Vĩnh Phúc, miềnSơn Tây (Hà Tây) đến Văn Điển (Hà Nội) Văn hoá Phùng Nguyên là văn hoá vậtchất của các bộ lạc thời Hùng Vương ở thời kỳ bắt đầu dựng nước

DI CHỈ ĐỒNG ĐẬU

Khu di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu nằm trong gò Đồng Đậu, thuộc địa phậnthôn Đông 2, thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc Gò có diện tích khoảng 86.000 m2

Trang 9

Nhìn chung gò Đồng Đậu ở ven rìa đỉnh châu thổ Bắc Bộ, nơi giao tiếpgiữa những vùng đồi đất đỏ la - tê -rit và vùng bồi tụ của phù sa sông Hồng Đốivới người Việt cổ đang trên quá trình rời bỏ vùng rừng núi tiến về chinh phục khaiphá vùng đồng bằng màu mỡ thì đây là một địa điểm lý tưởng.

Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu được phát hiện vào khoảng tháng 2/1962 Từcuối năm 1965 đến cuối năm 1999 đã tiến hành 6 đợt khai quật, với diện tích gần

740 m2 Trên đất nước ta chưa có một di tích khảo cổ nào được các cơ quan khảo

cổ quan tâm khai quật nhiều lần như vậy Điều này cho thấy tầm quan trọng của dichỉ Đồng Đậu đối với việc tìm hiểu nguồn gốc dân tộc Việt Nam cũng như quátrình hình thành Nhà nước đầu tiên của dân tộc

Qua khai quật, các nhà khảo cổ học đã thu thập được một khối lượng di vật

đồ sộ gồm 1.154 đồ bằng đá, 200 đồ bằng đồng, 226 đồ bằng đất nung và 102 đồbằng xương, sừng

Nét nổi nhất của đồ đá là sự phong phú, đa dạng, có tới 71 loại, gồm công

cụ sản xuất, vũ khí và dụng cụ săn bắt, dụng cụ sinh hoạt, đồ trang sức… được chếtác từ một trình độ kỹ thuật đỉnh cao và tay nghề thành thạo

Đồ đồng có 27 loại dùng trong các hoạt động sản xuất, săn bắt, đánh cá…các đặc trưng của di vật phần nào cho thấy người Đồng Đậu đang bước nhữngbước đầu tiên trong việc nắm bắt kỹ thuật luyện, đúc đồng và sử dụng đồ đồngthau vào đời sống

Đồng Đậu còn là nơi phát hiện được nhiều di vật bằng xương, sừng nhấttrong hàng trăm địa điểm đã được khai quật ở nước ta (trước năm 1983), khôngnhững nhiều về số lượng, phong phú về loại hình mà trình độ kỹ thuật chế táccũng đã đạt đến đỉnh cao

Đồ gốm có đồ nấu, đồ đựng, công cụ sản xuất (dọi se sợi, khuôn đúc đồng,

bi gạch…), tượng người, tượng bò, tượng gà, chạc gốm…

Cùng với các di vật trên, còn thu lượm được một số lượng khá lớn xương,răng động vật và một ít hạt thực vật

Trong lớp văn hoá Phùng Nguyên (ở độ sâu 2,5m), có 10 hạt thon dài thuộclúa tẻ, chỉ có một số hạt thuộc dạng bầu dài giống như lúa nếp hương

Trang 10

Ở lớp văn hoá Phùng Nguyên chuyển lên lớp văn hoá Đồng Đậu (sâu 2m)

và Đồng Đậu (1,2m - 1,5m) thấy chủ yếu là hạt thon ngắn cũng thuộc loại lúa tẻ.Trong các lớp này đã bắt đầu có hạt tròn dài (nếp) và tròn ngắn (Di cút)

Trong lớp Đồng Đậu muộn (1,2 - 1,0m) ngoài các hạt thon dài và thon ngắn(tẻ) có hai hạt bầu ngắn và tròn dài là lúa nếp

