1. Trang chủ
  2. » Ngoại ngữ

Ho tro day hoc tieng Viet

169 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 184,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuật ngữ của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới thường được xây dựng theo hai nguyên tắc: dựa vào bản ngữ và nhờ sự giúp đỡ của các ngôn ngữ khác. Dùng chất liệu của bản ngữ để cấu tạo t[r]

Trang 1

- Mặt nội dung ngữ nghĩa

Mặt nội dung của từ thuộc lĩnh vực tinh thần, chúng ta không thể dùng taihoặc mắt mà nhận ra được Mặt nội dung này còn được gọi là nghĩa của từ

Ví dụ, khi ta nghe người nào đó phát ra một âm (hoặc viết ra thành một chữ),

chẳng hạn như “núi” mà ta biết được âm đó (hay chữ đó) chỉ cái gì trong hiện thực,

thì điều này có nghĩa là ta đã hiểu được từ đó Nếu như ai đó phát âm sai hoặc viết

sai từ “núi” thì ta sẽ không hiểu người đó nói gì

Bởi vậy, khi nói chúng ta cần phải chính âm, nghĩa là phải phát âm sao chophù hợp với chữ viết để người khác nghe có thể hiểu được

Mỗi người có một chất giọng khác nhau vì thế không thể bắt người này phát

âm giống giọng của người khác Nhưng cũng không thể vì giọng khác nhau mà dẫnđến chỗ phát âm tùy tiện, muốn phát âm thế nào cũng được Trong lời nói, mỗi một

âm được phát ra có những đặc điểm nhất định về mặt cấu âm, khác với các âm khác

Vì vậy, khi phát âm người nói cần phải đảm bảo sự chính xác về mặt cấu âm đó

Khi nói tiếng Việt, người nói có thể có những sai sót nhất định khi phát âm.Những sai sót này chủ yếu là do:

- Người nói bị tật phát âm hoặc cơ quan phát âm

- Phát âm theo tiếng địa phương nên không phù hợp với ngữ âm chuẩn

Trang 2

Vì vậy, nhiệm vụ của việc luyện chính âm là vừa luyện phát âm sao cho đúngvới cách phát âm chuẩn trong khi đó vừa phải khắc phục lỗi do tật phát âm hoặc dophát âm địa phương gây ra.

2 Ngữ âm chuẩn và ngữ âm địa phương

a) Phân biệt ngữ âm chuẩn và ngữ âm địa phương

Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất Bất kì người vùng miền nào trên đấtnước Việt Nam nói, người ở vùng khác cũng có thể hiểu được Tuy nhiên, giữa cácvùng miền vẫn có những sự khác nhau nhất định trong cách phát âm và việc dùng từ.Chính sự khác nhau này đã tạo nên các phương ngữ Sự khác biệt trong phát âm củađịa phương so với tiếng nói chung tạo thành ngữ âm địa phương, còn sự khác biệttrong từ vựng của địa phương so với từ vựng chung tạo thành từ địa phương

Việc phân chia ngữ âm địa phương và ngữ âm chuẩn hiện nay còn nhiều vấn

đề chưa thống nhất Theo ý kiến chung của nhiều nhà nghiên cứu thì:

- Ngữ âm địa phương có thể chấp nhận cách phân chia thành 3 phương ngữ

chính: phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Trung Bộ và phương ngữ Nam Bộ

- Ngữ âm chuẩn là ngữ âm Bắc Bộ có bổ sung những yếu tố tích cực của các

Trang 3

+ r ((phương ngữ Bắc Bộ không phân biệt với d/gi)

+ tr ((phương ngữ Bắc Bộ không phân biệt với ch)

- Vần

Phát âm như phương ngữ Bắc Bộ, có bổ sung cách phát âm 2 vần của cácphương ngữ khác, như:

+ ưu (phương ngữ Bắc Bộ thường phát âm thành iu)

+ ươu (phương ngữ Bắc Bộ thường phát âm thành iêu)

II CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT

1 Thế nào là chính tả ?

Chính tả, hiểu theo nghĩa thông thường là “ phép viết đúng”

Đúng ở đây là đúng với truyền thống sử dụng chữ viết được xã hội thừa nhận,đúng với bản thân hệ thống văn tự của một ngôn ngữ Chính tả được xây dựng trên

cơ sở của những quy định mang tính xã hội cao, được mọi người trong một quốc giachấp nhận và sử dụng Những quy định đó thường là thói quen trong thực tiễn sửdụng chữ viết của một dân tộc, hoặc cũng có thể là do những cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền ban hành

Bản chất của chính tả là sự phiên tiếng thành chữ, là hệ thống các quy tắc xáclập các phương thức để chuyển lời nói sang chữ viết Mỗi ngôn ngữ có cách riêngtrong việc phiên âm thành chữ, hay nói một cách khác, mỗi ngôn ngữ có một hệthống chính tả riêng của mình Ví dụ chính tả tiếng Việt, chính tả tiếng Nga, chính tảtiếng Anh, tiếng Trung Quốc v.v

Nội dung của chính tả tiếng Việt bao gồm nhiều vấn đề, nhưng nổi lên là mấyvấn đề chính sau đây:

- Xác định các viết đúng cho các từ ngữ theo quy tắc của hệ thống chữ viếttiếng Việt, đặc biệt là việc xác định cách viết thống nhất cho các từ có những cách

phát âm giống nhau nhưng lại có cách viết khác nhau Ví dụ, dơ / giơ / zơ.

- Xác định và thực hiện các nguyên tắc viết hoa, viết tắt Ví dụ, viết Hà Nội hay viết Hà nội, viết Italia hay viết I-ta-li-a.

- Cách phiên chuyển tên riêng của nước ngoài, của các dân tộc thiểu số sống

trên đất nước Việt nam sang tiếng Việt Ví dụ, viết Krôngput hay viết Krông-put

- Cách sử dụng các dấu câu Ví dụ, viết “Ngày xưa có vợ chồng ông lão đánh

cá nghèo sống ở ven sông” hay viết “Ngày xưa, có vợ chồng ông lão đánh cá nghèo

sống ở ven sông”.

Trang 4

Những vấn đề trên có thể được tìm hiểu và giải quyết riêng biệt nhưng lạicũng có thể được xem xét và giải quyết trong mối quan hệ lẫn nhau, nhất quán theomột số nguyên tắc nhất định.

2 Nguyên tắc chính tả tiếng Việt

Chữ Việt hiện đại được xây dựng trên cơ sở ghi âm Vì vậy có thể nói nguyên

tắc cơ bản của chính tả tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là phát âm như

thế nào thì viết như thế nấy

Tiếng Việt là thứ tiếng không biến hóa hình thái Từ ở ngoài câu hay trongcâu đều được đọc và viết giống nhau, không có sự khác biệt nào Điều này làm chochính tả tiếng Việt đã đơn giản lại càng trở nên đơn giản hơn, tiện lợi hơn đối vớingười sử dụng Bởi vậy có thể nói rằng viết đúng chính tả tiếng Việt thực chất là viếtđúng theo cách phát âm phổ biến của tiếng Việt dựa trên cơ sở ý nghĩa của từ

Ví dụ:

- Khi ta nghe ai đó nói lạc lõng thì ta viết lạc lõng (không viết nạc nõng), khi

ta nghe nói dịu dàng thì viết dịu dàng (không viết dựu dàng), khi ta nghe nói uể oải thì viết uể oải (không viết uể ải), khi ta nghe nói no đói thì viết no đói (không viết

lo đói) v.v Vậy, khi viết chính tả tiếng Việt, việc viết đúng phần phụ âm đầu và

ngữ… Lỗi chính tả là loại lỗi do không viết đúng chuẩn chính tả của một ngôn ngữ.

Trang 5

3.1 Mắc lỗi do không nắm vững chính tự

Trong tiếng Việt, các nguyên nhân chính dẫn đến viết sai chính tả là do ngườiviết không nắm vững các quy tắc chính tả đã được quy định của tiếng Việt, do khôngthuộc cách viết cụ thể của mỗi từ (đã được cộng đồng thừa nhận và ghi trong từ điểnchính tả) và do ảnh hưởng thói quen phát âm của tiếng địa phương Nói một cáchkhác, lỗi chính tả ở đây là do người viết không nắm vững cách viết được coi làchuẩn, được xã hội thừa nhận mặc dù người viết có thể phát âm đúng Người viếtthường mắc lỗi là các trường hợp sau:

- Lỗi về phụ âm đầu (khi cùng một âm có nhiều cách viết), ví dụ:

+ gồ ghề viết thành ghồ gề + ghê gớm viết thành ghê ghớm + nguệch ngoạc viết thành nghuệch nghoạc + cạn kiệt viết thành kạn kiệt

- Lỗi về phần vần (khi đứng trước những vần phức tạp), ví dụ:

+ khuếch trương viết thành khuyếch trương + ngoằn ngoèo viết thành nguằn ngèo + quằn quại viết thành quoằn quại

- Lỗi về dấu thanh, ví dụ:

+ mãng cầu viết thành mảng cầu + nghỉ ngơi viết thành nghĩ ngơi + tĩnh mịch viết thành tỉnh mịch

- Lỗi do không nắm được quy tắc viết hoa, ví dụ:

+ Nguyễn Thị Minh Khai viết thành Nguyễn thị Minh Khai

+ Điện Biên Phủ viết thành Điện biên phủ

+ Italia viết thành I Ta Li A

3.2 Mắc lỗi do phát âm sai

- Phát âm sai phụ âm đầu mà viết sai, ví dụ:

+ lo lắng viết thành no nắng

+ thể dục viết thành thể rục

+ rách nát viết thành dách nát

- Phát âm sai phần vần mà viết sai, ví dụ:

+ rượu chè viết thành riệu chè

+ hươu nai viết thành hiêu nai

+ kính coong viết thành kính cong

Trang 6

- Phát âm sai thanh điệu mà viết sai, ví dụ

+ tan tác viết thành tang tác

+ cái đuôi viết thành cái đui

3.3 Một số giải pháp khắc phục lỗi chính tả

Để giải quyết vấn đề khắc phục lỗi rồi từ đó viết đúng chính tả, chúng ta cóthể nêu ra một số giải pháp sau:

a) Luyện tập phát âm đúng với cách viết chính tả

Mặc dù trong tiếng Việt chính âm chưa được xác định cụ thể, giọng nói giữacác vùng phương ngữ có những khác nhau về âm sắc, nhưng về chính tả thì vẫn

hướng tới một cách viết chung, thể hiện tính thống nhất của ngôn ngữ dân tộc Phát

âm đúng ở đây được hiểu là cách phát âm theo cách phân biệt đã được ghi nhận trong chính tả Ví dụ: người thuộc phương ngữ Bắc Bộ cố gắng phát âm phân biệt tr với ch, phân biệt r với d và gi Người thuộc phương ngữ Nam Bộ cố gắng phát âm phân biệt v với d, phân biệt thanh hỏi với thanh ngã… Một người phát âm đúng với

cách viết chính tả thì người đó sẽ viết đúng chính tả

Mặc dù phát âm đúng với chính tả là một công việc rất khó khăn, do bị cản trởbởi thói quen phát âm của cả một vùng, do phải nắm được cách viết đúng chính tảcủa từng từ ngữ đó Tuy nhiên trong trường tiểu học, giáo viên và học sinh phải luônluôn hướng tới một cách phát âm đúng với chính tả, nhất là ở các tiết dạy tập đọc, từngữ, tập viết và đặc biệt là chính tả Đây là một giải pháp quan trọng nhằm khắcphục lỗi chính tả của học sinh

b) Ghi nhớ cách viết của từng từ ngữ cụ thể

Ở trường tiểu học, thông qua môn Tiếng Việt các em đã được trang bị mộtvốn từ vựng ban đầu khoảng hơn 2000 từ và những quy tắc chính tả cần thiết để có

thể viết đúng tiếng Việt Nhưng từ vựng tiếng Việt hiện nay có tới gần 40.000 từ (Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản KHXH) thì muốn viết đúng chính tả một khối lượng

lớn từ ngữ lớn như vậy đối với mỗi người không phải là một công việc dễ dàng Vì

Trang 7

thế, viết đúng chính tả là một quá trình rèn luyện khổ công và lâu dài, thông qua hoạtđộng đọc và viết hằng ngày

c) Dùng mẹo chính tả

Có thể coi mẹo chính tả là những cách thức giản tiện, dễ nhớ về cách viết của

một số trường hợp chính tả cụ thể, do các nhà ngôn ngữ hoặc bản thân mỗi người tựđặt ra Mẹo chính tả giúp cho người viết dễ dàng tìm ra cách viết đúng một cáchnhanh nhất mà không cần phải tra cứu từ điển

Ví dụ 1: Mẹo láy âm để tìm ra cách viết dấu hỏi hay dấu ngã ?

Mẹo này dùng cho những người thuộc phương ngữ Trung Bộ và Nam Bộ,hay viết sai chính tả dấu hỏi với dấu ngã Mẹo được rút ra từ quy luật sau: trong các

từ láy 2 âm tiết thì thanh điệu của các âm tiết luôn luôn nằm cùng một nhóm, hoặc

cùng nhóm thanh điệu trầm (huyền, ngã, nặng) hoặc cùng nhóm thanh điệu bổng (ngang, hỏi, sắc) Cách sử dụng mẹo như sau:

- Khi người viết phân vân không biết viết từ đỏ mang thanh ngã hay thanh hỏi

thì dùng mẹo láy âm: đỏ -> đo đỏ, đỏ đắn Từ đó khẳng định: đỏ thuộc nhóm thanh

điệu bổng và được viết dấu hỏi

- Khi người viết phân vân không biết viết từ lẫy mang thanh hỏi hay thanh ngã

thì cũng dùng mẹo láy âm: lẫy -> lẫy lừng, lộng lẫy Từ đó khẳng định lẫy thuộc

nhóm thanh điệu trầm và viết dấu ngã

Ví dụ 2: Mẹo phân biệt viết -iêu hay -ươu ?

Mẹo này dùng cho những người thuộc phương ngữ Bắc Bộ, hay viết lẫn lộn

hai vần -iêu với -ươu (Ví dụ: uống rượu viết thành uống riệu) Bản thân chúng ta

cũng có thể rút ra được mẹo này, chỉ cần xem trong Từ điển chính tả tiếng Việt và

thấy rằng: vần -ươu chỉ xuất hiện trong các từ : chai rượu, cái bướu, con hươu, con khướu, con tườu Còn lại tất cả các từ khác đều được viết -iêu, không viết -ươu (tiêu biểu, kì diệu, đà điểu, hiểu biết, kiểu cách, cây liễu…) Cách sử dụng mẹo: chỉ cần nhớ trong tiếng Việt chỉ có 5 từ nói trên được viết -ươu, tất cả các từ còn lại ta đều viết -iêu.

Lỗi chính tả gặp phải ở mỗi người thường rất khác nhau (do khác nhau vềtrình độ kiến thức, về vốn từ ngữ, về ảnh hưởng của các phương ngữ…) Để khắcphục những lỗi chính tả nói trên, mỗi người phải dựa trên những nỗ lực riêng củamình, tìm ra và áp dụng những mẹo chính tả phù hợp

4 Chính tả tiếng Việt

Có thể chia việc luyện viết chính tả tiếng Việt thành nội dung:

Trang 8

- Luyện viết chính tả chữ thường

- Luyện viết chính tả chữ hoa

- Luyện viết chính tả chữ tắt

4.1 Chính tả chữ thường

Vì nguyên tắc chính tả tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học cho nên để viết

đúng chính tả, vấn đề chủ yếu là nghe như thế nào thì viết như thế nấy Tuy vậy, trên

thực tế để việc viết chính tả được nhanh hơn, có kết quả hơn, chúng ta có thể dựavào một số cơ sở khác nữa Dưới đây là một số cơ sở âý:

a) Dựa vào quy tắc chính tả

Để viết đúng chính tả cần phải học thuộc một số quy tắc chữ viết trong tiếngViệt Dưới đây là một số quy tắc cần nắm vững:

● ngh và ng

- Viết ngh khi đứng trước các nguyên âm i,ê,e, ví dụ:

nghi hoặc, nghề nghiệp, nghe ngóng, nghiêng ngả v.v.

- Viết ng khi đứng trước các nguyên âm khác, ví dụ:

ngỡ ngàng, ngơ ngác, ngu tối, ngọ nguậy, ngước mắt, ngắc ngứ v,v.

● gh và g

- Viết gh khi đứng trước các nguyên âm i,ê,e, ví dụ:

ghi nhớ, ghìm nén, bàn ghế, ghe đò, gói ghém, ghiền v.v.

- Viết g khi đứng trước các nguyên âm khác, ví dụ:

gà gô, lưng gù, gầm gừ, gò hàn, gờn gợn v.v.

● k, c và q

- Viết k khi đứng trước các nguyên âm i,ê,e, ví dụ:

kín đáo, kim chỉ, kế hoạch, kể lể, ê ke, cò kè, kiên trì, đao kiếm v.v.

- Viết c khi đứng trước các nguyên âm khác, ví dụ:

co giãn, cơ hội, cay cú, cá mè, mặc cả, cuốc xẻng, cô giáo v.v.

- Viết q khi đứng trước âm đệm, ví dụ:

quân đội, quản ca, quản lí, quá quắt, quanh co, đặc quánh v.v.

● Âm đệm (o hoặc u)

- Viết o khi đứng trước các nguyên âm a, ă, e, ví dụ:

hoan hô, hoán vị, hoạn nạn, hoen ố, xoen xoét, xoắn xuýt, xoay xỏa v.v.

- Viết u khi đứng trước các nguyên âm khác, ví dụ:

quấn quít, quân đội, quen biết, lãng quên, tuần lễ v.v.

b) Dựa vào một số mẹo chính tả

Trang 9

● Mẹo viết dấu hỏi (?) / ngã (~)

+ Dùng mẹo “ Mình nên nhớ là viết dấu ngã “ để viết đúng hỏi ngã cho từ

Hán Việt

Đối với từ Hán Việt, nếu các tiếng bắt đầu bằng những phụ âm m, n, nh, l, v,

d, ng (ngh) thì viết dấu ngã (~) Điều này có nghĩa là khi gặp một từ Hán Việt, không

biết viết dấu ngã hay hỏi thì ta sẽ viết ngã nếu từ đó có phụ âm đầu là: m, n, nh, v, l,

d, ng (ngh).

Ví dụ:

- Với m : mĩ mãn, mẫu tử, mẫn cảm, mĩ mãn, minh mẫn, mãn nguyện, cần

mẫn

- Với n : nỗ lực, truy nã, cân não, nữ tính, noãn bào, nữ công

- Với nh : nhẫn tâm, kiên nhẫn, nhãn hiệu, nhãn quan, nhiệm bệnh, an nhàn

- Với l : lão tướng, lễ phép, lỡ thời, lỗi lạc, lãn công, lãng tử, lễ nghi, truy lĩnh

- Với v : vững bền, vãng lai, văn võ, vĩ nhân, uy vũ, võ công, vô lại, vô trùng

- Với d : kiều diễm, dũng mãnh, giáo dưỡng, dã sử, diễu võ, dữ kiện, dưỡng

dục

- Với ng (ngh) : ngưỡng mộ, ngôn ngữ, ngũ hành, oan nghiệt, nghĩa khí

Có thể dùng mẹo để nhớ các phụ âm đầu này : mình (m) nên (n) nhớ (nh) là (l) viết (v) dấu (d) ngã (ng).

