Tổng hợp các lý luận, thừa kế kết quả từ các nghiên cứu trước đây có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài, tác giả bước đầu hình thành nên các thang đo lựa chọn các nhân tố tác độ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KIỂM TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP NHỎ VÀ VỪA TẠI THÀNH PHỐ
Trang 2NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KIỂM TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP NHỎ VÀ VỪA TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : Kế toán
Mã số ngành: 60340301
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN PHƯỚC
TP Hồ Chí Minh tháng năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh” là công trình của việc học tập và nghiên cứu thật sự nghiêm túc của bản thân Những kết quả nêu ra trong nghiên cứu này là trung thực và chưa từng được công bố trước đây Các số liệu trong luận văn nghiên cứu có nguồn gốc rõ ràng, được tổng hợp từ những nguồn thông tin đáng tin cậy
TP Hồ Chí Minh, tháng năm 2017 HỌC VIÊN THỰC HIỆN LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi đến quý Thầy Cô ở khoa Kế toán – Tài chính – Ngân hàng; Phòng Quản lý khoa học và Đào tạo sau đại học – Trường Đại học Công nghệ Tp.HCM; tất cả quý Thầy Cô đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Phước đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận văn Nếu không có những lời hướng dẫn tận tình của thầy thì tôi rất khó hoàn thiện được luận văn này
Mặc dù, tôi đã cố gắng rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn Nhưng do hạn chế về mặt thời gian cùng với việc thiếu kinh nghiệm trong nghiên cứu nên đề tài luận văn chắc chắn còn nhiều hạn chế và thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn nữa
TP Hồ Chí Minh, tháng năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 5TÓM TẮT
Hiện nay ở Việt Nam, hoạt động kiểm toán nhìn chung đã được đổi mới, tuy nhiên vẫn còn mang tính kinh nghiệm và chưa đảm bảo tính thống nhất Do vậy, chất lượng dịch vụ kiểm toán còn nhiều hạn chế, độ tin cậy không cao Chất lượng dịch vụ kiểm toán cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đề cập trong các giáo trình, đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết đăng tạp chí,…nhưng đến nay số lượng vẫn còn khá khiêm tốn và còn nhiều điểm khá khác biệt
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến CLKT để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao CLKT là hết sức cần thiết, đặc biệt là ở TP Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế của Việt Nam, nơi tập trung rất nhiều các công ty sử dụng cũng như cung cấp các dịch vụ kiểm toán thì việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởngđến chất lượng dịch vụ này lại càng cấp thiết
Tổng hợp các lý luận, thừa kế kết quả từ các nghiên cứu trước đây có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài, tác giả bước đầu hình thành nên các thang đo lựa chọn các nhân tố tác động đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh gồm 05 nhân tố: (1) Quy mô công
ty, (2) Giá phí kiểm toán, (3) Kiểm soát chất lượng từ bên trong, (4) Năng lực chuyên môn, (5) Đạo đức nghề nghiệp
Trong 5 nhân tố này thì nhân tố có sự ảnh hưởng mạnh nhất đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh là quy mô công ty (β= 0,352), tiếp đến là nhân tố giá phí kiểm toán (β=0,312), kiểm soát chất lượng từ bên trong (β=0,272), năng lực chuyên môn (β=0,264), và cuối cùng là đạo đức nghề nghiệp (β = 0,214)
Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đã đề xuất một số giải pháp có tác động trực tiếp đến các nhân tố ảnh hưởng chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí
Trang 6ABSTRACT
At present, in Vietnam, auditing activities have generally been reformed, but they are still experimental and not consistent As a result, the quality of auditing services is still limited and reliability is not high The quality of auditing services has also been studied by scientists and mentioned in scientific curricula, research topics, magazine articles, etc., but the numbers are still relatively modest and There are many differences
Prior to that situation, the study of factors affecting quality audit and assessing the impact of these factors on quality audit to develop solutions to improve quality audit is very necessary, especially In TP Ho Chi Minh - the economic center of Vietnam, where many companies use and provides audit services, the study of the factors affecting the quality of this service is more urgent
Synthesizing the theories, inheriting the results from the previous studies directly and indirectly related to the topic, the author initially formed the scale of selection factors affect the quality of service Auditing of small and medium independent auditing firms in Ho Chi Minh City consists of 5 factors: (1) firm size, (2) auditing fee, (3) internal quality control, (4) professional competence, (5) professional ethics
Among these five factors, the most significant influence on the quality of auditing services of small and medium independent auditing firms in Ho Chi Minh City was the firm size (β = 0.352), followed by The cost factor (β = 0,312), intrinsic quality control (β = 0.272), professional competence (β = 0.264), and finally professional ethics (β = 0.214)
From the above results, the author has proposed some solutions that have direct impact on the factors affecting the quality of auditing services of small and medium independent audit firms in Ho Chi Minh City
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Ý nghĩa của đề tài 3
7 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.1 Đề tài nghiên cứu nước ngoài 5
1.2 Các nghiên cứu trong nước 7
1.3 Nhận xét về các công trình nghiên cứu 9
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 11
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12
2.1 Tổng quan dịch vụ kiểm toán 12
2.1.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ và đặc điểm của dịch vụ 12
2.1.1.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ 12
2.1.1.2 Đặc điểm chất lượng dịch vụ 14
2.1.1.3 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng 16
2.1.2 Chất lượng dịch vụ kiểm toán 17
2.1.3 Phân loại kiểmtoán 18
2.1.4 Đặc điểm của kiểm toán 21
2.2 Kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán 22
2.2.1 Trách nhiệm của các đơn vị trong việc kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán 22
Trang 82.2.2 Nội dung kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán 24
2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng kiểm toán 25
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng dịch vụ kiểm toán 28
2.3.1 Quy mô của DNKT 28
2.3.2 Giá phí kiểm toán 29
2.3.3 Kiểm soát chất lượng từ bên trong 30
2.3.4 Đạo đức nghề nghiệp 31
2.3.5 Năng lực chuyên môn 33
2.4 Mô hình nghiên cứu 35
2.5 Lý thuyết nền 36
2.5.1 Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) 36
2.5.1.1 Nội dung lý thuyết 36
2.5.2 Lý thuyết hành vi dự định (TPB) 37
2.5.2.1 Nội dung lý thuyết 37
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.1 Thiết kế nghiên cứu 39
3.1.1 Nguồn dữ liệu 39
3.1.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.1.3 Quy trình nghiên cứu 39
3.2 Nghiên cứu sơ bộ 42