Như vậy là ở vào giai đoạn Phùng Nguyên (cách đây 4.000 - 3.500 năm),

cư dân Đồng Đậu chủ yếu trồng lúa tẻ Sang đến giai đoạn Đồng Đậu (cách đây

3500 năm), mới bắt đầu phân hoá ra lúa nếp và lúa hạt tròn, có thể là tiền thân củalúa Sino Japonica Có thể giai đoạn này cũng đã phân hoá thành lúa chiêm vì trongcác mẫu phân tích, có một số hạt giống với các giống lúa chiêm hiện đại

Về các di tích và hiện vật, các nhà khảo cổ đã phát hiện 226 di tích và hiệnvật gồm:

- 148 huyệt đất hình vuông, hình chữ nhật, hình thang cân, hình thoi, hìnhbầu dục, hình tròn, hình đa giác; trong các huyệt, có dấu tích bếp lửa, than tro hoặc

di vật khảo cổ đều thuộc giai đoạn Phùng Nguyên

- 93 bếp lửa và một hệ thống bếp lửa liên hoàn, hình dáng, cấu trúc các bếp

có nhiều loại khác nhau nhưng hầu hết đều chứa đựng tro than và di vật khảo cổthuộc các giai đoạn Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun

Qua đó cho thấy Đồng Đậu là một di khảo cổ có tầng văn hoá dày, chứađựng nhiều di vật, là nơi cư trú của con người trong thời gian dài, có nhiều hiệnvật

Căn cứ vào sự khác biệt về chất đá, chất đất và màu sắc cũng như hình dáng

và phong cách đồ đá, đồ gốm, đồ đồng, đồ xương trong các tầng văn hoá, di chỉ

Đồng Đậu có thể bao gồm 3 tầng văn hoá có đặc trưng riêng biệt.

Tầng sớm: Đồ đá chiếm tỷ lệ cao nhất so với các tầng văn hoá sau đó Kỹ

thuật chế tác đã đạt đến đỉnh cao Đồ xương khá phong phú chiếm khoảng 10% sốhiện vật trong tầng Đồ gốm cũng thuộc loại gốm thô, song được pha thêm cát hạtnhỏ nên mịn hơn các tầng khác, độ nung thấp hơn so với các tầng khác Đồ đồngchưa thấy xuất hiện; chỉ ở phần trên sát với tầng văn hoá giữa mới có vài cục xỉđồng nhỏ

Trang 11

Tầng giữa: Đồ đá khá nhiều, nguyên liệu và kỹ thuật chế tác cơ bản giống

đồ đá ở tầng văn hoá sớm, song khác biệt chút ít về kiểu dáng.Hiện vật bằngxương chiếm tới 19% tổng số hiện vật trong tầng; có thêm loại hình mang tínhchất trang sức hoặc tín ngưỡng Đồ gốm dày hơn, độ nung cao hơn nên gốm cứnghơn tầng văn hoá sớm Đáng lưu ý là đồ đồng đã xuất hiện, với số lượng khá lớnchiếm khoảng 20% số hiện vật trong tầng và trên 50% số di vật đồng thu lượmđược ở Đồng Đậu Kỹ thuật luyện đúc đồng đã đạt trình độ khá cao

Tầng muộn: Đồ đá có số lượng ít Đồ gốm có phần thô hơn Đồ đồng chiếm

khoảng 43% tổng số hiện vật thu được trong tầng Kỹ thuật không ngừng tiến bộ

Theo thời gian niên đại di chỉ Đồng Đậu có thể chia như sau:

Tầng văn hoá sớm: Có đủ đặc trưng của văn hoá Phùng Nguyên Có nhiều

khả năng là chủ nhân của tầng văn hoá sớm Đồng Đậu trong một thời gian dàichưa biết kỹ thuật luyện đồng, chỉ đến giai đoạn cuối mới biết đến kỹ thuật tiến bộnày Và tầng văn hoá sớm Đồng Đậu có thể tồn tại từ cuối hậu kỳ đá mới đến sơ

kỳ thời đại đồng thau

Tầng văn hoá giữa: Có thể thuộc vào giai đoạn cuối của sơ kỳ thời đại

đồng thau hoặc đã bước sang trung kỳ thời đại đồng thau

Việc xác định niên đại tuyệt đối của di chỉ Đồng đậu, có kết quả như sau:

- Tầng văn hoá sớm: 3500 + 100 năm tức khoảng 1470 + 100 năm trước

Trang 12

Qua khảo sát và nghiên cứu, các nhà khoa học đã có những khái quát về cuộc sống thời xưa ở Đồng Đậu.