+ Dùng mẹo “Huyền ngã nặng, hỏi sao không sắc thuốc” để viết đúng hỏi

ngã cho từ láy

Đối với từ láy, các dấu thanh bao giờ cũng nằm cùng trong một nhóm:

huyền - ngã - nặng

không - hỏi - sắc

Theo mẹo này, trong từ láy, khi ta thấy còn băn khoăn không biết viết hỏi hay

ngã mà thấy tiếng kia đã là không dấu hoặc dấu sắc thì tiếng còn lại tất sẽ phải là dấu hỏi

Ví dụ:

- Không - hỏi : run rẩy, lẳng lơ, vơ vẩn, nhỏ nhẻ, ủ ê

- Sắc - hỏi : mát mẻ, rả rích, gửi gấm, nhí nhảnh, ngổ ngáo

Ngược lại, khi ta còn băn khoăn không biết viết hỏi hay ngã mà thấy tiếng kia

đã có dấu huyền hoặc dấu nặng thì tiếng còn lại tất sẽ là dấu ngã.

Ví dụ:

- Huyền - ngã : thẫn thờ, rõ ràng, ầm ĩ, bì bõm, bầu bĩnh, đẫy đà

Trang 10

- Nặng - ngã :quạnh quẽ, rực rỡ, nũng nịu, rực rỡ

● Mẹo viết phụ âm đầu d / gi

Sẽ viết d (mà không viết gi) khi đứng trước các vần oa, oă, uâ, oe, uê, uy

Đối với từ Hán Việt, có thể dùng một số mẹo sau:

+ Dùng mẹo “ dưỡng dục” để viết d

Nếu từ Hán Việt mang dấu ngã (dưỡng) hoặc dấu nặng (dục) thì viết d Ví

dụ, công diễn, dũng cảm, dĩ nhiên, dị dạng, dịch vụ, diện mạo.

+ Dùng mẹo “ giảm giá” để viết gi

Nếu từ Hán Việt mang dấu hỏi (giảm) và dấu sắc (giá) thì viết gi Ví dụ,

giảng văn, học giả, đơn giản, giả thuyết, gián tiếp, giá cả, giáo sinh, giới hạn.

● Mẹo viết phụ âm đầu ch / tr

- Viết ch trong những trường hợp:

+ Từ chỉ quan hệ họ hàng, gia đình Ví dụ: cha, chú, chồng, chị, cháu, chắt, chút, chít

+ Từ chỉ đồ dùng thường gặp trong gia đình Ví dụ: chai, chảo, chậu, chõng, chum, chĩnh, chiếu, chăn, chổi, chày, chén.

+ Từ chỉ ý phủ định Ví dụ: chưa, chẳng, chớ, chăng

- Viết tr trong những trường hợp:

+ Từ chỉ ý không có sự che đậy Ví dụ: trần truồng, trống trải, trơ trọi, trần trụi, trùng trục, trống trơn, trọc lốc.

+ Từ chỉ tính chất xấu Ví dụ: trâng tráo, trơ trẽn, trừng trộ, trợn trừng, trơ tráo, trơ trơ, trắng trợn.

● Mẹo viết phụ âm đầu s/ x

- Viết s trong một số trương hợp sau:

+ Từ chỉ trạng thái tốt : sáng suốt, sạch sẽ, sung sướng, sớm sủa, suôn sẻ, sốt sắng, sâu xa, sung túc.

+ Từ chỉ người, động vật, cây cối, đồ vât, hiện tượng thiên nhiên Ví dụ: sư, sãi, sứ thần; sên, sáo, sò, sếu, sấu; sim, sung, súng, sấu, si; sọt, siêu, sợi (dây); sấm, sóng, sao, sông, suối.

- Viết x trong một số trtường hợp sau:

+ Từ chỉ tên thức ăn: xôi, xúc xích, xá xíu, lạp xường

+ Từ chỉ sự nhỏ đi, sút đi, kém đi hoặc teo đi: xì, xẹp, xốp, xẹp, nhỏ xíu, sút (cân), sụt (lạng)

● Mẹo viết phần vần ăc / ăt và ăng / ăn

Trang 11

- Từ có vần ăc thường có nghĩa chỉ sự lung lay, dao động Ví dụ: lúc lắc,

- Từ có vần ăn thường chỉ sự cuộn tròn, không thẳng Ví dụ: quằn, xoăn,

xoắn, quăn, quặn, loăn xoăn, nhăn nhúm, nhăn nheo, ngoằn ngoèo

Ngoài các vần trên, còn có một số vần khác chúng ta cũng thường nhầmnhưng nhìn chung các vần đó chỉ xuất hiện hạn chế ở một số từ, vì vậy chúng ta cần

thuộc lòng Các vần: ươp, ươu, ưt, ưi, ưm là những vần như thế.

4.2 Chính tả chữ hoa

a) Những trường hợp cần viết hoa

● Viết hoa tên riêng của người, địa danh hoặc tên riêng của các tổ chức, các

cơ quan đoàn thể

(Hồ Chí Minh)

- Sau dấu chấm than, dấu chấm hỏi

Trang 12

Tí và Sửu đi qua một đám ruộng bí Tí chợt trông thấy quả bí to, nói rằng:

- Chà! Quả bí đâu mà to như thế kia!

Sửu có tính hay nói khoác, cười mà bảo :

- Thế đã lấy gì làm to Tôi đã từng thấy những quả bí to hơn nhiều

(Quốc văn giáo khoa thư)

● Mở đầu một dòng thơ (trừ khi tác giả sử dụng có mục đích riêng)

Ví dụ:

Đất nước mình đây

Hai mươi năm mưa, nắng, đêm, ngày

Hành quân không mỏi,

Sung sướng bao nhiêu: tôi là đồng đội

Của những người đi, vô tận, hôm nay.

(Chính Hữu)

● Với dụng ý tu từ

Ví dụ:

- Bàn tay con nắm tay Cha

Bàn tay Bác ấm vào da vào lòng

(Tố Hữu)

- Đi khắp thôn hoa, hoa xen kẽ với B.52 đầu Mĩ, cánh Mĩ, đuôi Mĩ, bánh (xe)

Mĩ, mui Mĩ, ghế Mĩ, xác Mĩ, thấy hình như vừa loé lên một hiện thực, rộ lên một đôi câu đối hàng ngày: CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH mà, dĩ nhiên, vế hoà bình vẫn

là tươi thắm hơn với một cách thật là vô giá.

(Nguyễn Tuân)

- Bác là người Ông Bác là người Cha Bác là nhà thơ Bác là nhà triết học Hoà bình ta có thể vẽ Bác buông cần câu trên một dòng suối thời gian Nhưng bây giờ dựng tượng Người, ta sẽ dựng tượng Hồ Chí Minh Người du kích Hồ Chí Minh.

Vị tướng Hồ Chí Minh Vị tư lệnh Người chỉ huy

Trang 13

Tên đơn : Thảo, Phương, Giang

Tên kép : Quý Thành, Quang Tuấn

Tên tự, bút danh : Tố Như, Thép Mới, Nam Cao, Tú Mỡ

Họ kép + tên kép : Trần Nguyễn Thuỷ Giang

Họ + tên đơn : Nguyễn Du, Lê Hoàn

Họ + lót + tên đơn : Nguyễn Thanh Tùng

Họ + tên kép : Nguyễn Hoài Giang

Họ + lót + tên kép : Phan Thị Thanh Nhàn

Họ + tên hiệu : Trần Hưng Đạo

Tên người nước ngoài phiên qua âm Hán Việt : viết hoa như cách viết hoa tênriêng người Việt nam Ví dụ :

Mao Trạch Đông, Lý Quang Diệu, Đặng Tiểu Bình

Kha Luân Bố, Nã Phá Luân, Mã Khắc Tư, Tư Địa Lâm

- Tên địa lí

Viết hoa các chữ cái đầu của tất cả các tiếng và không có dấu ngang nối Vídụ:

Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định

Bình Trị Thiên, Hà Nam Ninh, Cao Bắc Lạng

Đèo Khế, Cửa Ông, Mũi Ngọc, Hòn Gai

Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh, Hắc Hải

● Tên cơ quan, đoàn thể, tổ chức

Viết hoa chữ cái đầu tiên của tổ hợp tên riêng Nếu có tên người, tên địa lítrong tên của cơ quan, đoàn thể thì các tên này được viết theo qui tắc viết hoa tênngươi, tên địa lí

Ví dụ:

Bộ giáo dục và đào tạo

Nhà xuất bản giáo dục

Trang 14

Trường đại học sư phạm Hà Nội

Trường đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Trường tiểu học Chu văn An

Hội chữ thập đỏ thành phố Hà Nội

Nhà máy cơ khí Gia Lâm

Công ty trách nhiệm hữu hạn Phong Lan

● Tên riêng nước ngoài

- Phiên trực tiếp ra tiếng Việt theo quy tắc đọc thế nào viết thế nấy, viết códấu phụ , không có dấu thanh và có dấu ngang nối giữa các tiếng Những phụ âm

trong tên nước ngoài khác với phụ âm đứng cuối âm tiết của tiếng Việt m, p, n, t, ng,

k, nh, ch và hai bán âm i, u cần được âm tiết hóa bằng cách thêm vào sau phụ âm

một nguyên âm Riêng ở vị trí đầu âm tiết, có thể dùng các phụ âm kép tiếng nước

ngoài như cr, br, st, gr để phiên âm.

Ví dụ :

Lô-mô-nô-xôp, Mat-xcơ-va, Bu-đa-pet, Ap-ga-ni-xtan, In-đô-nê-xi-a

- Đối với những tên tổ chức, cơ quan nước ngoài: phần chỉ tên cơ quan theophương án dịch nghĩa và viết hoa theo quy tắc viết hoa tên cơ quan Việt Nam (nếu

có tên người hoặc tên địa lí thì viết hoa theo quy tắc tương ứng)

Ví dụ:

Viện hàn lâm khoa học giáo dục Nga

Trường đại học tổng hợp Mat-xcơ-va mang tên Lô-mô-nô-xôp

Đ.H.S.P phải đọc là đại học sư phạm (không đọc là đờ hờ sờ pờ)

U.B.N.D phải đọc là uỷ ban nhân dân (không đọc là u bê nờ dê)

Trang 15

- Có thể chỉ ghi lại chữ đầu của tiếng thứ nhất trong từ nhiều tiếng

Để thuận tiện cho việc phân biệt và sử dụng dạng tắt và từ tắt, chúng ta có thể

đặt dấu chấm giữa các yếu tố tắt trong dạng tắt ; còn giữa các yếu tố tắt trong từ tắt không cần dùng dấu chấm tách biệt từng yếu tố đó.