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu 42
3.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính và điều chỉnh thang đo 42
3.2.3 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 42
3.3 Nghiên cứu chính thức 46
3.3.1 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 46
3.3.2 Thu thập dữ liệu 46
3.3.3 Xử lý và phân tích dữ liệu 46
3.3.3.1 Phân tích mô tả 46
3.3.3.2 Kiểm định và đánh giá thang đo 46
3.3.3.3 Phân tích hồi quy bội 48
3.3.3.4 Xây dựng giả thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh 49 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 50
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
Trang 94.1 Thực trạng chất lượng dịch vụ kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán nhỏ và
vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 51
4.2 Phân tích và đánh giá độ tin cậy của thang đo: 53
4.2.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's alpha: 54
4.2.1.1 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Giá phí kiểm toán” 54
4.2.1.2 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Kiểm soát chất lượng từ bên trong” 55
4.2.1.3 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Đạo đức nghề nghiệp” 56
4.2.1.4 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Năng lực chuyên môn kiểm toán viên” 56
4.2.1.5 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Quy mô doanh nghiệp kiểm toán” 57
4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 59
4.2.2.1 Phân tích khám phá EFA cho biến độc lập 59
4.2.2.2 Phân tích khám phá EFA cho biến phụ thuộc “Chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại TP.HCM” 62
4.3 Phân tích hồi quy 63
4.3.1 Phương trình hồi quy tuyến tính 63
4.4 Kiểm định các giả thiết cần thiết trong mô hình phân tích hồi quy 66
4.4.1 Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa của các hệ số hồi quy 66
4.4.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 67
4.4.3 Kiểm định về phân phối chuẩn của phần dư 67
4.4.4 Kiểm định về tính độc lập của phần dư 68
4.5 Kiểm tra các giả định mô hình hồi quy bội 68
4.5.1 Kiểm định giả định phương sai của sai số (phần dư) không đổi 69
4.5.2 Kiểm tra giả định các phần dư có phân phối chuẩn 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 72
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
5.1 Kết luận 73
5.2 Kiến nghị về phía các công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán 73
5.2.1 Quy mô công ty 73
5.2.2 Giá phí kiểm toán 74
5.2.3 Kiểm soát chất lượng từ bên trong 75
5.2.4 Năng lực chuyên môn 76
5.2.5 Đạo đức nghề nghiệp 78
Trang 105.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 79KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 81TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp KTV Kiểm toán viên BCTC Báo cáo tài chính
KTĐL Kiểm toán độc lập
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh CLKT Chất lượng kiểm toán TTCK Thị trường chứng khoán DNKT Doanh nghiệp kiểm toán CMKiT Chuẩn mực kiểm toán VAS Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam KSCL Kiểm soát chất lượng
NHTM Ngân hàng thương mại CTKT Chất lượng kiểm toán BCKT Báo cáo kiểm toán GPKT Giá phí kiểm toán KSCLBT Kiểm soát chất lượng từ bên trong DDNN Đạo đức nghề nghiệp
NLCM Năng lực chuyên môn
UBCKNN Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Sự khác biệt giữa các loại hình kiểm toán theo chức năng 19
Bảng 2.2: Sự khác biệt giữa các loại hình kiểm toán theo chủ thể 21
Bảng 3.1 Thang đo hiệu chỉnh sau nghiên cứu định tính 43
Bảng 4.1 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Giá phí kiểm toán” 55
Bảng 4.2 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Kiểm soát chất lượng từ bên trong” 55
Bảng 4.3 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Đạo đức nghề nghiệp” 56
Bảng 4.4 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Năng lực chuyên môn kiểm toán viên” 57
Bảng 4.5 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Quy mô doanh nghiệp kiểm toán” 57
Bảng 4.6 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại TP.HCM” 58
Bảng 4.7: Hệ số KMO và kiểm định Bartlett các thành phần 60
Bảng 4.8:Bảng phương sai trích 60
Bảng 4.9 Ma trận xoay 61
Bảng 4.10: Hệ số KMO và kiểm định Bartlett các thành phần 62
Bảng 4.11: Phương sai trích 63
Bảng 4.12: Kiểm tra độ phù hợp của mô hình 64
Bảng 4.13: Bảng phân tích ANOVA 65
Bảng 4.14: Bảng kết quả hồi quy 65
Bảng 4.15: Kết quả chạy Durbin-Watson 68
Bảng 5.1: Bảng xắp sếp thứ tự quan trọng theo hệ số Beta của các yếu tố 73
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA) 36
Hình 2.2 Mô hình lý thuyết hành vi dự định TPB 37
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 41
Hình 4.1: Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy 69
Hình 4.2: Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chuẩn hóa 70
Hình 4.3: Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa 71
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động kiểm toán đã có lịch sử phát triển lâu dài và gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của loài người Để phục vụ cho nhu cầu đa dạng của xã hội, những lĩnh vực và loại hình kiểm toán khác nhau đã lần lượt hình thành, trong
đó hoạt động KTĐL là một trong những hoạt động rất phát triển trong nền kinh tế thị trường
Hiện nay ở Việt Nam, hoạt động kiểm toán nhìn chung đã được đổi mới, tuy nhiên vẫn còn mang tính kinh nghiệm và chưa đảm bảo tính thống nhất Do vậy, chất lượng dịch vụ kiểm toán còn nhiều hạn chế, độ tin cậy không cao Nhiều rủi ro lớn thực tế đã xảy ra nhưcác vụ bê bối tài chính liên quan đến kiểm toán như Gỗ Trường Thành, Vinashin, Bông Bạch Tuyết, Dược Viễn Đông,…ảnh hưởng lớn đến sự tín nhiệm của xã hội đối với nghề nghiệp kiểm toán Điều đó làm mất lòng tin của các nhà đầu tư cũng như các đối tượng sử dụng thông tin qua kiểm toán để đưa ra các quyết định kinh tế mà những hiện tượng này xảy ra một phần là do những hạn chế còn tồn tại trong chất lượng các cuộc kiểm toán
Chất lượng dịch vụ kiểm toán cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đề cập trong các giáo trình, đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết đăng tạp chí,…nhưng đến nay số lượng vẫn còn khá khiêm tốn và còn nhiều điểm khá khác biệt
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến CLKT để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao CLKT là hết sức cần thiết, đặc biệt là ở TP Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế của Việt Nam, nơi tập trung rất nhiều các công ty sử dụng cũng như cung cấp các dịch vụ kiểm toán thì việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởngđến chất lượng dịch vụ này lại càng cấp thiết
Trang 15Chính vì những lý do nêu trên tác giả chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh” để thực hiện luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh
- Mục tiêu cụ thể:
+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công
ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa
+ Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa
+ Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công
ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công
ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh?
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh thế nào?