Điều kiện thiên nhiên ở đây rất thuận lợi cho cuộc sống của con người Vớiđất phù sa màu mỡ, lại sẵn ao hồ đầm lầy, gần sông, tiện nước, con người đã định

cư lâu dài ở đây và từ những ngày đầu tiên họ đã quen thuộc với nghề làm ruộng.Nghề nông đã có trình độ khá cao và giữ vai trò chủ đạo trong các ngành sản xuất,

có thể lúa nước là nguồn cung cấp lương thực chính

Bên cạnh nghề nông, nghề chăn nuôi cũng đã ra đời và dần phát triển từthấp lên cao Người Đồng Đậu còn chú ý đến săn bắn và đánh cá

Bên cạnh nghề nông, thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong cuộcsống Đó là những nghề làm đá, đan lát… Nghề luyện, đúc đồng ra đời muộn hơnnhưng có ảnh hưởng lớn đến đời sống

Trên cơ sở đời sống kinh tế ngày một nâng cao, cư dân Đồng Đậu luôn chú

ý đến cái đẹp Nhận thức về cái đẹp thể hiện rõ nét trên kiểu dáng và hoa văn đồgốm, trên sự phong phú về số lượng cũng như kiểu dáng khác nhau của đồ trangsức, trong các pho tượng đất đỏ nặn hình bò, gà và đầu người…

Xã hội lúc này vẫn là công xã thị tộc; và với nền kinh tế nông nghiệp lúanước ra đời, vai trò của người đàn ông đã được đề cao hơn, xã hội có thể thuộc chế

độ công xã thị tộc phụ hệ

Sự phát triển của sức sản xuất ở giai đoạn cuối Đồng Đậu đã đẩy mạnh quátrình phân hoá thành các giai cấp xã hội đưa đến sự tan rã của chế độ công xãnguyên thủy, để thành lập Nhà nước trong giai đoạn tiếp theo

Cuối năm 1999, Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam phối hợp với Sở Văn hoáThông tin - Thể thao tổ chức đợt khai quật thứ 6 trên diện tích 71m2 Kết quả lầnnày có thêm 2 phát hiện mới:

Ở lớp văn hoá Phùng Nguyên thu nhập được nhiều hạt gạo cháy Đặc biệt,

cũng ở lớp văn hoá Phùng Nguyên, phát hiện một bộ xương khá nguyên vẹn của người Việt cổ nằm ở độ sâu 3,20m; ở cánh tay phải còn đeo một chiếc vòng tay

bằng đá nguyên Qua giám định bước đầu của các nhà khoa học: Đây là hài cốtcủa người đàn ông, cao khoảng 1,56, độ tuổi 44-45

Trang 13

Tầm quan trọng của hiện vật Đồng Đậu không chỉ ở số lượng, mà cái làmnên vóc dáng Đồng Đậu là một quá trình diễn biến văn hoá từ lớp sâu nhất lên trênmặt, phản ánh một quá trình phát triển liên tục để đi đến hình thành Nhà nước phôithai đầu tiên của dân tộc.

… Có thể nói giai đoạn Đồng Đậu là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất ở đây,tầng văn hoá rộng và dày, hiện vật phong phú đa dạng; bên cạnh đó đồ đá, đồgốm, đồ đồng, đồ xương cũng phát triển

DI CHỈ THÀNH DỀN

Di chỉ Thành Dền thuộc xã Tự Lập, huyện Mê Linh ở phía Đông Nam dichỉ Đồng Đậu, cách 9 km trên một đường thẳng chim bay từ Lũng Hoà qua ĐồngĐậu xuống Thành Dền còn gọi là thành Cự Triền, hay thành Trại, thành Cờ cáchthành Hạ Lôi 8 km và tương truyền là doanh trại của bà Trưng Nhị

Đây là một quả gò nằm giữa cánh đồng khá bằng phẳng Tổng diện tích cótầng văn hoá lên tới 24.227 m2

Năm 1983, Chuyên ban khảo cổ, Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp

Hà Nội đã đào thám sát 2m2 và khai quật 50m2 Nhiều công cụ, đồ trang sức bằng

đá, nhiều đồ đồng, dụng cụ đúc đồng được phát hiện ở đây cùng với những đồ gốm,

đồ đan bằng tre nứa… đã nói lên tính chất phong phú của di chỉ Thành Dền

Năm 1984, di tích Thành Dền được khai quật lần thứ 2 với diện tích 62m2.Kết quả khai quật lần này cũng đã phát hiện được nhiều đồ đá, đồ đồng cùng vớinhững dụng cụ đúc đồng Đặc biệt, phát hiện một ngôi mộ táng nằm trong tầngvăn hoá được xác định là chủ nhân cư dân văn hoá Đồng Đậu

Các nhà nghiên cứu đã cho rằng di chỉ Thành Dền có độ dày tầng văn hoátrên dưới 1m, có nhiều yếu tố mang tính chất chuyển tiếp từ văn hoá PhùngNguyên lên văn hoá Đồng Đậu và từ văn hoá Đồng Đậu lên văn hoá Gò Mun Dichỉ Thành Dền không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi chôn cất người chết của cưdân văn hoá Đồng Đậu

Các kết quả khai quật đã tìm thấy:

Về đồ đá:

Trang 14

Tổng số có 219 tiêu bản, gồm 8 rìu, 27 bôn, 8 đốc rìu, 3 đục, 75 bàn mài, 1mũi nhọn, 1 chày nghiền, 39 vòng trang sức, 9 khuyên tai, 4 hạt chuỗi, 44 khuônđúc.

Điều đáng chú ý ở đây là qua thống kê, phân loại giữa các lớp, chúng có sựdiễn biến từ dưới lên trên Điều đó phản ánh một thực tế là đến văn hoá Đồng Đậu,

do đồ đồng phát triển nên công cụ và đồ dùng bằng kim loại đã thay thế dần công

cụ và đồ dùng bằng đá

Về đồ đồng:

Tổng số 230 tiêu bản gồm: 2 rìu, 8 mũi nhọn, 2 mũi tên, 9 lưỡi câu, 1 vật lạchưa xác định là gì, 18 dây đồng, 38 cục đồng, 6 mảnh đồng, 146 xỉ đồng Quathống kê, thấy từ độ sâu 1,10m đến 0,60m rỉ và xỉ đồng chỉ chiếm 15,49%, nhưng

từ 0,50 đến 0,00 m tỷ lệ này lên tới 84,51% Sự diễn biến này cho thấy rõ ràngnhững hoạt động đúc đồng ở giai đoạn sau phát triển hơn nhiều so với gia đoạntrước

Về đồ gốm:

Tổng số 86.377 tiêu bản, gồm đủ loại như các mảnh vỡ miệng, thân, đáy,

đế, dọi xe chỉ, khuôn đúc đồng, mảnh nồi nấu đồng, dấu vết lò đúc đồng

Các nhà khảo cổ, nhận ra sự diễn biến các lớp văn hoá ở đây từ sớm đếnmuộn như sau:

Hoa văn chấm tròn kiểu Gò Mun chỉ thấy tập trung từ 0,05m trở lên Hoavăn dấu đan tiêu biểu cho văn hoá Đồng Đậu chỉ tồn tại từ 0,70 đến 0,20m Hoavăn chấm dài tiêu biểu cho văn hoá Phùng Nguyên phổ biến ở các lớp dưới vàgiảm dần ở các lớp trên Văn sóng nước tiêu biểu cho văn hoá Đồng Đậu phổ biến

từ các lớp dưới đến các lớp trên cùng Văn khắc vạch các loại vừa mang đặc trưngcủa văn hoá Đồng Đậu, vừa mang đặc trưng của văn hoá Gò Mun cũng tồn tại phổbiến từ dưới lên trên… Rõ ràng Thành Dền không chỉ đơn thuần là một di tíchthuộc văn hoá Đồng Đậu mà nó còn có những yếu tố khá đậm từ các văn hoá trước

và sau nó Điều này rất có ý nghĩa trong việc xác định các khâu chuyển tiếp giữacác văn hoá Tiền Đông Sơn ở lưu vực sông Hồng

Ngày đăng: 12/03/2021, 18:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w