III MỘT SỐ LƯU Ý KHI DẠY HỌC CHÍNH ÂM, CHÍNH TẢ

1 Về việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo

Đề hình thành bất kì một kĩ năng, kĩ xảo nào - trong đó có kĩ năng, kĩ xảochính tả - thì cần phải rèn luyện thông qua hoạt động Kĩ năng, kĩ xảo là cái khôngthể dạy được mà chỉ có thể rèn luyện được thông qua hoạt động Thực tế của việcdạy học chính tả cho chúng ta thấy hoạt động này có thể được tiến hành theo haicách: cách hoạt động vô thức (cứ rèn luyện mãi mà có, không phải huy động trí lực)

và cách hoạt động hữu thức (hoạt động rèn luyện với sự tham gia có ý thức của chủthể hoạt động)

Theo cách vô thức (không có ý thức) việc thành thạo một hoạt động nào đó

chủ yếu là sự lặp lại một cách tự nhiên, máy móc hành động ấy mà không cần quantâm đến phương thức, cách thức thực hiện hành động Bằng cách lặp đi lặp lại nhiềulần một hành động, con người sẽ hình thành được những kĩ năng kĩ xảo tương ứngvới hoạt động đã rèn luyện Việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả hoàn toàn cóthể được hình thành bằng con đường này Học sinh rèn mãi, luyện mãi, và kết quả làcác em vẫn có thể viết đúng chính tả và hình thành được kĩ năng, kĩ xảo cần thiết mànhà trường đòi hỏi

Trang 16

Tuy nhiên, việc hình thành cho các em học sinh tiểu học kĩ năng, kĩ xảo chính

tả theo cách này thường mất nhiều thời gian, đòi hỏi tới mức tối đa sự ghi nhớ máymóc của học sinh và vì thế các em thường tốn nhiều sức lực, dẫn đến chỗ chóng mệtmỏi Việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả trong trường hợp này phụ thuộc nhiềuvào khả năng ghi nhớ máy móc của học sinh Khi viết chính tả, quên chữ nào, các

em thường viết sai chữ đó, nhớ chữ nào sẽ viết đúng chữ đó Ở đây, vai trò của ýthức đã bị gạt bỏ Với việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả theo cách này, việcviết đúng chính tả thường được quan niệm đơn giản là phải viết đúng mẫu, chépđúng mẫu, và về cơ bản không cần có sự tham gia của ý thức Học sinh muốn biếtmình viết đúng hay sai chính tả chỉ cần xem lại mẫu, đối chiếu với mẫu chữ đã viếthoặc tra từ điển mà không hề cần phải nắm vững bất kì một quy tắc chính tả nào

Theo cách hữu thức (có sự tham gia của ý thức), việc viết chính tả sẽ không

được tiến hành như vậy Các em không phải chỉ nhớ mẫu chữ hay thuộc mẫu chữmột cách máy móc như vậy Việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả cho học sinh

có thể đẩy nhanh hơn và có hiệu quả hơn bằng cách các em được giải thích trước vềquy tắc chính tả, hiểu được phương thức hành động trước khi hành động hoặc lặp đilặp lại một hành động nào đó

Các nhà tâm lí học đã chỉ ra rằng: kĩ xảo là các thành tố đã được tự động hoácủa hoạt động có ý thức trong quá trình thực hiện hoạt động đó Vì vậy, chúng tathấy rằng việc dạy cho học sinh viết đúng chính tả cần phải được tiến hành theo cách

có ý thức, tức là để hình thành kĩ năng, kĩ xảo, dạy học chính tả cần được bắt đầu từviệc giúp các em nắm vững các quy tắc, các mẹo luật chính tả Trẻ không thể nhớhết được cách viết đúng chính tả đối với từng từ riêng lẻ, khi mà số lượng các từ đạttới con số mà trí tuệ các em không thể nhớ nổi và chúng ta cũng không cần thiếtbuộc các em nhớ hết tất cả nếu như các em nắm được những quy tắc cơ bản nhất củachính tả Thực tế cho thấy rằng, nếu chúng ta không dạy học sinh các quy tắc chính

tả thì tự bản thân các em cũng tự rút ra cho mình những “quy tắc” theo nhận thứcriêng của từng em do việc tập viết, tập chép và ghi nhớ Tất nhiên những “quy tắc”này nhiều khi dẫn các em tới chỗ sai lầm, bới nó đi chệch khỏi những quy tắc chính

tả chung Tuy vậy, điều này cũng giúp chúng ta đi đến một sự khẳng định: việc hìnhthành kĩ năng, kĩ xảo chính tả cho học sinh - dù đó là những học sinh THCS - vẫncần phải theo cách có ý thức

So với việc dạy học chính tả vô thức, việc dạy học chính tả hữu thức có một

số điểm mạnh hơn:

Trang 17

- Trong dạy học chính tả hữu thức, do học sinh nắm được các quy tắc chính tảtrước khi luyện tập nên các em có khả năng viết đúng chính tả mà không phải đòihỏi sự ghi nhớ máy móc quá nhiều từ như trong dạy học chính tả vô thức.

- Vì nhớ quy tắc, nên khi viết chính tả hữu thức, trong những trường hợp nhấtđịnh, học sinh vẫn có thể suy luận để chọn ra cách viết đúng nhờ việc dựa vào sự đốichiếu, so sánh với quy tắc chính tả mà mình đã nắm được

- So với chính tả dạy học chính tả vô thức, việc dạy học chính tả hữu thức cóthể rút ngắn được một cách đáng kể thời gian hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả chohọc sinh

Chính vì những ưu điểm như vậy, trong việc dạy học chính tả hiện nay ởTHCS, con đường ngắn nhất, có hiệu quả nhất để hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho các

em là con đường dạy học chính tả theo cách có ý thức

Nhưng làm thế nào để giúp các em nắm được quy tắc chính tả một cách chủđộng? Theo ý kiến của nhà sư phạm Liên Xô cũ V.P Serementevaki thì “Quy tắc vàkhái niệm không đi trực tiếp từ đầu giáo viên sang đầu học sinh” mà việc nắm vữngquy tắc, khái niệm đòi hỏi một sự hoạt động tích cực trong nhận thức của các em Đókhông phải là việc học sinh học thuộc lòng các quy tắc chính tả mà là việc các emvận dụng các quy tắc chính tả vào hoạt động viết của bản thân

Vậy, để tạo ra được kĩ năng, kĩ xảo chính tả cho học sinh theo con đường có ýthức cần đảm bảo những điều kiện nào? Chúng ta có thể nêu lên một số điều kiện cơbản sau đây:

- Trước hết, giáo viên cần phát huy cao độ tính chủ động, tự giác của học sinhkhi tiếp thu tài liệu chính tả mới Tính chủ động này của các em thể hiện ở việc tậptrung, chú ý cao độ trong giờ học của các em Muốn vậy, người giáo viên cần cónhiều thủ pháp giảng dạy khác nhau để duy trì được sự hưng phấn của học sinh trongsuốt giờ học Chỉ khi hưng phấn, các em mới có được sự tập trung cao độ và khôngcảm thấy mệt mỏi trong giờ học

- Khi dạy chính tả, các em cần phải được biết nhiệm vụ và mục đích của bàihọc Điều cốt yếu là làm sao để học sinh không cảm thấy nhiệm vụ và mục đích đó

là do giáo viên áp đặt mà do chính bài học, do cuộc sống học tập của các em đòi hỏi

và đặt ra Có thực hiện được điều này, việc lĩnh hội và tiếp thu các quy tắc chính tảcủa các em mới trở thành nhu cầu của chính bản thân các em và đó cũng là cơ sở đểtạo hứng thú và duy trì sự chú ý cho học sinh trong suốt quá trình học chính tả

Trang 18

Từ những điểm vừa trình bày trên, chúng ta thấy rằng để hình thành kĩ năng,

kĩ xảo chính tả cho học sinh, giáo viên cần đi theo con đường dạy học có ý thức Đó

là con đường nhanh nhất, ngắn nhất và có hiệu quả nhất trong việc dạy học chính tả

ở trường phổ thông hiện nay

2 Một số điểm còn tồn tại trong chính tả tiếng Việt

Sự giao tiếp ngôn ngữ là một nhu cầu tất yếu của xã hội Sự giao tiếp này cóthể diễn ra ở dạng nói hoặc dạng viết Ở dạng nói, ta phải dùng âm thanh, dùng tiếngnói Ở dạng viết, ta phải dùng đường nét, dùng chữ viết Tiếng nói và chữ viết làcông cụ chung của xã hội, vì vậy người sử dụng phải tuân theo những quy tắc đượctoàn xã hội chấp nhận Tổng hợp các quy tắc chung được toàn bộ xã hội chấp nhận

và sử dụng về chữ viết đó (để ghi tiếng nói) được gọi là chính tả

Chính tả của một thứ tiếng thường tuân theo một vài nguyên tắc, trong đó cónhững nguyên tắc chính mang tính chất chủ đạo Trong chính tả, ta thường gặp banguyên tắc chính là: nguyên tắc ngữ âm học (hay còn gọi là nguyên tắc ghi âm),nguyên tắc hình thái học và nguyên tắc lịch sử

Chính tả theo nguyên tắc ngữ âm học là loại chính tả mỗi âm được ghi bằng

một chữ và mỗi chữ, ghi một âm Theo nguyên tắc này, cách đọc và cách viết thốngnhất với nhau, đọc như thế nào sẽ viết như thế nấy Trong những giờ chính tả theonguyên tắc ngữ âm, học sinh sẽ xác định cách viết đúng bằng việc tiếp nhận chínhxác âm thanh của lời nói Cơ chế của cách viết đúng là xác lập được mối liên hệ giữa