- Các giải pháp nào nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán của các
công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Đề tài nghiên tại các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh
+ Về thời gian khảo sát được tiến hành từ tháng 06/2016 đến tháng 12/2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng hỗn hợp kết hợp giữa phương pháp định tính với định lượng
Trang 16- Để giải quyết vấn đề: xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ
kiểm toán, tác giả sử dụng phương pháp so sánh, tiếp cận hệ thống các lý thuyết nền
về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa Từ đó, áp dụng phương pháp tư duy, tổng hợp để chọn ra một quan điểm phù hợp các yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán
của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh, luận văn
sử dụng phương pháp nghiên cứu suy diễn – định tính Do hiện nay các nghiên cứu trực tiếp về xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa chưa có nên luận văn phải thừa kế những kết quả của các nghiên cứu khác trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài đồng thời suy diễn thêm một số nhân tố sao cho phù hợp với đặc điểm các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh để nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán tại các các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh
- Để đo lường mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch
vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí
Minh Luận văn sử dụng phương pháp định lượng thu thập dữ liệu thông qua điều
tra chọn mẫu, sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích hệ số tương quan và phân tích phương sai (ANOVA), sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA) để trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ nhất và thứ hai Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát thuận tiện và lấy ý kiến chuyên gia để thực hiện khảo sát
6 Ý nghĩa của đề tài
- Về mặt lý thuyết: Hệ thống hóa các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa
- Về mặt thực hành: thông qua kết quả xác định mức độ ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa, từ đó đề
Trang 17xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán
độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, phụ lục và tài liệu tham khảo, luâ ̣n văn gồm 5 chương sau:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứ u
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
- Chương 5: Kết luận và kiến nghi ̣
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Đề tài nghiên cứu nước ngoài
Tính đến nay, các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán là không nhiều, chủ yếu là do các nhà nghiên cứu nước ngoài thực hiện Theo tìm hiểu của tác giả, trong nước ít có một nghiên cứu chính thức nào về chủ đề này,
mà chỉ được đề cập trong các nghiên cứu về kiểm toán BCTC và các vấn đề có liên quan Trong các nghiên cứu từ nước ngoài, với quan điểm chất lượng kiểm toán được hiểu là khả năng KTV phát hiện và báo cáo về những sai phạm trọng yếu trong việc trình bày và công bố các BCTC của các khách hàng được kiểm toán (quan điểm của DeAgelo (1981), Palmrose, Z (1988), Bradshaw (2001) và đa số các nghiên cứu khoa học về kiểm toán) Theo đó, khi đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán, kết quả chỉ ra rằng, khả năng các KTV phát hiện được các sai phạm trọng yếu phụ thuộc vào nhiều nhân tố, đặc biệt là năng lực nghề nghiệp của KTV; còn khả năng báo cáo sai phạm phụ thuộc vào tính độc lập của KTV (trong đó có sức ép từ phía khách hàng được kiểm toán…) (Lam and Chang, 1994) Nhiều nghiên cứu điển hình khác ở nước ngoài về các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán được thực hiện bởi Mock & Samet (1982); Schroeder và cộng
sự (1986); Sutton & Lampe (1990); Carcello và cộng sự (1992), Aldhizer và cộng
sự (1995); Davis (1995); Behn và cộng sự (1997); Sucher và cộng sự (1998); Behn
và cộng sự (1999); Pandit (1999); Chen và cộng sự (2001); Francis, 2004; Augus Duff, (2004); Kym Boon (2007), Kym Boon và cộng sự (2008)… cũng đưa ra các kết luận về các nhân tố riêng rẽ hoặc từng nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán
Defond và Jambalvo, 1993 trong nghiên cứu về các nhân tố tác động đến chất lượng dịch vụ kiểm toán đã đưa ra quan điểm chất lượng kiểm toán phụ thuộc vào phí kiểm toán cũng đã được đưa ra Nghiên cứu này cho rằng, phí kiểm toán cao sẽ tạo thêm giá trị để KTV phát hiện các lỗi quản lý hoặc các sai phạm bất thường trong BCTC
Trang 19Francis và Wilson 1988, Becker và các cộng sự 1998 đã khảo sát các công ty
sử dụng và cung cấp dịch vụ kiểm toán trong nghiên cứu về chất lượng dịch vụ kế toán Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty kiểm toán có nhiều khách hàng hơn
sẽ thúc đẩy họ giữ gìn danh tiếng hơn và do vậy sẽ cung cấp chất lượng kiểm toán tốt hơn
Trong kết quả nghiên cứu “Dimentions of audit quality” của Angus Duff, University of Paisley (2004), các nhân tố quyết định tới chất lượng kiểm toán BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK được xem xét theo khía cạnh chuyên môn (technical) và dịch vụ (service) Kết quả chỉ ra rằng, các nhân tố thuộc các KTV/nhóm kiểm toán (như tính độc lập, năng lực, kinh nghiệm) và các nhân tố thuộc về công ty kiểm toán (như danh tiếng, qui mô, khả năng đáp ứng, dịch vụ phi kiểm toán) đều có ảnh hưởng quan trọng tới chất lượng kiểm toán
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán
“Compulsory audit tendering and audit quality evidence from Australian local government” của Kym Boon, đại học Macquarie (2007), cùng một nghiên cứu mở rộng với nhan đề “Audit service quality in compulsorry audit tendering- Preparer perceptions and satisfaction”, đã xác định 14 nhân tố thuộc về KTV và công ty kiểm toán như kinh nghiệm, khả năng chuyên sâu, ý thức, cam kết chất lượng của công
ty, qui mô công ty,…đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này tới chất lượng kiểm toán, qua đó đưa đến một kết luận quan trọng, nếu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán được đảm bảo thì cũng đảm bảo sự hài lòng của người sử dụng đối với chất lượng kiểm toán
Nghiên cứu của Jong Hag Choi và cộng sự (2010), “Audit Office Size, Audit Quality, and Audit Pricing” (A Journal of Practice & Theory, Vol 29, No.1, May,
pp 73-79) Nghiên cứu này điều tra về mối quan hệ của quy mô của DNKT và giá phí kiểm toán đến CLKT Tác giả đã sử dụng dữ liệu khảo sát được thu thập từ một mẫu lớn khách hàng của các DNKT từ năm 2000-2005 Kết quả khảo sát cho thấy quy mô của DNKT có ảnh hưởng đáng kể đến CLKT và giá phí kiểm toán Bên
Trang 20cạnh đó, nghiên cứu cũng cho rằng giá phí kiểm toán phụ thuộc vào quy mô công ty khách hàng, tính phức tạp và rủi ro của quá trình kiểm toán
Bài báo “Nghiên cứu kinh nghiệm về kiểm toán độc lập của Serbia”, (Biljana Jovković; Snežana Ljubisavljević; Vladimir Obradović, ECONOMIC ANNALS, Volume LVII, No 194 / July – September 2012, UDC: 3.33 ISSN: 0013-3264, DOI:10.2298/EKA1294041J) Bài báo đã nghiên cứu về các vấn đề như: Các dịch
vụ tổ chức kiểm toán độc lập cung cấp dịch vụ kiểm toán; Các lý do cần thiết phải kiểm toán độc lập; Các cơ quan có ảnh hưởng đến chất lượng của kiểm toán độc lập; Các lợi ích kinh tế của kiểm toán độc lập và những hạn chế vốn có của kiểm toán độc lập Từ đó, nhóm tác giả cũng đưa ra các gợi ý để bổ sung trong lý thuyết
và thực hành kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC nói riêng cũng như nâng cao nhận thức của các nhà quản lý ngân hàng về vai trò và tầm quan trọng của kiểm toán độc lập BCTC
Bài báo “Những yếu tố quyết định chất lượng kiểm toán độc lập của ngân hàng” (José Alves Dantas và Otavio Ribeiro de Medeiros – R Cont Fin – USP, São Paulo, v 26, n 67, p 43-56, jan./fev./mar./abr 2015) Nhóm tác giả đã nghiên cứu để xác định các yếu tố quyết định chất lượng cuộc kiểm toán độc lập đối với các tổ chức ngân hàng ở Bazil như việc đo lường chất lượng kiểm toán; Chất lượng thực sự và chất lượng được cảm nhận; Chất lượng KTV; Chất lượng thông tin; Trách nhiệm của KTV đối với lợi ích của quản lý; Các chuyên gia kiểm toán; Độ dài của hợp đồng giữa KTV và các tổ chức tài chính; Sự hiện diện của Ủy ban kiểm toán; Các phương pháp luận để đo lường chất lượng kiểm toán như mô hình tính toán chất lượng kiểm toán Proxy
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Luận án Tiến sĩ “Định hướng phát triển ngành KTĐL ở Việt Nam đến năm 2015” (Lê Hoài Phương, 2006) Tác giả Lê Hoài Phương đã đi sâu vào việc phân tích thực trạng môi trường hoạt động, thực trạng xây dựng và lựa chọn chiến lược hoạt động của ngành KTĐL ở nước ta Tác giả cũng chỉ rõ những thành tựu và một
