1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 9

Cac doan trich trong Truyen Kieu tiep

3 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 8,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-Hai câu đầu giới thiệu toàn cảnh và cho biết trong ngày thanh minh có hai hoạt động chính: Một là “lễ” đi tảo mộ : mọi người đi thăm viếng, sửa sang phần mộ cho người thân; hai là “hộ[r]

Trang 1

CHỊ EM THÚY KIỀU

I/ VỊ TRÍ ĐOẠN TRÍCH

Đoạn trích thuộc phần mở đầu Truyện Kiều, giới thiệu gia cảnh Vương viên ngoại Đó là một gia đình trung lưu , có 3 người con Con trai út là Vương Quan và hai cô con gái là Thúy Kiều và Thúy Vân Đoạn trích gồm 24 câu ( từ câu 15 đến câu 38 ) nói về Chị em Thúy Kiều

II/ BỐ CỤC:

a/4 câu đầu : Khái quát về ngoại hình và cốt cách hai chị em Kiều

b/4 câu tiếp : Vẻ đẹp của Thúy Vân

c/16 câu còn lại : Vẻ đẹp của Thúy Kiều

III/PHÂN TÍCH ( Đọc và hiểu văn bản)

1/Đoạn trích kết cấu chặt chẽ thể hiện rõ trình tự miêu tả nhân vật tài tình của Nguyễn Du :

-Giới thiệu khái quát

-Tả Thúy Vân để làm nền tả Thúy Kiều

-Tả tài sắc vẹn toàn, hiếm có của Thúy Kiều

2/Vẻ đẹp của Thúy Vân : Ta thấy gì qua việc tác giả chọn trình tự “tả Vân trước rồi mới

tả Kiều" ?

Trước tiên tác giả chỉ nói khái quát Chỉ với “ Mai cốt cách, tuyết tinh thần” ông đã khái quát được vẻ đẹp chung ai cũng hoàn thiện, toàn mỹ (mười phân vẹn mười) tuy là “mỗi người một vẻ” với những tính cách rất riêng

Để làm việc này, tác giả đã dùng bút pháp ước lệ, tuợng trưng, lấy vẻ đẹp thiên nhiên để làm chuẩn mực so sánh gián tiếp với vẻ đẹp của Vân, Kiều ( mai ,mây, tuyết…)

Chỉ với 4 câu miêu tả ngắn gọn, ngòi bút thơ của Nguyễn Du làm hiển thị một Thúy Vân

từ khuôn mặt, nét mày, màu da, mái tóc đến nụ cười của một cô gái xinh đẹp, thùy mỵ, nết na, dịu dàng, đoan trang, phúc hậu và khiêm nhường Biện pháp tu từ ẩn dụ ước lệ, đặc biệt là các từ “trang trọng, đầy đặn, đoan trang, thua, nhường” đã phác hoạ ra một Thúy Vân phúc hậu, đẹp người đẹp nết và nhất là đã ngầm dự báo một tương lai sáng sủa của nàng

3/Vẻ đẹp Thuý Kiều :

Sau khi đã “chiêm ngưỡng” Thuý Vân “tài sắc vẹn toàn”như thế Ta càng ngưỡng mộ hơn “tài sắc Thuý Kiều” khi đọc đến “Kiều càng sắc sảo mặn mà So bề tài sắc lại là phần hơn” Thậm chí nếu tác giả không nói thêm một lời nào nữa thì qua Thúy Vân tuyệt sắc kia ta cũng có thể hình dung ra một Thuý Kiều “tài sắc tuyệt vời” như thế nào Cái dụng

ý của Nguyễn Du là ở chỗ này

Vẻ đẹp của Thuý Kiều ẩn chứa trong đôi mắt :

“Làn thu thủy, nét xuân sơn”

Ánh mắt trong xanh như làn nước mùa thu Lông mày xinh tươi như vẻ núi mùa xuân Nhan sắc đó đã làm cho hoa, liễu vô tri kia cũng muốn ganh tị, hờn ghen:

“Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Trang 2

Nhan sắc ấy đã làm cho tạo hoá phải ghét lây, các vẻ đẹp khác phải đố kỵ phải chăng để ngầm dự báo cho một tương lai u ám, đầy éo le đau khổ của Kiều ?

Không chỉ có thừa “chỉ số” về nhan sắc, Kiều còn là một cô gái thông minh và tài hoa rất mực:

“Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”

Đủ tài “cầm kỳ thi họa” Kiều lại còn là một hảo cầm thủ mà tuyệt xảo là khúc “ Bạc mệnh" mà nàng tự sáng tác ra:

“Cung thương làu bậc ngủ âm Nghề riêng ăn đứt, hồ cầm một trương Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”

Bằng lối tu từ ẩn dụ, ước lệ, thậm xưng, Nguyễn Du đã dựng nên một bức tranh tuyệt tác

về nhan sắc “nghiêng nước, nghiêng thành” của Kiều

Qua đoạn trích này, Nguyễn Du đã hết sức trân trọng đề cao vẻ đẹp một con người, một

vẻ đẹp hoàn thiện , hoàm mỹ Đây chính là một trong những biểu hiện của cảm hứng nhân đạo, nhân văn trong Truyện Kiều vậy

CẢNH NGÀY XUÂN

I/VỊ TRÍ ĐOẠN TRÍCH :

Đây là đoạn tiếp liền theo đoạn tả vẻ đẹp hai chị em Kiều.Đoạn này tả cảnh chị em Kiều

du xuân trong tiết Thanh minh Cũng là một lễ hội ngày xuân theo phong tục Trung Quốc

