1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi Tim hieu Luat BDG

14 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 19,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giúp họ nắm được kiến thức và các quy định pháp luật về vấn đề bình đẳng giới để từ đó, những cán bộ này sẽ trực tiếp về tại cơ sở mình tổ chức các buổi nói chuyện, trao đổi các vần đề b[r]

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc.

BÀI DỰ THI

"

TÌM HIỂU LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI"

- Họ và tên: Mai Thị ánh Nguyệt

- Năm sinh: 1987

- Giới tính: Nữ

- Dân tộc: Kinh

- Đơn vị công tác: Trường Tiểu Học Đỗ Thế Chấp

- Số điện thoại: 0905054719

Núi Thành ,năm 2012

Trang 2

Câu 1 Hỏi: Luật Bình đẳng giới quy định bao nhiêu thuật ngữ liên quan tới

bình đẳng giới? Nêu các nội dung cụ thể của từng thuật ngữ và cho 2 ví dụ để minh họa cho 2 khái niệm bất kỳ (15 điểm)?

Trả lời:Theo Điều 5 Luật Bình đẳng giới thì có 9 thuật ngữ liên quan tới bình đẳng

giới được quy định khái niệm Cụ thể như sau:

1 Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã

hội.

Ví dụ:

- Theo quan niệm của nhiều người Việt Nam, khi buồn, phụ nữ khóc được cho

là nữ tính còn nam giới khóc sẽ bị cho là yếu mềm.

- Nhiều người Việt Nam có quan niệm “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (Có một con trai được coi là có con, có 10 con người vẫn coi như không có con).

- Nam giới là trụ cột gia đình, còn phụ nữ là người có nghĩa vụ chăm sóc các thành viên khác của gia đình.

2 Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.

Ví dụ:

- Chỉ phụ nữ mới có thể sinh con và cho con bú trực tiếp từ bầu sữa của mình; chỉ có nam giới mới có tinh trùng;

- Nam giới vỡ tiếng ở tuổi dậy thì còn nữ giới thì không.

- Nam giới có yết hầu, phụ nữ không có yết hầu.

3 Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và

cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.

Ví dụ:

- Phụ nữ và nam giới có quyền như nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã

hội và gia đình như: quyền được làm việc, quyền được chăm sóc, quyền được tham gia bỏ phiếu bầu cử, ứng cử, quyền được thụ hưởng các phúc lợi xã hội, văn hóa, thể thao.

- Phụ nữ và nam giới có quyền được tự do lựa chọn việc làm và phát triển

nghề nghiệp.

- Phụ nữ và nam giới được tôn trọng những khác biệt do giới tính tạo nên

(chăm sóc và giáo dục sức khỏe sinh sản cho nam giới cũng như phụ nữ).

4 Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm,

vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.

Gợi ý ví dụ: Có một số người cho rằng/nghĩ rằng:

- Phụ nữ không có năng lực lãnh đạo tốt bằng nam giới.

Trang 3

- Con gái là con người ta nên thường dành ưu tiên đầu tư cho con trai phát triển.

- Việc bếp núc là của phụ nữ, nam giới chỉ làm những việc quan trọng.

5 Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi

trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

Ví dụ: Các hành vi sau đây bị coi là phân biệt đối xử về giới:

- Hạn chế, không tạo điều kiện cho phụ nữ, trẻ em gái được đi học.

- Không tuyển dụng lao động nữ hoặc nam vì lý do giới tính mà gây nên bất bình đẳng cho nam hoặc nữ trong cơ hội có việc làm ( trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới hoặc đối với các nghề nghiệp đặc thù theo quy định của pháp luật ).

- Thực hiện hành vi lựa chọn giới tính khi sinh.

6 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới

thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực

và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được.

Ví dụ:

- Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội;

- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam để bảo đảm đạt đủ tiêu chuẩn chuyên môn và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật;

- Hỗ trợ, tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam để tăng cường sự chia sẻ giữa

nữ và nam trong công việc gia đình và xã hội phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới;

- Quy định nữ được quyền lựa chọn và việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có

đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam để bảo đảm bình đẳng giới.

7 Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề

giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh.

Ví dụ:

Trang 4

- Trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động, cơ quan soạn thảo đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật lao động đã điều chỉnh quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ.