Trang 21số hạn chế của ngành dưới ba phương diện: quản lý nhà nước, phương diện xã hội
và phương diện doanh nghiệp
Công trình nghiên cứu: “Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
KTĐL ở Việt Nam” - Đặng Đức Sơn & cộng sự (2011) – Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp cơ sở, Đại học Quốc gia Hà Nội
Công trình nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh hoạt động KTĐL Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển theo chiều sâu, môi trường cạnh tranh trong ngành Kiểm toán ngày càng cao đòi hỏi các DNKT Việt Nam cần có những động thái tích cực để có thể có đủ NLCT nhằm đạt mục tiêu tồn tại và phát triển bền vững
Luận án Tiến sĩ: “Xây dựng cơ chế KSCL cho hoạt động KTĐL tại Việt
Nam” - Trần Khánh Lâm (2011) - Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Đây là một
trong những nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực kiểm soát CLKT tại Việt Nam Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh tại Việt Nam và trên thế giới phát sinh nhiều sự kiện gây mất lòng tin đối với hoạt động kiểm toán như: Sự kiện Bông Bạch Tuyết, Dược Viễn Đông, Vinashin tại Việt Nam, Enron và Worldcom tại Mỹ, Parmalat ở Châu Âu Theo các Tác giả, một trong những nguyên nhân chủ yếu do thiếu cơ chế và thực thi về kiểm soát của cơ quan quản lý về CLKT Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận kết hợp với kinh nghiệm tại các quốc gia có nền KTĐL phát triển, bằng phương pháp nghiên cứu định lượng Tác giả đã thực hiện để khảo sát các KTV và BGĐ của các DNKT, để đưa ra các giải pháp xây dựng cơ chế KSCL phù hợp với đặc điểm riêng của Việt Nam
Luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của việc luân chuyển KTV đến chất lượng hoạt động kiểm toán BCTC tại VN” - Lâm Huỳnh Phương (2013) - Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Luận văn nghiên cứu mối quan hệ tuyến tính giữa CLKT BCTC (được đại diện bằng giá trị DA) và biến nhiệm kỳ của KTV, các biến kiểm soát như loại KTV,
tỷ số nợ trên tổng tài sản của công ty năm đó, tốc độ tăng trưởng về quy mô và dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty trong năm nghiên cứu Số liệu dùng
Trang 22để phân tích được thu thập từ BCTC của 39 công ty hiện đang niêm yết trên Sàn chứng khoán TP.HCM (HoSE) và Hà Nội (HNX) từ năm 2000 đến năm 2012 và được tổng hợp vào phần mềm Excel, sau đó được phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy nhiệm kỳ kiểm toán không có mối quan hệ với CLKT Bên cạnh đó, kết quả kiểm chứng về khoản thời gian luân chuyển 3 năm là chưa phù hợp cũng được tác giả chứng minh Do vậy, tác giả kiến nghị tăng thời gian luân chuyển KTV lên ít nhất là 5 năm nhằm tận dụng những am hiểu của KTV về khách hàng, qua đó nâng cao CLKT
Luận án Tiến sĩ:“Các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế” – Phan Văn Dũng (2016) Tác giả đã khám phá các nhân tố CLKT, NLCT và đo lường mức độ tác động của các nhân tố CLKT đến NLCT của DNKT; Qua đó, đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm góp phần nâng cao CLKT, NLCT của các DNKT Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết của DNKT Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Về các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành liên quan trực tiếp đến hướng nghiên cứu của luận án như: “Nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán độc lập đối với ngân hàng thương mại Việt Nam trong xu thế hội nhập”, Nguyễn Thị Minh Tâm, Tạp chí Kiểm toán, số 8, 2010, tr 57-61; “Một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán đối với ngân hàng thương mại, Trương Đức Thành, Tạp chí Kế toán & Kiểm toán, số 7, 2013, Tr 29-32…Những bài báo trên đây chỉ đề cập đến một vài khía cạnh cụ thể trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các NHTM, không mang tính toàn diện như mục tiêu nghiên cứu trong luận án của tác giả
1.3 Nhận xét về các công trình nghiên cứu
Qua các nghiên cứu nước ngoài và tại Viê ̣t Nam, các tác giả đã hệ thống quá trình nghiên cứu về kiểm toán báo cáo tài chính cũng như các nhân tố tác động đến chất lượng dịch vụ kiểm toán
Trang 23Trong các kết quả nghiên cứu, các nhân tố được xác định có thể mang tính kế thừa và phát triển mới, và mức độ quan trọng của các nhân tố tới chất lượng kiểm toán có thể khác nhau, tùy thuộc vào nhận thức của đối tượng mà nhà nghiên cứu thực hiện điều tra, khảo sát, cũng như địa điểm và bối cảnh thời gian của nghiêncứu Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán đã được bàn luận và đánh giá từ nhiều đối tượng khác nhau, như từ chính các kiểm toán viên (chủ thể kiểm toán), công ty khách hàng được kiểm toán (khách thể kiểm toán) hoặc từ phía những người sử dụng kết quả kiểm toán (những người quan tâm)
Đối với các nghiên cứu ngoài nước, thì chưa có nghiên cứu nào có bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam Còn đối với các nghiên cứu trong nước, mặc dù đã có những nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng dịch vụ kiểm toán, tuy nhiên chưa có những nghiên cứu sử du ̣ng phương pháp nghiên cứu đi ̣nh lượng với độ tin câ ̣y cao, có tính khách quan về ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trên quan điểm kế thừa và tiếp tục phát triển những công trình nghiên cứu trước đây, tác giả đã nghiên cứu theo hướng định tính kết hợp với định lượng đề tài:
“Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm
toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh” nhằm góp phần nâng cao chất
lượng dịch vụ kiểm toán và mở rộng thị trường dịch vụ kiểm toán tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung
Trang 24KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Chương này trình bày tổng quan về vấn đề nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán qua những nghiên cứu liên quan trên thế giới và ở Việt Nam từ đó làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu đồng thời giúp cho người đọc nắm được bức tranh toàn cảnh về các công trình nghiên cứu của các tác giả khác đối với các vấn đề có liên quan trực tiếp cũng như gián tiếp đến đề tài mà tác giả thực hiện Từ các nghiên cứu trước đây
đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán Ngoài ra, chương này cũng trình bày điểm khác biệt của đề tài với các nghiên cứu trước đây Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay vẫn còn là một vấn đề mới, tác giả sẽ kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính là định lượng để đề tài sát hơn nữa với thực tiễn
Trang 25CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Tổng quan dịch vụ kiểm toán
2.1.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ và đặc điểm của dịch vụ
2.1.1.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ
Chất lượng là một khái niệm quen thuộc, tuy nhiên khái niệm này luôn thay đổi và còn nhiều ý kiến chưa thống nhất
Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, đã đưa ra khái niệm: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay qúa trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan"
Từ khái niệm này có thể rút ra một số đặc điểm của chất lượng như sau:
o Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì lý
do nào đó mà không được chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà quản lý chất lượng hoạch định chính sách, chiến lược kinh doanh
o Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng
o Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, phải xét đến các đặc tính
có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên hữu quan, ví dụ: các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội
o Chất lượng có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những yêu cầu về chất lượng không thể miêu tả rõ ràng, người
sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong quá trình
sử dụng
o Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình
Trang 26o Khi nói đến chất lượng thì không thể bỏ qua các yếu tố như: giá cả và dịch vụ sau khi bán, thời gian giao hàng (đúng lúc, đúng thời hạn) - đó là những yếu
tố mà khách hàng nào cũng quan tâm sau khi thấy sản phẩm định mua thỏa mãn nhu cầu của họ
Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh Là một
“sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ Chính
vì vậy, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào hoàn chỉnh về dịch vụ
Theo V.A Zeithaml và M.J Bitner (2000) thì “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.”
Dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Chất lượng dịch vụ là một trong những yếu tố quyết định tính hiệu quả của dịch vụ cũng như việc tạo ra giá trị đóng góp cho nền kinh tế của quốc gia
Chất lượng dịch vụ được đánh giá phụ thuộc vào văn hóa, lĩnh vực, ngành nghề nên có rất nhiều định nghĩa khác nhau Tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu, môi trường nghiên cứu mà việc tìm hiểu chất lượng dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp Trong lịch sử phát triển, nhiều nhà cung cấp dịch vụ đã tìm thấy sự khác biệt của chính mình với các đối thủ và duy trì khách hàng của mình thông qua việc thực hiện chất lượng dịch vụ tuyệt hảo
Khách hàng chỉ có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và
sử dụng Chính vì vậy, các định nghĩa về chất lượng dịch vụ thường mang tính chủ quan, chủ yếu dựa vào thái độ, cảm nhận và khả năng hiểu biết của người sử dụng dịch vụ Qua quá trình tham khảo tài liệu, nhận thấy có một số khái niệm về chất lượng dịch vụ được nhiều soạn giả sử dụng Dưới đây tác giả trình bày một số khái niệm về chất lượng dịch vụ như sau:
Theo tác giả Lưu Văn Nghiêm, 2008 thì “Chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của
Trang 27khách hàng tốt đến đâu Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất”
Gronroos (1984) xem xét chất lượng dịch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh, đó là chất lượng kỹ thuật (nói đến những gì được phục vụ) và chất lượng chức năng (chúng được phục vụ như thế nào) Trong nghiên cứu năm 1998, Ông mô tả chất lượng dịch vụ nhận thấy được là sự khác nhau giữa chất lượng dịch vụ mong đợi và chất lượng dịch vụ nhận được
Parasurman, Zeithaml và Berry (1985,1988) (trích từ Nguyễn Đình Thọ và ctg.,2007) thì cho rằng “ Chất lượng dịch vụ là khoảng cách mong đợi về sản phẩm dịch vụ của khách hàng và nhận thức, cảm nhận của họ khi sử dụng qua sản phẩm dịch vụ đó.” Ông giải thích rằng để biết được sự dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ Việc phát triển một hệ thống xác định được những mong đợi của khách hàng là cần thiết, sau đó mới tạo một chiến lược chất lượng dịch vụ hiệu quả Đây có thể xem là một khái niệm tổng quát nhất, bao hàm đầy đủ ý nghĩa của dịch vụ khi xem xét chất lượng dịch vụ đứng trên quan điểm khách hàng, xem khách hàng là trung tâm
o Tính đặc trưng: Chất lượng dịch vụ là tổng thể những mặt cốt lõi nhất kết tinh trong sản phẩm dịch vụ tạo nên tính đặc trưng của sản phẩm dịch vụ Vì vậy, sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao sẽ hàm chứa nhiều “đặc trưng vượt trội” hơn so với sản phẩm dịch vụ cấp thấp Sự phân biệt này gắn liền với việc xác định
Trang 28các thuộc tính vượt trội hữu hình hay vô hình của sản phẩm, dịch vụ Chính nhờ những đặc trưng này mà khách hàng có thể nhận biết chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp này so với doanh nghiệp khác Tuy nhiên, trong thực tế, các đặc trưng cốt lõi của dịch vụ chỉ mang tính tương đối nên rất khó xác định một cách đầy đủ và chính xác
o Tính cung ứng: Chất lượng dịch vụ gắn liền với quá trình thực hiện/chuyển giao dịch vụ đến khách hàng Việc triển khai dịch vụ, phong cách phục
vụ và cung ứng dịch vụ sẽ quyết định chất lượng dịch vụ tốt hay xấu Đây là yếu tố bên trong phụ thuộc vào sự biểu hiện của nhà cung cấp dịch vụ Chính vì thế, để nâng cao chất lượng dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ trước tiên cần phải biết cải thiện yếu tố nội tại này để tạo thành thế mạnh lâu dài của chính mình trong hoạt động cung cấp dịch vụ cho khách hàng
o Tính thỏa mãn nhu cầu: Dịch vụ tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chất lượng dịch vụ nhất thiết phải thỏa mãn nhu cầu khách hàng và lấy yêu cầu của khách hàng làm căn cứ để cải thiện chất lượng dịch vụ Nếu khách hàng cảm thấy dịch vụ không đáp ứng được nhu cầu của mình thì họ sẽ không hài lòng với chất lượng dịch vụ mà họ nhận được Trong môi trường kinh doanh hiện đại, các nhà cung cấp dịch vụ phải luôn hướng đến nhu cầu khách hàng và cố gắng hết mình để đáp ứng các nhu cầu đó Xét trên phương diện phục vụ khách hàng, “tính thỏa mãn nhu cầu” đã bao hàm cả ý nghĩa của “tính cung ứng” Sở dĩ như vậy là vì chất lượng dịch vụ bắt đầu từ khi doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu của khách hàng đến khi tiến hành triển khai dịch vụ, nhưng chính trong quá trình thực hiện cung ứng dịch vụ mà khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng hay không và từ đó cảm nhận được chất lượng dịch vụ tốt hay xấu Nếu tính cung ứng mang yếu tố nội tại thì tính thỏa mãn nhu cầu lại bị chi phối bởi tác động bên ngoài nhiều hơn
o Tính tạo ra giá trị: Chất lượng dịch vụ gắn liền với các giá trị được tạo
ra nhằm phục vụ khách hàng Sẽ là vô ích và không có giá trị nếu cung cấp các dịch
vụ mà khách hàng đánh giá là không có chất lượng Doanh nghiệp tạo ra giá trị và khách hàng là đối tượng tiếp nhận những giá trị đó Vì vậy, việc xem xét chất lượng
Trang 29dịch vụ hay cụ thể hơn là các giá trị đem lại cho khách hàng, phụ thuộc vào đánh giá của khách hàng chứ không phải của doanh nghiệp Khách hàng đón nhận những giá trị dịch vụ mang lại và so sánh chúng với những gì họ mong đợi sẽ nhận được
Do đó, tính tạo ra giá trị là đặc điểm cơ bản và là nền tảng cho việc xây dựng và phát triển chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp
2.1.1.3 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách
hàng
Theo tác giả Philip Kotler (1991) thì “Sự hài lòng của khách hàng chính là trạng thái cảm nhận của một người qua việc tiêu dùng sản phẩm dịch vụ, về mức độ lợi ích mà một sản phẩm dịch vụ thực tế đem lại so với những gì người đó kỳ vọng”
Theo quan điểm của Bachelet (1995) thì “Sự hài lòng là phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng về một sản phẩm, dịch vụ dựa trên những kinh nghiệm cá nhân.”