âm và chữ Nếu phân tích âm thanh chính xác và nhớ được bảng chữ cái, việc viếtđúng sẽ không quá khó khăn đối với học sinh Trong những trường hợp này, thườngquy tắc viết đúng chính tả được nêu lên là: hãy viết như đã nghe

Chính tả theo nguyên tắc hình thái học là loại chính tả dựa vào dạng gốc của

từ hay một yếu tố cấu tạo từ để viết cho đúng, không kể cách phát âm thực tế nhưthế nào Chính tả hình thái chỉ quy định cách viết của một số hình vị nhất định nênviệc phân tích bản chất ngữ pháp của các hiện tượng chính tả là quan trọng và cầnthiết (chỉ ra mối quan hệ giữa hình thức và nội dung ý nghĩa), trong khi đó cách phát

âm như thế nào lại không được chú ý

Chính tả theo nguyên tắc lịch sử là loại chính tả xác định chuẩn viết đúng dựa

vào cách phiên âm truyền thống hoặc xa xưa, không kể hiện tại phát âm như thế nào.Chính vì vậy trong chính tả lịch sử, không thể dựa vào âm thanh để xác định cáchviết Ở đây, để viết đúng chính tả theo nguyên tắc lịch sử, học sinh cần phải ghi nhớ

Trang 19

các từ Khác với chính tả ngữ âm coi mẫu âm thanh là quan trọng, chính tả lịch sử lạilấy mẫu thị giác làm chỗ dựa Muốn viết đúng chính tả cần phải nhớ đúng.

Chính tả tiếng Việt hiện nay, về cơ bản là chính tả ngữ âm học Do dựa vào

nguyên tắc ghi âm nên việc viết chữ và chữ viết tiếng Việt tương đối thuận tiện vàđơn giản Tuy vậy, trong chính tả tiếng Việt chúng ta cũng cần lưu ý một số điểm:

- Chính tả tiếng Việt dù là chính tả ngữ âm học nhưng vẫn không phải là dựahoàn toàn vào cách phát âm thực tế của một vùng nhất định nào Bởi lẽ, mỗi địaphương đều có những điểm chưa chuẩn trong cách phát âm, ví dụ:

+ Các địa phương Bắc Bộ, phát âm không chuẩn các phụ âm đầu vần như: tr/ch; s / x; l / n; r / d / gi

+ Các địa phương Trung Bộ phát âm không tách biệt được một số vần mang

thanh huyền, thanh sắc và vì vậy dẫn đến chỗ viết không chuẩn: quả ca (quả cà), con

ca (con cá)

+ Các địa phương Nam Bộ còn không phát âm chuẩn một số thanh điệu trong

khi nói năng, ví dụ như: mơ mang (mỡ màng), mi man (mĩ mãn)

- Trong chữ viết tiếng Việt còn một số bất hợp lí Ví dụ, cùng đọc là “ngờ”nhưng cách viết lại có chỗ khác nhau:

+ Viết ng trong các trường hợp: nga, ngân, ngúng nguẩy

+ Viết ngh trong các trường hợp: nghi, nghe, nghê

Cùng đọc là “cờ” nhưng lại có tới ba cách viết khác nhau:

+ Viết c trong: co, ca, cô

+ Viết k trong: quốc kì, kì lạ, kinh ngạc

+ Viết q trong: tổ quốc, quốc văn

Sự bất hợp lí này tồn tại ngay từ khi tiếng Việt bắt đầu xây dựng chữ quốcngữ và kéo dài cho tới tận hiện nay Sở dĩ như vậy bởi vì, việc xây dựng chữ quốcngữ của chúng ta được dựa theo chính tả của một số nước Tây Âu cách đây đã nhiềunăm mà đến nay hình thức ngữ âm đã khác xưa rất nhiều

- Chữ viết tiếng Việt được thể hiện tách rời từng âm tiết Mỗi âm tiết là mộtchữ, dù cho âm tiết đó có nghĩa hay không Mỗi âm tiết đều được mang một dấuthanh, vì vậy việc đánh dấu thanh ở chữ viết là điều bắt buộc đối với chính tả tiếngViệt Đánh dấu thanh sai, nghĩa sẽ sai

Ví dụ:

+ ba, bà, bá, bả, bã, bạ

+ cô, cồ, cố, cổ, cỗ, cộ

Trang 20

+ cha, chà, chá, chả, chã, chạ

- Mặc dù chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhưng trong thực tế củaviệc dạy chính tả cho học sinh, việc giúp học sinh nắm nghĩa của từ là điều hết sứccần thiết Trong những trường hợp cụ thể, việc nắm nghĩa của từ nhiều khi quyếtđịnh cách viết đúng

Ví dụ:

+ Khi giáo viên đọc một âm “quốc”, học sinh có thể viết là “quốc” hoặc

“cuốc”, nhưng khi đọc “quốc ca” hoặc “cầy cuốc”, chắc chắn các em sẽ viết đúng.

Bởi lẽ yếu tố đi cùng đã giúp các em hiểu nghĩa của chữ cần viết

+ Hoặc khi các em không chú ý nghe giáo viên đọc chính tả, các em có thể

viết là “cha” hoặc “tra”, nhưng nếu dựa vào yếu tố đi cùng với tiếng đó, các em sẽ viết đúng, ví dụ như: cha con, mẹ cha hoặc kiểm tra, thanh tra

Chính vì lí do này, có một số người cho rằng chính tả tiếng Việt còn là chính

Trang 21

Hãy phân tích cơ sở của việc lựa chọn cách viết âm đệm lúc viết u lúc viết o

trong các trường hợp dưới đây:

- quân đội, quán quân, quăn queo, quê quán, quyết chiến, thuyên chuyển, quyền lợi, quấy quá, quý mến, quyền quý

- loanh quanh, ngoay ngoáy, hân hoan, hoạn nạn, hoán vị, xoen xoét, xoắn xuýt, loằng ngoằng, ngoan ngoãn

con chai trẻ chung trung cuộc trung thuỷ trà đạp

trách cứ trạnh lòng trinh phu chinh nữ chưng dụng

ợ cấp khó khăn uyện ngắnnặng ĩu

đã úng tuyểnbao ùm

Trang 22

anh vẽ

bán ịu

âm chọcchần ừ

Đọc phân biệt tr / ch trong đoạn văn sau:

Trong sới chọi, đôi trâu khỏe ngang sức đang lừa miếng, bỗng hai cạp sừng rập vào nhau phát ra một tiếng kêu chát chúalàm người xem chói cả tai Chúng quần nhau làm bụi cuốn mù mịt Thật là một kháp cân xứng Bỗng con trâu Đồ Hải giở miếng “cáng” Con trâu Đồ Sơn chuyển thế đứng dọc, chân trước khuỵu xuốngđỡ đòn như một võ sĩ nhà nghề lão luyện Rồi nó trả đũa bằng một miếng đánh tạt ngang hiểm hóc, mang lại kết quả bất ngờ là con Đồ Hải bị toác đầu rất nặng Giữa tiếng reo hò náo nhiệt của vòng người xem đông nghìn nghịt, con Đồ Hải đã ở vào thế thua, muốn lảng ra Nhưng con Đồ Sơn chưa chịu buông, bổ tới chặn đường rút của đối thủ, lừa đối thủ vào sới chọi định tiếp tục đòn chí mạng.

lổ ra cuộc tranh luận

lăm mươi ngày lôn thốc lôn tháo lương nhờ cửa Phật

đã lên người

Bài tập 10

Điền n / l vào chỗ trống:

- trên những ẻo đường chiến tranh

- iên tiếp giành được thắng ợi

Trang 23

- mua được miếng thịt ạc

- ăn ăn hối ỗi

Đọc phân biệt l / n trong đoạn văn sau:

Dãy hàng lợn, người mua người bán phát vào tay nhau bèn bẹt để trả giá Những con lợn nằm trong rọ, bị trói chặt bốn chân nằm tơ hơ trên mặt đất bẩn thỉu, những con nái sề phơi hai hàng vú như hai hàng khuy trên chiếc áo nhem nhuốc, những chú lợn con kêu ré lên như bị chọc tiết, tất cả cái đám súc vật thảm hại ấy chẳng phù hợp chút nào với không khí mua bán hừng hực, những giọng quát tháo, những bộ mặt đỏ gay với những đôi mắt lấc láo Nhưng cái thói quen mua bán lợn như vậy đã có hàng trăm năm nay rồi, ở chợ làng tôi cũng như ở các chợ khác trong toàn vùng đồng bằng, thành thử người ta cứ vậy mà theo, chẳng bao giờ nghĩ là nó cần thiết hay không ( ) Tôi ngắm nhìn không biết bao nhiêu cuộc mua bán nơi chợ làng và thấy rằng người đi chợ, cả người mua lẫn người bán, hai bên liền đeo lên cho mình một cái mặt nạ.Nhưng khi cuộc mà cả chấm dứt thì họ liền quăng ngay cái mặt nạ xuống đất và cười với nhau một cách hồn nhiên như những đứa trẻ Thì ra, cái mặt nạ nào cũng vướng víu.

nâng cao năng xuất

đẩy mạnh suất khẩu

dư luận xôn sao

xa cơ lỡ vận

tóc buông sõa trước trán

xợi dây sích nói xen vào quanh quẩn só nhà

thật là xáng dạ con chim xáo ngã xấp mặt xóng to gió lớn sức khỏe suy xụp

Trang 24

ăn gió nằm xương

Đọc phân biệt s / x trong đoạn văn sau:

Các em, hôm qua chúng ta viết bài làm văn: Tan học về Bài lần này kết quả

ra sao? Chúng ta xem xét hai con số sau sẽ rõ Lớp chúng ta có 50 người, viết về việc tan học về dọc đường đã quên mình nhảy xuống nước cứu em bé chẳng may bị

sa chân ngã có tơí 20 người, viết về việc nhặt được túi tiền nộp cho công an có tới

21 người Các em hãy xem, làm gì có tới chừng ấy em bé nhằm vào lúc tan học về

để ngã xuống nước cho các xem xông vào cứu? Dọc đường làm gì có ngần ấy túi tiền cho các em cúi xuống nhặt? Thầy sống bằng này tuổi rồi mà trên đường đến trường hay về nhà, sao chẳng có được cái may mắn như các em, không một lần nhặt được túi tiền?