- Luật Bảo hiểm xã hội có quy định về chế độ nghỉ chăm sóc khi con ốm của người lao động (trước đây quy định này dành riêng cho lao động nữ).

8 Hoạt động bình đẳng giới là hoạt động do cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân thực

hiện nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới.

Ví dụ:

- Tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho các đối tượng (áp dụng đối với cơ quan, tổ chức).

- Phân công, sắp xếp công việc gia đình để cả bé gái và bé trai đều được chăm sóc, học tập, vui chơi…như nhau (áp dụng cho gia đình và cá nhân).

- Tổ chức tập huấn riêng nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ nữ (áp dụng đối với cơ quan, tổ chức).

9 Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng

giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ.

Câu 2

Hỏi: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là gì? Nêu các biện pháp thúc đẩy

bình đẳng giới trên từng lĩnh vực (15 điểm) ?

Trả lời:

1 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng

giới thực chất, do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt

khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được (theo khoản 6 Điều 5 Luật Bình đẳng giới, khoản 1 Điều 14 Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới).

2 Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trên từng lĩnh vực

- Trong lĩnh vực chính trị: khoản 5 Điều 11 Luật Bình đẳng giới và khoản 1

Điều 16 NĐ 48/2009/NĐ-CP quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

Trang 5

+ Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

+ Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan

nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

+ Quy định về quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ;

+ Quy định tỷ lệ nữ cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan, tổ chức có từ 30% lao động nữ trở lên phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;

+ Quy định tỷ lệ nam, nữ thích hợp, nữ được quyền lựa chọn hoặc ưu tiên nữ khi

nữ đạt tiêu chuẩn như nam trong tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm;

- Trong lĩnh vực kinh tế: khoản 2 Điều 12 Luật Bình đẳng giới và khoản 2

Điều 16 NĐ 48/2009/NĐ-CP quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:

+ Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật;

+ Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

- Trong lĩnh vực lao động: Khoản 3 Điều 13 Luật Bình đẳng giới và khoản 3

Điều 16 NĐ 48/2009/NĐ-CP quy định về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

+ Quy định tỷ lệ lao động nam, nữ được tuyển dụng phù hợp với từng loại lao động theo ngành, nghề; quy định nữ được quyền lựa chọn hoặc ưu tiên nữ trong tuyển dụng khi nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam;

+ Quy định việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;

+ Quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ trong một số nghề, công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại;

+ Quy định việc khuyến khích các cơ quan, tổ chức hỗ trợ lao động nữ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi; tạo điều kiện cho lao động nam nghỉ hưởng nguyên lương và phụ cấp khi vợ sinh con.

Trang 6

- Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Khoản 5 Điều 14 Luật Bình đẳng giới và

khoản 3, 4 Điều 16 NĐ 48/2009/NĐ-CP quy định biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:

+ Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;

+ Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.

Câu 3:

Hỏi: Anh/chị hãy nêu những quy định về nội dung và mức xử phạt đối với

từng hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động? Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, chế độ nghỉ thai sản được quy định như thế nào? (15 điểm)

Trả lời:

1 Những quy định về nội dung và mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động

Điều 8 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới đã quy định về nội dung và mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động như sau:

1 Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc chênh lệch về mức tiền lương, tiền công của những người lao động có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính.

2 Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới hoặc đối với các nghề nghiệp đặc thù theo quy định của pháp luật;

b) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động nam hoặc lao động

nữ vì lý do giới tính, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ.

Trang 7

3 Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp đã bị xâm hại đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này.

2 Chế độ nghỉ thai sản được quy định trong pháp luật lao động hiện hành, gồm:

Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2012 và có hiệu lực từ ngày 1/5/2013, do đó, pháp luật lao động hiện hành được hiểu là Bộ Luật Lao động năm 1994 (sửa đổi,

bổ sung năm 2002).

- Điều 114 Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi năm 2002) quy định chế độ nghỉ thai sản như sau:

1 Người lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con, cộng lại từ bốn đến sáu tháng do Chính phủ quy định, tuỳ theo điều kiện lao động, tính chất công việc nặng nhọc, độc hại và nơi xa xôi hẻo lánh Nếu sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 30 ngày

Quyền lợi của người lao động nữ trong thời gian nghỉ thai sản được quy định tại Điều 141 và Điều 144 của Bộ luật Lao động.