Sự tồn tại của mọi ngành nghề kinh doanh chính là ở khách hàng “Khách hàng chính là thượng đế”, là người quyết định doanh số dựa trên mức độ hài lòng của họ về chất lượng sản phẩm dịch vụ mà họ sử dụng Vì vậy, phương châm hoạt động của các nhà cung ứng sản phẩm dịch vụ là phải thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và khi đó, khả năng họ tiếp tục mua “hàng” là rất cao
Thông thường các nhà kinh doanh dịch vụ thường cho rằng chất lượng dịch
vụ và sự hài lòng của khách hàng là đồng nhất Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khác cho rằng đây là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối liên hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau
Chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì doanh nghiệp đó bước đầu làm cho khách hàng hài lòng Do đó, muốn nâng cao sự hài lòng của khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ
Trang 30Chất lượng dịch vụ chỉ tập trung cụ thể vào những thành phần của dịch vụ nhưng nó là nguồn gốc quan trọng, là cái được tạo ra trước và sau đó quyết định đến
sự hài lòng của khách hàng Vì vậy, chúng ta có thể dùng sự hài lòng của khách hàng để đo lường chất lượng dịch vụ
2.1.2 Chất lượng dịch vụ kiểm toán
Theo Alvin A.Aen và James K.Loebbecker (1988) "Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập"
Theo định nghĩa của Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) "Kiểm toán là việc các KTV độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về BCTC"
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 (VSA 220) và Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế số 220 (ISA 220), “Chất lượng kiểm toán là mức độ thoả mãn
về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán đồng thời thoả mãn về mong muốn có được những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính, kế toán của đơn vị được kiểm toán với thời gian định trước và giá phí thích hợp” Chất lượng kiểm toán ở đây được hiểu trên khía cạnh mức độ thỏa mãn của đối tượng sử dụng các BCTC
Quan điểm này nghiêng về thực hành kiểm toán, được nhìn nhận dưới góc độ thỏa mãn người sử dụng dịch vụ Theo đó, để đánh giá chất lượng kiểm toán thì người ta quan tâm tới mức độ thỏa mãn về chất lượng dịch vụ kiểm toán với mức giá phí phù hợp của đối tượng sử dụng dịch vụ Mỗi góc nhìn khác nhau, quan điểm thỏa mãn được nhìn nhận và đánh giá khác nhau
Kiểm toán là một hoạt động đặc biệt, một loại hoạt động dịch vụ đảm bảo,
để các đối tượng sử dụng thông tin được kiểm toán an tâm, tin cậy về chất lượng dịch vụ xác nhận, tính trung thực, đúng đắn, hợp pháp, đầy đủ của thông tin đã được kiểm toán Giống như các hoạt động khác, kết quả kiểm toán phải đạt những tiêu chuẩn chất lượng nhất định Mặt khác, vì là dịch vụ xác nhận và đảm bảo phải
Trang 31cung cấp thông tin tin cậy, trung thực, khách quan để người sử dụng ra quyết định đúng đắn, nên yêu cầu chất lượng kiểm toán phải càng được đề cao Cơ quan kiểm toán cần phải đảm bảo cung cấp thường xuyên các kết quả kiểm toán chất lượng cao với chi phí hợp lý
2.1.3 Phân loại kiểmtoán
Xuất phát từ lịch sử ra đời và phát triển của kiểm toán, ban đầu kiểm toán giới hạn về đối tượng là kiểm tra, đánh giá tính trung thực và hợp lý của BCTC Cùng sự phát triển của xã hội và yêu cầu quản lý thực tiễn, các lĩnh vực phi tài chính, lĩnh vực hiệu quả và hiệu năng của hoạt động được quan tâm nhiều hơn, hình thành nên các hình thức và chủ thể kiểm toán đa dạng hơn
Căn cứ vào chức năng kiểm toán, có 3 loại:
- Kiểm toán báo cáo tài chính: KTV đưa ra ý kiến về tính trung thực
và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC đơn vị được kiểm toán
- Kiểm toán hoạt động: KTV kiểm tra và đưa ra ý kiến về tính kinh
tế, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ phận hoặc đơn vị được kiểmtoán
- Kiểm toán tuân thủ: KTV kiểm tra, đưa ra ý kiến về việc tuân thủ
pháp luật, quy chế, quy định mà đơn vị được kiểm toán phải thựchiện
Kiểm toán BCTC thường do các CTKT thực hiện để phục vụ cho các nhà quản lý, Chính phủ, các ngân hàng, nhà đầu tư Do đó, kiểm toán BCTC là hình thức chủ yếu, phổ cập và quan trọng nhất, thường chiếm 70- 80% công việc của các CTKT
Trên thực tế, hoạt động kiểm toán có thể đan xen cả 3 loại hình kiểm toán
Sự khác biệt của 3 loại hình kiểm toán được thể hiện trong bảng 2.1 như sau:
Trang 32Bảng 2.1: Sự khác biệt giữa các loại hình kiểm toán theo chức năng
Kiểm tra, đánh giá mức
độ chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ quản
lý, hay các quy định nào đó của đơn vị
kế toán; Báo cáo kết
quả hoạt động kinh
doanh; Báo cáo lưu
chuyển tiền tệ; Thuyết
minh BCTC
đa dạng: hệ thống kế toán, quy chế kiểm soát nội bộ; huy động, phân phối và sử dụng các nguồn lực; quy trình nghiệp vụ, sản xuất…
Việc tuân thủ pháp luật
Các văn bản liên quan như: luật, các nội quy,quy chế, thể lệ, chế độ…
Chủ yếu là KTV nhà nước, KTV nội bộ, ngoài
ra là KTV độc lập
Trang 33Chủ yếu phục vụ cho các cấp thẩm quyền có liên quan, các nhà quản
lý
Căn cứ vào tổ chức bộ máy kiểm toán, kiểm toán được chia 3 loại:
- Kiểm toán độc lập: Là công việc kiểm toán được thực hiện bởi các
KTV chuyên nghiệp, độc lập, làm việc trong các CTKT Kiểm toán độc lập là
loại hình dịch vụ nên được thực hiện khi khách hàng yêu cầu và đồng ý trả phí
thông qua ký kết hợp đồng kinhtế
- Kiểm toán nội bộ: Là công việc kiểm toán do các KTV của đơn vị
tiến hành Kiểm toán nội bộ chủ yếu để đánh giá về việc thực hiện pháp luật và
quy chếnội bộ; kiểm tra tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ và việc
thực thi công tác kế toán, tài chính của đơn vị
- Kiểm toán nhà nước: Là công việc kiểm toán được thực hiện bởi
các KTV làm việc trong cơ quan kiểm toán nhà nước, là tổ chức kiểm toán
chuyên nghiệp thuộc bộ máy hành chính nhà nước; thực hiện kiểm toán theo
luật định và kiểm toán tính tuân thủ, chủ yếu phục vụ việc kiểm tra và giám sát
của nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản của nhànước
Sự khác biệt của 3 loại hình kiểm toán phân loại theo tổ chức bộ máy
kiểm toán thể hiện trong Bảng 2.2 như sau:
Trang 34Bảng 2.2: Sự khác biệt giữa các loại hình kiểm toán theo chủ thể
Là hoạt động kiểm toán do các KTV nội
bộ của đơn vị tiến hành theo yêu cầu của ban lãnh đạo đơn
vị
Là hoạt động kiểm toán do cơ quan kiểm toán nhà nước tiến hành với các đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước Chủ thể