(Theo: Phương pháp biện luận)

● Luyện đọc - viết r / d / gi

Bài tập 17

Chữa lại những chữ viết sai r / d / gi trong các từ ngữ dưới đây:

dác dưởi bừa bãi

vấn đề thật rắc dối

dối như tơ vò

trống rong cờ mở

củ giong giềng tiếng trống róng dả

dành cho trẻ em

để rành để rụm tranh dành đất đai

Trang 25

- rong, dong, giong

- rương, dương, giương

Trang 26

Bài tập 21

Đọc phân biệt r / d / gi trong đoạn văn sau:

Gió bắt đầu thổi mạnh Bỗng cơn dông ùn ùn thốc tới Mây ở đâu từ dưới rừng xa đùn lên đen sì như núi, bao trùm gần kín cả bầu trời Gió thổi ngày càng mạnh, ầm ầm ù ù Cây đa cổ thụ , cành lá rậm xùm xòa đang quằn lên vật xuống Trời mỗi lúc một tối sầm lại Vũ trụ quay cuồng trong cơn gió mãnh liệt Những tia chớp xé rạch bầu ttrời đen kịt, phat ra những tiếng nổ kinh thiên động địa.

ăn nói huên thuyên chữ viết nghuệch ngoặc đầu óc chuyếnh chuáng

chữ viết nghuệch nghoạc que củi cong qoeo

huyênh hoang khoác lác cười nói nghoen nghoẻn đường đi ngoành nghoèo khuyếch chương thanh thế

Trang 27

- 10 từ có vần : ươu

- 10 từ có vần : oac

- 10 từ có vần : oat Bài tập 25

Điển yếu tố thích hợp vào chỗ trống:

- Mặt nhìn mặt càng thêm tươi Bên lời vạn phúc bên lời hàn

- Hài văn lần bước dặm xanh, Một vùng như thể cây cành dao

- Cửa ngoài vội rủ rèm the Xăm xăm băng lối vườn một mình

- Nhặt thưa gương giọi đầu cành, Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt

- Đoạn trường thay lúc phân kỳ!

làm lụng quần q

lam lũ q năm ướt lướt th

không chịu q gối chớp loằng ng

thắt lưng b bụng mặt mũi lem l

chạy cuống c

say lướt kh

no ph bụng r chè be bét chú h con

Bài tập 27

Trong số những từ dưới đây, hãy gạch đi những từ viết sai vần:

con mương - tấm gương - bương trải - say khước - tóm lượt - ngượt đãi - rắn nướt - hoa thược dượt - cái phướng - phưỡng phệ - sống buôn tuồng - quết liệt -trân tráo - xanh biêng biết - khóc lóc thống thiếc - ngất nghuểu - nguyệch ngoạch - dai ngoắt - bước nghoạch - ăn nói quá quách - xây dựng thành quách - dáng lình khuỳnh - con ngóa ộp - hũ riệu - nằm sóng sược - rác rưởu - ngúng ngoẩy

Bài tập 28

Trang 28

Hãy đọc viết đúng các tiếng dưới đây :

- ăng : băng, căng, chăng, ngoằng, nhằng, rằng, quẳng, vẳng, quặng,

rặng

- ăp : chắp, cắp, nhắp, quắp, cặp, quặp, đắp, ắp, tắp, thắp

- ăt : bắt, cắt, oắt, phắt, vắt , chặt, ngặt, ngoặt, vặt, ngắt, oặt, thoắt,

khắt

- âc : bấc, cấc, gấc, nấc, ngấc, tấc, xấc, bậc, chậc, giấc, nhấc

- oong : loong koong, kính koong, ba toong, nồi soong, choòng

- ooc : coóc, moóc, soóc, phoóc

- ươp : cướp, mướp, tướp, chượp, nượp

- ươu : hươu, bướu, khướu, tườu, rượu

● Luyện đọc – viết dấu thanh

bụ bâm lõng bong bao táp đằng đăng bây chuột lõm bom cống ranh hoa bươi

từ ngư đủng đinh

cu nát cưa ngõ đinh đạc

đơ đầu tục ngư chính phu phô thông nghiêng nga

Trang 29

Hãy giải thích các trường hợp được viết hoa dưới đây

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa, Kìa em xiêm áo tự bao giờ,

Khèn lên man điệu nàng e ấp, Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

(Quang Dũng)

Bài tập 32

Hãy giải thích những trường hợp viết hoa được dùng trong đoạn thơ sau:

Vui sao một sáng tháng Năm Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ.

Suối dài xanh mướt nương ngô Bồn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn.

Bác kêu con đến bên bàn Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ.

(Tố Hữu)

Bài tập 33

Chữa lại những trường hợp viết hoa không đúng :

- Lê hồng Phong, Trần Phú, Nguyễn văn Huyên, Lê Thánh tông Quang Trung, Hưng đạo vương

- Các Mác ; Ăng-Ghen ; Giu-li-ut Phu-xich

- Hà Nội, Đà nẵng, Hải Phòng, Nha trang, Cần thơ, An Giang

- Mạc - Tư - Khoa, Bắc Kinh, Plây-Cu, Công Pông Chàm, In Đô Nê Xi A

Bài tập 34

Chữa lại những trường hợp viết hoa không đúng:

- Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

- quốc hội nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa

- bộ Giao thông vận tải

Trang 30

- Viện khoa học Công nghệ và Môi trường

- Viện Nghiên Cứu Máy

- Trường Tiểu học Đống Đa

- Trường phổ thông trung học Chu văn An

- Xí nghiệp đóng tàu bạch đằng

- công ty trách nhiệm hữu hạn Trần Phương

- Hội Phụ nữ Việt nam

- Hội Sinh Viên Việt Nam

- Trường đại học Sư Phạm mang tên Lê Nin -Trường đại học Nông nghiệp Hôxê Mácti

Trang 31

Từ là một tín hiệu ngôn ngữ bao gồm hai mặt: mặt hình thức (âm thanh, chữ viết) và mặt nội dung (nghĩa, ý nghĩa) Từ có tính độc lập về mặt ngữ pháp, nghĩa là

từ có thể hoạt động độc lập trong câu Từ được sử dụng một cách nguyên vẹn, hoànchỉnh trong mọi lời nói khác nhau Từ là một đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ

Ví dụ, từ mặt trời được dùng nguyên vẹn, hoàn chỉnh, không thay đổi trong

những cấu tạo câu khác nhau:

- Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

(Viễn Phương)

- Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ

Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn

(Chế Lan Viên)

- Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi

Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng

(Nguyễn Khoa Điềm)

- Kìa mặt trời Nga bừng chói ở phương đông

Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt

(Chế Lan Viên)

1.2 Phân loại

a) Xét về mặt phạm vi sử dụng

Xét về mặt phạm vi sử dụng, từ tiếng Việt được có thể được chia ra thành ba

nhóm chính: từ toàn dân, từ địa phương và thuật ngữ

Trang 32

Từ toàn dân

Từ toàn dân là vốn từ chung cho tất cả những người nói ngôn ngữ đó, thuộccác địa phương khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau Đây chính là lớp từ cơbản, lớp từ quan trọng nhất của mỗi ngôn ngữ Có thể nói, từ toàn dân là hạt nhân từvựng, làm cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ, không có nó ngôn ngữ không thể cóđược, và do đó cũng không thể có sự trao đổi, giao tiếp giữa mọi người Về mặt nộidung, từ toàn dân biểu hiện những sự vật, hiện tượng, những khái niệm quan trọng

và cần thiết nhất trong đời sống

Chẳng hạn, những từ chỉ hiện tượng thiên nhiên như: mưa, nắng, núi, sông, bão, gió,…; những từ chỉ bộ phận cơ thể con người như: đầu, cổ, mắt, mũi, chân,…; những từ chỉ sự vật, hiện tượng gắn liền với đời sống: cày, cuốc, kim, chỉ, nhà,…; những từ chỉ tính chất của sự vật: đỏ, đen, dài, ngắn, tốt, …; những từ chỉ những hoạt động thông thường: đi, đứng, nói, cười,…

Từ toàn dân là bộ phận nòng cốt của từ vựng văn học Nó là vốn từ cần thiếtnhất để diễn đạt tư tưởng trong mỗi ngôn ngữ Từ toàn dân đồng thời cũng là cơ sở

để cấu tạo các từ mới, làm giàu cho vốn từ của ngôn ngữ nói chung Đa số các từthuộc lớp từ toàn dân là những từ trung hòa về phong cách, tức là chúng có thể đượcdùng trong các phong cách chức năng khác nhau

Từ địa phương

Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địaphương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ dân tộc Khidùng vào sách báo, nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ Có thểthấy một số kiểu từ địa phương như sau:

- Từ địa phương không có sự đối lập với từ vựng toàn dân Đó là những từbiểu thị những sự vật, hiện tượng, những hoạt động, cách sống đặc biệt chỉ có ở mộtđịa phương nào đó chứ không phổ biến đối với toàn dân, do đó không có từ song

song trong ngôn ngữ văn học toàn dân Ví dụ, các từ: sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, chao, tàu ki,… là các từ địa phương biểu thị những sản vật chỉ có ở miền Nam

Việt Nam

- Từ địa phương có sự đối lập với từ vựng toàn dân Kiểu từ địa phương này

có thể chia ra hai loại nhỏ căn cứ vào hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của chúng