II/BỐ CỤC:

a/4 câu đầu : Tả cảnh ngày xuân

b/ 8 câu kế : Khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh

c/6 câu cuối : Chị em Kiều du xuân trở về

III/ ĐỌC VÀ HIỂU VĂN BẢN :

1/ Khung cảnh ngày xuân :

Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân :

“Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Ý câu đầu là ngày xuân qua đi nhanh như chiếc thoi dệt cửi do cái thoi thường làm giống như con chim én Nhưng cũng có thể hiểu là cảnh ngày xuân chim én bay lượn đầy trời như con thoi đưa ngụ ý tiếc nuối ngày xuân qua nhanh quá Như thế hai câu đầu vừa nói

về thời gian mà còn gợi tả không gian mùa xuân

Hai câu còn lại là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp

“Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Bát ngát trải rộng đến tận chân trời là thảm cỏ non tơ xanh rợn Đó chính là gam màu nền của bức tranh ngày xuân tươi đẹp Trên nền thảm cỏ xanh ấy điểm thêm vài bông lê trắng Màu sắc của bức tranh thật hài hòa Tất cả cho thấy ngày xuân ở đây thật mới mẻ, thanh tân, dạt dào sức sống trong một không khí trong lành, thanh thoát Từ “điểm” dùng

Trang 3

ở đây làm cho bức tranh thêm sinh động, có hồn.

Bốn câu trên có thể diễn xuôi :

Ngày xuân thắm thoát qua mau Mới đây mà đã qua sáu mươi ngày rồi Một màu cỏ non xanh rợn đến chân trời Trên nền thảm cỏ xanh ấy là cành lê với vài bông hoa trắng.

2/Khung cảnh lễ hội :

Tám câu thơ kế tả cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh

-Hai câu đầu giới thiệu toàn cảnh và cho biết trong ngày thanh minh có hai hoạt động chính: Một là “lễ” đi tảo mộ : mọi người đi thăm viếng, sửa sang phần mộ cho người thân; hai là “hội” Đạp thanh, nhân ngày “lễ” mọi người rủ nhau đi chơi xuân và bày ra nhiều trò vui chơi trên đồng đến nỗi cỏ xanh bị dẫn nát (nên còn gọi là hội Đạp Thanh) Trong các câu còn lại tác giả đã vận dụng khéo léo một loạt từ ghép làm cho không khí ngày xuân thêm nhộn nhịp, tưng bừng :

- Danh từ ghép : "yến anh, tài tử (giai nhân)" cho thấy sự đông vui nhộn nhịp trong ngày hội, rất nhiều người dự hội

- Động từ : "sắm sửa, dập dìu" gợi lên sự náo nhiệt, rộn ràng trong ngày hội

- Tính từ (ngữ)“gần xa nô nức” thể hiện rõ tâm trạng người dự hội Lối ẩn dụ trong ngữ

“nô nức yến anh” cho thấy người đi dự hội đông đúc, lũ lượt như chim én, chim oanh từng đoàn bay lượn Nó còn ngụ ý ám chỉ đối tượng chính trong “Hội” là những nam thanh nữ tú trong làng

- Qua cuộc chơi xuân của chị em Kiều, Nguyễn Du đã khắc hoạ hình ảnh một truyền thống văn hoá lễ hội xa xưa rất đẹp Trong ngày thanh minh khí trời mát mẻ, người ta sắm sang lễ vật để đi tảo mộ, thăm viếng, tưởng nhớ người thân đã quá cố, sắm sửa áo quần đẹp đẻ xênh xang để nhân đó mà dự hội làng như thông lệ mỗi năm có một lần 3/ Chị em du xuân trở về :

Cảnh vật, không khí mùa xuân trong sáu câu này so với mấy câu đầu đã có sự khác biệt Cái không khí rộn ràng náo nức của buổi sáng không còn Mọi thứ đều đã lắng xuống, nhạt dần Cảnh vật lúc này từ nắng cũng “nhạt” đi, khe suối nhỏ, nhịp cầu bắc ngang tuy vẫn giữ nét thanh diụ của mùa xuân với mọi chuyển động nhẹ nhàng, nhưng mặt trời ngả bóng về Tây, bước chân người thẩn thơ lưu luyến, tiếc nuối, dòng nước uốn quanh Nhưng tất nhiên thời gian khác thì không gian cũng khác Nếu cảnh trong bốn câu đầu là cảnh buổi sáng lúc lễ hôi mới bắt đầu thì ở đây là cảnh chiều tan hội Tâm trạng mọi người theo đó cũng khác hẳn Những từ láy “nao nao”, “tà tà”, “thanh thanh” đâu chỉ tả cảnh mà còn ngụ tình … Một cái gì đó lãng đãng, bâng khuâng, xuyến xao và tiếc nuối… Ngày vui nào rồi cũng qua, cuộc vui nào rồi cũng tàn Bởi lẽ "Sự vật chảy trôi không ngoái đầu nhìn lại Sự vật chảy trôi không quyền nào ngăn cản nỗi" ( R Tagore)

( Ghi chú : Đây chỉ là phần gợi ý để các bạn chuẩn bị bài Tùy theo kiến thức và khả năng

tư duy của mỗi người Các bạn giáo viên có thể phân tích sâu hơn Riêng các em học sinh, với những “phác thảo” này, các em có thể nghe lại thêm bài giảng của giáo viên và tổng hợp lại để có một cái nhìn sâu hơn, hiểu rõ hơn văn bản về mặt nghệ thuật dùng từ, miêu tả…)

Ngày đăng: 05/03/2021, 00:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w