kiểm toán
KTV độc lập của CTKT, trình độ chuyên môn cao
Các KTV nội bộ của doanh nghiệp
KTV nhà nước là các viên chức nhà nước
Chi phí
kiểm toán
đơn vị được kiểm toán phải trả phí kiểm toán
Không có phí, các KTV nội bộ được
DN trả lương
Không phải trả phí,KTV được nhà nước trả lương
Kết quả
kiểm toán
Báo cáo với chủ doanh nghiệp và các bên yêu cầu
Báo cáo duy nhất với chủ doanh nghiệp
Báo cáo với chính phủ và các cơ quan chức năng
Giá trị
thông tin
Có độ tin cậy cao, phạm vi rộng cho mọi đối tượng
Rất thấp, chỉ có giá trị trong nội bộ doanh nghiệp
Có giá trị và độ tin cậy đối với nhà quản
lý
Khách thể
kiểm toán
Các đơn vị khi có yêu cầu
Các bộ phận trong phạm vi nội bộ DN
đơn vị sử dụng vốn, tài sản của nhà nước
Bên cạnh đó, còn có cách phân loại theo các tiêu chí khác như:
- Theo lĩnh vực kiểm toán: Kiểm toán các tổ chức bảo hiểm, kiểm toán
các tổ chức tín dụng, kiểm toán TTCK và các quỹ đầu tư, kiểm toán các lĩnh vựckhác
- Theo tính chất pháp lý: Hình thức kiểm toán bắt buộc và tựnguyện
2.1.4 Đặc điểm của kiểm toán
Trang 35Kiểm toán bao gồm các đặc điểm sau:
Đặc điểm về trạng thái của sản phẩm: Sản phẩm kiểm toán không tồn tại dưới hình thái vật chất, sản phẩm dịch vụ kiểm toán được hình thành qua việc thực hiện công việc kiểm toán, theo một quy trình cụthể
Đặc điểm về tính không tách biệt hay chia cắt của quá trình cung cấp dịch vụ: Quá trình cung cấp dịch vụ kiểm toán và quá trình tiêu dùng xảy ra đồng thời với sự tham gia của nhiều đối tượng và tuân thủ theo những quy trình nhấtđịnh
Đặc điểm không ổn định và khó xác định về chất lượng dịch vụ: CLKT khó
có thể quan sát, đo lường và tùy thuộc vào nhiều yếu tố CLKT không mang tính chất đồng đều và ổn định, do có sự khác biệt về khả năng, điều kiện và sự đánh giá của người sửdụng
2.2 Kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán
2.2.1 Trách nhiệm của các đơn vị trong việc kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán
Thứ nhất, Trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán để đảm bảo các hợp đồng dịch vụ kiểm toán đều được tiến hành phù hợp với chuẩn mực nghề nghiệp, pháp luật và các quy định có liên quan;
- Hàng năm, doanh nghiệp kiểm toán căn cứ vào quy trình kiểm tra trực tiếp chất lượng dịch vụ kiểm toán quy định, chuẩn mực nghề nghiệp, pháp luật và các quy định có liên quan để vận dụng vào việc tổ chức tự kiểm tra chất lượng dịch
vụ kiểm toán, có kế hoạch và biện pháp sửa chữa, khắc phục các tồn tại, sai sót phát hiện qua kiểm tra Khi kết thúc công việc tự kiểm tra, doanh nghiệp kiểm toán lập Báo cáo kết quả tự kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán theo mẫu quy định;
- Chậm nhất là ngày 31/5 hàng năm, các doanh nghiệp kiểm toán phải gửi Báo cáo kết quả tự kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán cho Bộ Tài chính Trường hợp doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán thì Báo cáo kết quả tự kiểm tra chất
Trang 36lượng dịch vụ kiểm toán phải được gửi đồng thời cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
- Ngoài việc gửi Báo cáo kết quả tự kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán nêu trên, các doanh nghiệp kiểm toán có trách nhiệm báo cáo khi có yêu cầu của Bộ Tài chính hoặc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (sau đây gọi chung là cơ quan kiểm tra) về hoạt động kiểm toán độc lập
Thứ hai, Trách nhiệm của Bộ Tài chính
Xem xét, đánh giá Báo cáo kết quả tự kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán để giám sát việc tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp, pháp luật và các quy định có liên quan của doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán viên hành nghề;
Thông báo danh sách doanh nghiệp kiểm toán được kiểm tra trực tiếp chất lượng dịch vụ kiểm toán hàng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán;
Huy động kiểm toán viên hành nghề và các chuyên gia có kinh nghiệm, chuyên môn phù hợp tham gia Đoàn kiểm tra và thành lập Đoàn kiểm tra tại các doanh nghiệp kiểm toán thuộc đối tượng kiểm tra của Bộ Tài chính;
Xây dựng, ban hành và cập nhật các tài liệu hướng dẫn kiểm tra để phục vụ cho việc kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán tại các doanh nghiệp kiểm toán thuộc đối tượng kiểm tra của Bộ Tài chính Tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm tra cho các thành viên tham gia Đoàn kiểm tra do Bộ Tài chính huy động;
Ra quyết định kiểm tra và tổ chức thực hiện việc kiểm tra trực tiếp tại các doanh nghiệp kiểm toán, ngoại trừ các doanh nghiệp kiểm toán đã được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trực tiếp kiểm tra;
Lập Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra và Báo cáo tổng hợp các sai phạm phát hiện qua kiểm tra đối với các cuộc kiểm tra trực tiếp định kỳ tại các doanh nghiệp kiểm toán thuộc đối tượng kiểm tra của Bộ Tài chính;
Xử lý sai phạm qua kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán theo thẩm quyền hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật;
Trang 37 Theo dõi, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các kiến nghị sau kiểm tra của doanh nghiệp kiểm toán và kiểm toán viên hành nghề thuộc đối tượng kiểm tra của Bộ Tài chính;
Tổ chức trao đổi, phổ biến, rút kinh nghiệm qua kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán hàng năm cho kiểm toán viên hành nghề và doanh nghiệp kiểm toán thuộc đối tượng kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán của Bộ Tài chính
Thứ ba, Trách nhiệm của Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán
Cử cán bộ có kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp tham gia Đoàn kiểm tra khi có yêu cầu của Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
Phối hợp với cơ quan kiểm tra xây dựng, cập nhật các tài liệu hướng dẫn kiểm tra trực tiếp chất lượng dịch vụ kiểm toán;
Phối hợp với cơ quan kiểm tra tổ chức tập huấn nghiệp vụ kiểm tra cho các thành viên tham gia Đoàn kiểm tra;
Phối hợp với cơ quan kiểm tra tổ chức trao đổi, phổ biến, rút kinh nghiệm qua kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán hàng năm cho kiểm toán viên hành nghề và doanh nghiệp kiểm toán;
Thực hiện kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán đối với các hội viên của mình theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán;
Chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các kiến nghị sau kiểm tra của các đối tượng được kiểm tra là hội viên của Tổ chức nghề nghiệp
về kiểm toán
2.2.2 Nội dung kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán
Kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toánbao gồm các nội dung sau:
- Kiểm tra việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách
và thủ tục kiểm soát chất lượng nội bộ của doanh nghiệp kiểm toán
- Kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng dịch vụ kiểm toán đã hoàn thành của doanh nghiệp kiểm toán và kiểm toán viên hành nghề
Trang 38- Kiểm tra tính tuân thủ các quy định khác của pháp luật về kiểm toán độc lập và pháp luật có liên quan, bao gồm:
Việc đăng ký và duy trì điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán;
Việc đăng ký và duy trì điều kiện hành nghề kiểm toán của kiểm toán viên hành nghề;
Việc thực hiện kiểm toán độc lập đối với đơn vị có lợi ích công chúng;
Việc thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán viên hành nghề và các nội dung khác có liên quan
- Giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm toán độc lập và pháp luật có liên quan theo quy định
2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng kiểm toán
Chất lượng kiểm toán bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán
- Mức độ thoả mãn về những đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính của đơn vị được kiểm toán theo đúng chế
độ chính sách của nhà nước cũng như các qui định riêng của đơn vị
- Báo cáo kiểm toán được phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong hợp đồng kiểm toán và chi phí cho dịch vụ kiểm toán ở mức độ phù hợp
Thứ nhất, Mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những người sử dụng kết quả kiểm toán
Tính khách quan, độc lập của kiểm toán viên là điều kiện trước hết để đảm bảo ý nghĩa và giá trị sử dụng của dịch vụ kiểm toán độc lập Ý kiến kiểm toán đưa
ra không làm tăng thêm lượng thông tin cho nhưng người sử dụng kết quả kiểm toán mà chỉ đảm bảo cho những đối tượng này về tính trung thực hợp lý của các báo cáo tài chính mà họ được cung cấp Sự đảm bảo này được chấp nhận và có giá trị
Trang 39bởi: (i) ý kiến kiểm toán được đưa ra bởi chuyên gia kiểm toán có đủ năng lực, trình
độ chuyên môn; (ii) tính độc lập, khách quan của ý kiến kiểm toán Những người sử dụng kết quả kiểm toán chỉ thật sự hài lòng và thoả mãn khi họ tin tưởng rằng ý kiến kiểm toán đưa ra dựa trên các cơ sở đó Để đánh giá được chỉ tiêu này, người ta xem xét tính tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp của kiểm toán viên và của công ty kiểm toán, điều này thể hiện khá rõ qua tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên trong quá trình thực hiện công việc kiểm toán Việc đánh giá đó cần bao quát các khía cạnh sau:
Đảm bảo tính độc lập, khách quan và chính trực
Kiến thức, kỹ năng kinh nhiệm của kiểm toán viên
Các phương pháp thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán
Công tác giám sát, quản lý cuộc kiểm toán
Các thủ tục soát xét, phát hành báo cáo kiểm toán
Các khía cạnh khác
Thứ hai, Mức độ thoả mãn về sự đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của đơn vị được kiểm toán theo đúng chế độ chính sách của nhà nước cũng như các qui định riêng của đơn vị
Mục tiêu chính của kiểm toán độc lập báo cáo tài chính là đưa ra ý kiến độc lập về tính trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính Do vậy ở chỉ tiêu thứ nhất là thể hiện sự thoả mãn về tính khách quan, độc lập và tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những người sử dụng kết quả kiểm toán thì ở chỉ tiêu này lại là sự thoả mãn của đơn vị được kiểm toán về giá trị gia tăng mà kiểm toán viên có thể cung cấp cho đơn vị Đối với các nhà quản lý đơn vị được kiểm toán, việc phát hiện và ngăn ngừa các sai sót trong quản lý tài chính, kế toán không phải lúc nào cũng hoàn hoản và kiểm soát được toàn bộ Do vậy báo cáo tài chính do đơn vị lập nên vẫn có thể có những sai sót trọng yếu do những hạn chế trong hệ thống kiểm soát của đơn
vị Trách nhiệm của các kiểm toán viên là phải đảm bảo rằng báo cáo tài chính đó không có sai sót trọng yếu, và nếu có kiểm toán cần chỉ ra những sai sót đó để đơn
Trang 40vị sửa chữa và điều chỉnh hoặc là cơ sơ cho việc không đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần Đó chính là cơ sở để các nhà quản lý đơn vị tin tưởng và đặt hy vọng vào những phát hiện và những kiến nghị đóng góp của kiểm toán viên theo đó có thể sửa đổi và đảm bảo rằng báo cáo tài chính của họ là trung thực và hợp lý Hơn nữa, thông qua những phát hiện và kiến nghị đóng góp của kiểm toán viên các nhà quản
lý đơn vị có thể hoàn thiện hệ thống kiểm soát của mình và nâng cao hiệu quả quản
lý tài chính kế toán của đơn vị
Mức độ thoả mãn của các nhà quản lý đơn vị đối với những đóng góp của kiểm toán không cụ thể hoá được bằng số lượng bởi có thể có hoặc có thể không có các phát hiện và kiến ghị góp ý hoàn thiện hệ thống kiểm soát của đơn vị mà chỉ có thể đánh giá ở sự hài lòng và đánh giá cao của các nhà quản lý doanh nghiệp về tính chuyên nghiệp và trách nhiệm của kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán
Thứ ba, Báo cáo kiểm toán được lập và phát hành theo đúng thời gian đã
đề ra trong thư hẹn kiểm toán và chí phí cho dịch vụ kiểm toán ở mức độ phù hợp
Một trong các yêu cầu của thông tin tài chính là tính kịp thời, các thông tin không được cung cấp đúng lúc sẽ trở nên không có giá trị sử dụng, đồng thời có thể gây nhiều khó khăn trong việc đưa ra các quyết định quản lý hoặc bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh Mặc dù kiểm toán không phải là kênh cung cấp thông riêng biệt, nhưng
nó là một khâu thẩm định trong hệ thống cung cấp thông tin Các thông tin tài chính
do đơn vị lập và được các kiểm toán viên, công ty kiểm toán kiểm tra và đưa ra ký kiến về tính trung thực hợp lý của các thông tin này trước khi chuyển cho những người sử dụng Do vậy mọi chậm trễ trong quá trình kiểm toán do nguyên nhân của việc tổ chức, giám sát quản lý cuộc kiểm toán thiếu hiệu quả hoặc bất cứ lý do gì khác từ phía công ty kiểm toán dẫn đến sự chậm trễ không theo đúng kế hoạch đặt
ra trong hợp đồng kiểm toán/ hay Thư hẹn kiểm toán đều làm ảnh hưởng đến uy tín
và giá trị của dịch vụ của công ty kiểm toán