+ Từ địa phương đối lập về mặt ý nghĩa Những từ này về ngữ âm giống với

từ tương ứng trong ngôn ngữ văn học toàn dân, nhưng ý nghĩa khác nhau Ví dụ: Ở

Trang 33

Nam bộ nón có nghĩa là cái mũ, chén có nghĩa là cái bát, dù có nghĩa là cái ô, hòm

có nghĩa là quan tài,…

+ Từ địa phương có sự đối lập về mặt ngữ âm

Ví dụ:

cái liễn cái vịm (Nam bộ) bếp kiềng cái cá ràng (Nam bộ)

Có nhiều từ địa phương phản ánh quá khứ xa xưa của dân tộc, hiện nay là từ

địa phương nhưng trước đây là từ chung của toàn dân Đã một thời các từ trốc (đầu), cấu (gạo), con gấy (con gái), … là các từ toàn dân Với thời gian những từ này chỉ được giữ lại ở một vùng nào đó và trở thành các từ địa phương Trường hợp từ trốc lùi vào tiếng địa phương bắt đầu từ khi từ đầu mượn của tiếng Hán được sử dụng rộng rãi, toàn dân Còn các từ cấu, gấy,… trở thành các từ địa phương là do quá

trình biến đổi và phát triển không đồng đều của hệ thống ngữ âm tiếng Việt gây nên.Ngược lại quá trình trên, nhiều từ địa phương đã mở rộng phạm vi của mình, trởthành từ toàn dân Nhờ sự giao lưu giữa các vùng, nhờ sự sử dụng rộng rãi trong các

tác phẩm văn học, các từ địa phương như cây đước, sầu riêng, tắc kè,… trở thành từ

vựng toàn dân

Như vậy, giữa từ vựng địa phương và từ vựng toàn dân có quan hệ qua lại lẫnnhau Ranh giới giữa hai lớp từ này sinh động, thay đổi phụ thuộc vào vấn đề sửdụng của chúng Từ vựng địa phương là nguồn bổ sung cho ngôn ngữ văn học ngàycàng giàu có, phong phú Từ địa phương chủ yếu là từ vựng khẩu ngữ, khi sử dụng

từ địa phương vào sách nghệ thuật, cần phải hết sức thận trọng và có mức độ Gorki

đã kịch liệt lên án hiện tượng dùng từ địa phương một cách lạm dụng Theo ông,dùng từ mà chỉ nhân dân một vùng hiểu là một sai lầm nghiêm trọng, là phản nghệ

Trang 34

thuật Nói chung, chỉ nên dùng từ vựng địa phương vào trong sách báo nghệ thuậttrong những trường hợp: các sự vật nào đó lúc đầu chỉ được biết trong một khu vực,sau đó được phổ biến rộng rãi, có tính chất toàn dân; những từ địa phương có sắcthái biểu cảm lớn so với các từ đồng nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân

Thuật ngữ

Thuật ngữ là lớp từ vựng đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ vàcụm từ cố định, là tên gọi chính xác của những khái niệm và những đối tượng thuộccác lĩnh vực chuyên môn của con người

Ví dụ: Thuật ngữ văn học: anh hùng ca, ẩn dụ, chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa hiện thực, sử thi…; Thuật ngữ sinh học: tế bào, đột biến, nhiễm sắc thể, kháng thể, di truyền…Thuật ngữ kinh tế: giá trị thặng dư, giá trị gia tăng, sàn chứng khoán, lãi suất…

Thuật ngữ có những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Tính chính xác: Thuật ngữ thể hiện rõ ràng, chặt chẽ các khái niệm Trong

hệ thống thuật ngữ của một lĩnh vực chuyện môn, về nguyên tắc mỗi thuật ngữ chỉbiểu thị một khái niệm và ngược lại một khái niệm chỉ được biểu thị bằng một thuậtngữ Tính chính xác đòi hỏi hệ thống thuật ngữ không có hiện tượng đồng âm, đanghĩa và đồng nghĩa, những hiện tượng rất phổ biến đối với những từ ngữ thôngthường Nếu như ở những từ thông thường hiện tượng nhiều nghĩa rất tự nhiên vàphổ biến, thậm chí có thể coi là quy luật phát triển ngữ nghĩa chủ yếu thì đối vớithuật ngữ, do tính xác định về nghĩa, cũng như do nó nằm trong hệ thống thuật ngữnhất định, cho nên mỗi thuật ngữ thường chỉ có một nghĩa Tất nhiên, một thuật ngữ

cụ thể nào đó có thể tham gia vào nhiều hệ thống thuật ngữ khác nhau, nhưng trongcùng một hệ thống, mỗi thuật ngữ thường chỉ có một nghĩa mà thôi

- Tính hệ thống: Mỗi lĩnh vực khoa học đều có một hệ thống các khái niệm

chặt chẽ được thể hiện ra bằng hệ thống các thuật ngữ của mình Như vậy, mỗi thuậtngữ đều chiếm một vị trí trong hệ thống khái niệm, nằm trong một hệ thống thuậtngữ nhất định Giá trị của mỗi thuật ngữ được xác định bởi mối quan hệ của nó vớinhững thuật ngữ khác cùng trong hệ thống ấy Nếu tách một thuật ngữ ra khỏi hệ

thống của nó thì nội dung thuật ngữ không còn nữa Ví dụ: Nước với tư cách là thuật ngữ hóa học có nghĩa là hợp chất của hydro và oxy, nhưng nếu tách nước ra khỏi hệ

thống hóa học thì nó chỉ có nghĩa là một chất lỏng nói chung, ở sông, hồ, ao,… cóthể uống được, có thể không uống được

Trang 35

Về mặt hình thức, tính hệ thống của thuật ngữ thể hiện ở sự lệ thuộc lẫn nhaucủa các hình thái ngữ pháp phát sinh trong việc cấu tạo và biến đổi từ.

- Tính quốc tế: Khác với những từ ngữ thông thường, thuật ngữ biểu thị các

khái niệm chuyên môn là tài sản chung của nhân loại, thể hiện kết quả nhận thức vềthế giới của nhiều dân tộc khác nhau Tính quốc tế của thuật ngữ được thể hiện rõ rệt

qua hình thức, đặc biệt là hình thức ngữ âm Ví dụ: ô-xi (ôxi; tiếng Anh: oxygen), ba-zơ (bazơ; tiếng Anh: base), in-tơ-nét (intơnet; tiếng Anh:internet)…

Dẫu sao thuật ngữ vẫn là một bộ phận của hệ thống từ vựng nói chung, cóquan hệ với các từ khác trong hệ thống ngôn ngữ Cả các từ thông thường lẫn thuậtngữ đều chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, cấu tạo từ và ngữ pháp của ngônngữ nói chung Màu sắc chuyên môn cũng như phạm vi sử dụng hạn chế của thuậtngữ sẽ không phải là cái hoàn toàn đối lập với ngôn ngữ toàn dân khi mà trình độkhoa học của quảng đại quần chúng được nâng lên Khi đó các thuật ngữ - trừ cácthuật ngữ chuyên môn quá hẹp - không còn là lĩnh vực riêng của các nhà chuyênmôn thuộc ngành khoa học nào đó Giữa từ toàn dân và thuật ngữ có quan hệ xâmnhập lẫn nhau

Thuật ngữ của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới thường được xây dựng theohai nguyên tắc: dựa vào bản ngữ và nhờ sự giúp đỡ của các ngôn ngữ khác Dùngchất liệu của bản ngữ để cấu tạo thuật ngữ bảo đảm tính dễ hiểu và do đó dễ dàngphổ biến rộng rãi Đó là điều rất cần thiết trong giao tiếp và phát triển khoa học.Dùng chất liệu của ngôn ngữ khác để cấu tạo thuật ngữ, tuy không dễ hiểu nhưng lại

dễ dàng đảm bảo tính xác định về nghĩa, tính hệ thống và tính quốc tế của thuật ngữ

Vì vậy, cần phải kết hợp cả hai nguyên tắc trên một cách hợp lý Khi cấu tạo thuậtngữ tiếng Việt, cần chú ý sử dụng những yếu tố đã tồn tại lâu đời, ví dụ như việc

dùng các từ lưỡi, môi,… để cấu tạo các thuật ngữ ngôn ngữ học như âm môi, âm

mũi, âm răng,… là hợp lý

b) Xét về mặt cấu tạo

Xét về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt chia ra thành từ đơn và từ phức Từ đơn là từ

chỉ có một tiếng, còn từ phức là từ từ hai tiếng trở lên Trong từ phức lại chia nhỏ ra

thành từ ghép và từ láy

Ví dụ:

- nhà, cửa, cây, hoa, quả : là những từ đơn

- học sinh, thầy giáo, ăn nói, tốt đẹp, long lanh, nhí nhảnh, lơ mơ : từ phức + học sinh, thầy giáo, ăn nói, tốt đẹp: từ phức ghép, gọi tắt là từ ghép.

Trang 36

+ long lanh, nhí nhảnh, lơ mơ: từ phức láy, gọi tắt là từ láy.

c) Xét về mặt số lượng nghĩa

Xét về mặt số lượng nghĩa, từ tiếng Việt được chia thành từ một nghĩa và từ

nhiều nghĩa Trong từ nhiều nghĩa lại chia ra thành nghĩa chính và nghĩa chuyển

Ví dụ:

- bàn, ghế, bảng : từ một nghĩa

- ăn, chín : từ nhiều nghĩa

Từ “chín” có một số nghĩa như sau:

1 (Quả, hạt, hoặc hoa) ở vào giai đoạn phát triển đầy đủ nhất, thường

có màu đỏ hạc vàng, có hương thơm, vị ngon ngọt.

2 (Thức ăn) nấu nướng đến mức ăn được.

3 (Sự suy nghĩ) ở mức đầy đủ để có thể hành động có hiệu quả.

4 (Màu da mặt) đỏ ửng lên.