2 Hết thời gian nghỉ thai sản quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có nhu cầu, người lao động nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thoả thuận với người sử dụng lao động Người lao động nữ có thể đi làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản, nếu đã nghỉ ít nhất được hai tháng sau khi sinh và có giấy của thầy thuốc chứng nhận việc trở lại làm việc sớm không có hại cho sức khoẻ và phải báo cho người

sử dụng lao động biết trước Trong trường hợp này, người lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản, ngoài tiền lương của những ngày làm việc.

- Khoản 1 Điều141 Bộ luật Lao động (sửa đổi năm 2002) quy định: Loại hình

bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn ở những doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức này, người sử dụng lao động, người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật này và người lao động được hưởng cácchế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thaisản, hưu trí và tử tuất.

Trang 8

- Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Lao động (sửa đổi năm 2002) quy định: Trong thời

gian nghỉ thai sản theo quy định tại Điều 114 của Bộ luật này, người lao động nữ

đã đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp bảo hiểm xã hội bằng 100% tiền lương và được trợ cấp thêm một tháng lương, đối với trường hợp sinh con lần thứ nhất, thứ hai.

Câu 4:

Hỏi: Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đặt ra

mục tiêu, chỉ tiêu nào nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị? Bằng hiểu biết của mình, anh/chị hãy nêu tên đầy đủ của các vị lãnh đạo nữ cấp cao hiện nay của Đảng, Nhà nước Việt Nam (gồm: Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các Bộ trưởng)? (15 điểm)

Trả lời:

1 Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đặt ra mục tiêu, chỉ tiêu nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị như sau:

Mục tiêu 1: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị.

- Chỉ tiêu 1: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ

2016-2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 - 2020 trên 35%.

- Chỉ tiêu 2: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm 2020 đạt trên 95%

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ.

- Chỉ tiêu 3: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 70% và đến năm 2020 đạt 100% cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có lãnh đạo chủ chốt là nữ nếu ở

cơ quan, tổ chức có tỷ lệ 30% trở lên nữ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

2 Tên đầy đủ của các vị lãnh đạo nữ cấp cao hiện nay của Đảng, Nhà nước Việt Nam (gồm: Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc

hội, Phó Chủ tịch nước, Chính phủ, các Bộ trưởng).

1 Bà Tòng Thị Phóng - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội nước

CHXHCNVN.

2 Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Bí thư TW Đảng, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ

Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCNVN.

Trang 9

3 Bà Hà Thị Khiết - Bí thư TW Đảng, Trưởng Ban Dân Vận TW.

4 Bà Nguyễn Thị Doan - Ủy viên TW Đảng, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa

XHCNVN.

5 Bà Trương Thị Mai- Ủy viên TW Đảng, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ

Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội.

6 Bà Nguyễn Thị Nương - Ủy viên TW Đảng,Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ

Quốc hội, Trưởng ban công tác đại biểu Quốc hội.

7 Bà Phạm Thị Hải Chuyền Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động

-Thương binh và Xã hội, Chủ tịch UBQG.

8 Bà Nguyễn Thị Kim Tiến - Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế.

Câu 5:

Hỏi: Từ những tình huống/câu chuyện thực tế trong cuộc sống xung

quanh mình, anh/chị hãy viết một bài (tối đa khoảng 1.500 từ) về tấm gương của cá nhân hoặc tập thể điển hình hoặc chia sẻ câu chuyện/sự kiện ấn tượng trong việc thực hiện bình đẳng giới (20 điểm)

Trong giờ dạy kèm Ngữ văn bồi dưỡng cho đứa em gái con người dì họ, tôi có ra

một đề văn biểu cảm như sau: “Cảm nghĩ về người thân trong gia đình của em” Tôi

hướng dẫn cho em hãy viét bãng cảm xúc thật của mình thì văn mới hay được Khi đọc và chấm bài văn của em tôi đã phải suy nghĩ và trăn trở rất nhiều, bởi bài văn là những tâm

sự, cảm xúc rất thật của em có liên quan đến vấn đề bình đẳng giới trong gia đình Sau đây tôi xin trích một đoạn văn trong bài viết của em:

“Em là con út trong một gia đình có bốn anh chị em Em có một người bố suốt ngày chỉ biết đi làm vài việc không đâu rồi lại về quát tháo khi không vừa lòng Hơn nữa, bố còn có thái độ “trọng nam khinh nữ” mà em là nữ nên bất cứ cái gì em cũng phải hứng chịu Cứ hễ em làm gì không vừa ý bố là bố lại nổi cơn giận dữ đuổi em ra khỏi nhà Vậy

mà anh trai của em luôn được bố nuông chiều Học hết lớp 7 anh đã bỏ học, anh mới 16 tuổi bố đã cho ngồi tiếp rượu với bố mỗi khi nhà có khách Bố còn cho anh đi xe máy lai

ba lai bốn, bị công an huyện bắt giữ, bố xuống nộp phạt và nhận xe về, vậy mà bố chẳng khuyên răn anh lấy một câu Mẹ em có góp ý bố lại nói: “Con trai nó phải thế, nó không

ăn cắp và nghiện hút là tốt rồi!” Em học ở trường Nội trú huyện thỉnh thoảng được về thăm nhà Các bạn cùng trường mỗi khi về nhà bạn nào có xe máy thì đều được bố xuống đón Vậy mà em chưa lần nào được bố đón cả, mặc dù bố có xe máy và chẳng bận việc gì

Trang 10

bố cũng không đón Bố thường nói: “Mày là con gái học nhiều cũng chẳng để làm gì, mày học để biết kí cái tên là được rồi, vài năm nữa tao gả chồng cho mày, mày lại làm dâu nhà người ta, tao chẳng nhờ được gì ở mấy đứa con gái chúng mày” Em đã nhiều lần nhẫn nhịn nhưng bố vẫn không thôi Cách đây gần một tháng em được nhà trường cho nghỉ về lấy áo rét Mấy hôm ở nhà bố liên tục mắng em, mà bản thân em cũng không biết bố mắng

em vì lí do gì Cũng như mọi lần em vẫn nhịn không cãi lại Nhưng đến trưa em bị đau bụng nên em không muốn ăn cơm, thế là bố cho rằng em không phục bố Lập tức bố quăng túi quần áo của em ra sân và đuổi em đi, mặc dù hai ngày nữa em mới phải xuống trường Khi lên trường em rất buồn chán Khi em đi, mẹ em đã khóc rất nhiều, phần vì bị bố mắng

là “không biết dạy con”, phần vì lo cho em Em rất thương mẹ nhưng không biết làm sao bây giờ? Em sẽ không bao giờ trở về ngôi nhà ấy nữa Em sẽ bỏ học để tự kiếm sống Em cảm thấy chán cuộc sống này vô cùng bởi nó thật vô vị ”

Ngay sau khi đọc bài văn của em, tôi đã khen em đã viết rất hay.Tôi và em đã tâm sự thật chân tình, với vai trò là một người chị, người đồng cảm giúp em chia sẻ để em vơi đi

nỗi buồn, có thêm nghị lực trong cuộc sống: Em ạ! Con người ta sinh ra không ai có thể

chọn cha mẹ cho mình Không may đấng sinh thành là người cộc cằn, vũ phu hay thậm chí

là kẻ tội đồ thì ta vẫn không thể chối bỏ mối dây phụ tử Bố em có thể là một người cha thô bạo, nhưng dẫu sao em vẫn là con đẻ của ông Theo chị em nên nghĩ đến mẹ và bỏ nỗi hận cha, trở về với gia đình Mình đã được sinh ra trên đời thì cần có nghị lực và học được chữ NHẪN (chữ “Nhẫn” ở đây bao gồm cả: nhẫn nhục và nhẫn nại), để không bị gục ngã trong bất kì hoàn cảnh nào, em ạ! Em đừng buông xuôi trong sự buồn chán mà nên suy nghĩ, xác định cho mình một hướng đi Em hãy hình dung mình sẽ là ai? Sẽ làm gì say này? Và một khi đã vạch ra kế hoạch tương lai rồi thì em cần gạt bỏ mọi khó khăn, tủi hận để đạt được mục đích Chỉ có thế, em mới thấy cuộc sống có ý nghĩa Chị mong em hãy sống độ lượng hơn với mọi người và có nghị lực hơn trong cuộc sống.

Sau những lời tâm sự rất chân tình của tôi cùng sự góp ý tế nhị của ba mẹ tôi đối với

bố của em mà mối quan hệ giữa hai cha con được cải thiện rõ rệt Em đã có nhiều tiến bộ

Ngày đăng: 05/03/2021, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w