Trong những nghĩa này, nghĩa thứ 1 được gọi là nghĩa chính Đó là nghĩa xuất hiện đầu tiên của từ Những nghĩa 2,3,4 còn lại là những nghĩa chuyển Đó là những

nghĩa xuất hiện sau nghĩa chính

d) Xét về mặt quan hệ giữa âm và nghĩa

Xét về mặt quan hệ giữa âm và nghĩa, từ tiếng Việt được chia thành: từ đồng

âm, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa Ví dụ:

- đá (hòn đá) với đá (đá bóng) : đồng âm

- hổ, beo, hùm, kễnh, chúa sơn lâm, ông ba mươi: đồng nghĩa

- tốt / xấu , nóng / lạnh, đen / trắng, sống / chết : trái nghĩa

d) Xét về mặt nguồn gốc

Xét về mặt nguồn gộc, từ tiếng Việt được chia thành từ thuần Việt và từ mượn Ví dụ:

- nghèo, khoẻ, đợi, chờ, sông, núi : là từ thuần Việt

- quốc ca, thuỷ triều, gia sư, mít tinh, bôn sê vích, gôn, xà phòng, sút: là từ mượn

Những yếu tố Hán được mượn dùng trong tiếng Việt gọi là từ Hán Việt

e) Xét về mặt phong cách

Xét về mặt phong cách, từ tiếng Việt được chia ra thành từ đơn phong cách

và từ đa phong cách Ví dụ :

- phương trình, ẩn số, đại lượng, tích phân, vi phân : từ đơn phong cách

- giường, tủ, vườn, cây; suy nghĩ, hành động; tốt, xấu : từ đa phong cách

Trang 37

Để có kĩ năng sử dụng từ, ta không thể không biết tới những hiểu biết trênđây

2 Từ vựng tiếng Việt

Từ và các đơn vị tương đương với từ lập thành kho từ vựng của một ngôn

ngữ Các đơn vị tương đương với từ gồm : thành ngữ và quán ngữ.

- Chúng nó lâu nay xa nhà, buồn mồm buồn miệng, nói năng lém tém, nghe

nó thì đổ thóc giống ra mà ăn đấy ạ

(Nguyễn Thị Ngọc Tú)

- Có một số người khác vì không muốn bị phản ứng nên cũng giữ thái độ mũ

ni che tai không đấu tranh mà cung không ủng hộ, bảo vệ người đấu tranh.

(Báo Tiền phong số 2426)

- Cậu ta trả lời lễ phép, nhưng tôi biết mình có khuyên bảo cậu ta thì cũng

như nước đổ đầu vịt.

(Hữu Mai)

Hoặc như các thành ngữ: “Mẹ tròn con vuông” chỉ việc sinh nở suôn sẻ và có hàm thêm ý vui mừng, chia sẻ; “Ba cọc ba đồng” chỉ sự ít ỏi, bấp bênh, không ổn định về tiền bạc có hàm thêm ý than thở; “Nước đổ lá khoai” chỉ những việc làm vô

ích có hàm ý bực mình…

Nội dung của thành ngữ biểu hiện một cách vừa cụ thể, vừa khái quát sinhđộng hình ảnh, trạng thái, tâm lý, hiện tượng hoặc một tính cách của thiên nhiên, xãhội và con người Thành ngữ đưa lại cho sự biểu đạt một khái niệm rất gợi tình gợicảm, gây tác dụng mạnh mẽ cho người đọc, người nghe Chính vì thế mà có thểdùng thành ngữ để miêu tả, để nói về bất cứu một lĩnh vực nào của cuộc sống Sửdụng có hiệu quả thành ngữ trong giao tiếp sẽ giúp cho lời nói sâu sắc hơn, tinh tếhơn và nghệ thuật hơn

b) Đặc điểm

- Nghĩa của thành ngữ thường là nghĩa khái quát, trừu tượng và có tính hình tượng cao Một thành ngữ bao giờ cũng có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng.

Trang 38

Nghĩa đen của thành ngữ do bản thân nghĩa của các thành tố trong tổ hợp từ mạnglại có tính cụ thể, sinh động và hình ảnh Nghĩa bóng có tính trừu tượng, khái quátđồng thời có sắc thái biểu cảm, thể hiện sự đánh giá có tính chất thẫm mỹ dùng lấylàm biểu tượng.

Ví dụ: Lấy các hình ảnh “chân lấm”, “tay bùn” có ở trong thực tế lao động

của của người nông dân bị dính bẩn do lao động, thông qua con đường hoán dụ đã

mang lại nghĩa bóng, từ đó ghép thành “chân lấm tay bùn” để biểu thị sự lam lũ

nhọc nhằn của công việc đồng áng

- Thành ngữ thường thể hiện tính chặt chẽ, cô động, hàm súc Đây là đặc tính

về mặt cấu trúc khi xây dựng thành ngữ nhằm đạt đến hiệu quả tối đa ít lời nhiều ý.Điều này thể hiện ở việc giản lược những từ không cần thiết làm nhiệm vụ chuyểnnối và mang chức năng đưa đẩy như: mà, là, thì, và, nhưng…đồng thời với việc bỏnhững yếu tố trên là việc hình thành các cấu trúc cân đối, đối xứng của thành ngữ

Ví dụ: “xanh vỏ đỏ lòng” có cấu trúc đối xứng, cân đối cả về âm thanh, ngữ pháp và ngữ nghĩa Yếu tố bị lược bỏ là liên từ “nhưng” có tác dụng nối kết hai vế

có ý nghĩa trái ngược nhau

c) Cấu tạo

- Cấu tạo của thành ngữ thường ngắn gọn, cô đọng, Thành ngữ có thể là:

+ Một ngữ (kết cấu chính phụ): rách như tổ đỉa, múa tay trong bị, mượn lược thầy tu…

+ Một kết cấu chủ vị: ăn mày đòi xôi gấc, ếch ngồi đáy giếng, hà tiện ăn cháo hoa…

+ Một liên hợp ngữ: khôn ba năm, dại một giờ, xanh vỏ đỏ lòng, được voi đòi tiên…

+ Một liên hợp kết cấu chủ vị: quýt làm cam chịu, trống đánh xuôi kèn thổi ngược, ngậm đắng nuốt cay…

- Cấu tạo gọt giũa của thành ngữ không những thể hiện ở số lượng từ, mà còn

thể hiện ở cách tổ chức vần và đối Cụ thể:

Trang 39

+ Đối:

Hầu hết các thành ngữ đều sử dụng biện pháp đối Đây là đặc điểm xuất phát

từ đặc điểm của tiếng Việt Tất nhiên tính cấn đối, đối xứng không phải chỉ có riêng

ở thành ngữ mà còn tồn tại cả trong từ ghép đẳng lập và ở các đơn vị khác lớn hơn.Cấu trúc cân đối trong các kiểu tổ hợp có những chức năng và tác dụng khác nhau.Tính cân đối đối xứng trong thành ngữ tiếng Việt thể hiện ở cả ba mặt: ngữ âm, ngữpháp và ngữ nghĩa Đặc tính đó thể hiện ở số lượng âm tiết trong thành ngữ, thôngthường là âm tiết chẵn

Phép đối thường gặp nhất là các thành ngữ có bốn tiếng Ví dụ: Bụng làm, dạ chịu; ngậm đắng, nuốt cay; tình ngay, lí gian; cùng hội, cùng thuyền; quýt làm, cam chịu…

Phép đối cũng xuất hiện nhiều là các thành ngữ có sáu tiếng, ví dụ: nhu thắng cương, nhược thắng cường; giận thì mắng, lặng thì thương; ngày lắm mối, tối nằm không…

Phép đối không chỉ ở những thành ngữ có số tiếng chẵn, số tiếng lẻ cũng xuất

hiện nhiều, ví dụ: gậy ông đập lưng ông; lá lành đùm lá rách; la sát như bát vỡ; đã

Trang 40

Là những thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tả một sự kiện, một hiện

tượng bằng cụm từ, nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ Ví dụ: ngã vào võng đào, chuột sa chĩnh gạo, thừa khôn thiếu dại…

2.2 Quán ngữ

a) Quán ngữ là gì ?

Quán ngữ là những tập hợp từ được quen dùng trong nói viết hàng ngày nên

phần nào đó đã mang tính cố định So với thành ngữ, tính cố định của quán ngữkhông cao và nghĩa của quán ngữ có thể coi là nghĩa của tổng các yếu tố hợp thànhquán ngữ đó Tuy nhiên do nội dung biểu thị của quán ngữ được người mọi ngườiquen sử dụng cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dần lại

và được dùng như một đơn vị có sẵn

Quán ngữ được dùng trong nhiều phong cách khác nhau Chức năng củachúng là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ

Ví dụ:

- Chúc lên đường gặp nhiều may mắn

- Xin thân ái chào tạm biệt các bạn

- Xin cám ơn quý vị đã chú ý lắng nghe

Hoặc các kết hợp như “của đáng tội, rõ ràng là, kết cục là, nói tóm lại….”

đều là những quán ngữ

b) Phân loại

Dựa vào phạm vi và tính chất phong cách, có hai loại quán ngữ như sau:

- Quán ngữ dùng trong phong cách khẩu ngữ, hội thoại: Của đáng tội, khí không phải, bỏ quá cho, cắn rơm cắn cỏ…

- Quán ngữ dùng trong phong cách viết (khoa học, báo chí, chính luận…) hoặc diễn giảng như: nói tóm lại, từ đó suy ra, như trên đã nói, sự thực là…

Khó có thể phân tích và phân loại quán ngữ theo cơ chế cấu tạo hoặc cấu trúcnội tại của chúng Tuy nhiên, sự tồn tại của những đơn vị gọi là quán ngữ không thể

bỏ qua được và các chức năng của chúng có thể chứng minh

Bên cạnh những hiểu biết về từ, việc hiểu rõ về thành ngữ và quán ngữ cũnggiúp chúng ta có điều kiện để rèn luyện kĩ năng nói viết tốt những đơn vị tươngđương với từ trong hoạt động giao tiếp

Ngày đăng: 04/03/2021, 17:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w