1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề tài xây dựng thư viện điện tử hỗ trợ dạy học lịch sử việt nam

132 359 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 3,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ có như vậy mới có thể đào tạo được những nguồn nhân lực có đủ trí tuệ phục vụ cho đất nước, phục vụ cho nền kinh tế hiện đại mà cao hơn hết là để đạt 4 mục tiêu lớn trong giáo d

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI :

GVHD: PGS – TS Ngô Minh Oanh SVTT: Lưu Văn Hóa

Mai Lễ Nô En Khóa học : 2005 - 2009

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009

  

Trang 2

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 1

LỜI CẢM ƠN

Thật hạnh phúc biết bao khi chúng ta làm được điều gì đó có ích cho bản thân và gia đình Để có được những thành công ấy đằng sau chúng ta luôn có sự động viên , giúp đỡ cũa gia đình , bạn bè , thầy cô… Và để hoàn thành khóa luận tốt ng hiệp này cũng như hoàn thành khoá học chuẩn bị bước vào đời tôi luôn nhận được sự giúp đỡ rất lớn từ người thân, thầy cô và bạn bè

Mở đầu cho trang tri ân này là lờ i cảm ơn chân thành và sâu sắc của cá nhân chúng tôi đối với các thầy cô trong khoa Lịch Sử - Trường đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh – người đã trực tiếp hoặc gián tiếp giảng dạy , truyền đạt những kiến thức , kinh nghiệm của mình cho chúng tôi trong suốt khóa học Đồng thời chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn của mình tới những người bạn đã đóng góp ý kiến , giúp đỡ chúng tôi về tư liệu , chụp cắt hình , cắt film, tạo website …vv để chúng tôi hoàn thành công trình này

Thay cho lời kết , cho phép chúng em được gửi phần nhiều

lời cảm ơn chân thành tới thầy Ngô Minh Oanh – Phó Giáo sư -

Tiến sĩ - Trưởng khoa Lịch Sử - Trường Đại học sư phạm thành phố

Hồ Chí Minh – người đã nhiệt tình hướng dẫn chúng em hoàn thành khóa luận

Chân thành cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh năm 2009 Nhóm thực hiện

Trang 3

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 6

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 5

MỤC LỤC MỤC LỤC - 5

PHẦN MỞ ĐẦU - 8

1 Lí do chọn đề tài - 8

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - 9

3 Lịch sử vần đề - 11

4 Phương pháp nghiên cứu - 12

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 13

6 Mục tiêu nghiên cứu - 14

7 Bố cục khóa luận - 15

PHẦN NỘI DUNG - 16

CHƯƠNG I - 16

THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ HIỆN NAY - 16

1 Quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng - 16

1.1 Quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học - 16

1.1.1Đổi mới phương pháp dạy học là vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học theo hướng tích cực - 16

1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học nghĩa là tổ chức dạy học theo lối mới 17 1.1.3 Đổi mới phương pháp dạy học chỉ có kết quả trong điều kiện đổi mới một cách toàn diện quá trình dạy học - 18

1.1.4Đổi mới dạy học thể hiện trong một tiết học lịch sử - 19

2 Yêu cầu đổi mới giáo dục và phương pháp dạy học lịch sử hiện nay - 21

1.2 Yêu cầu cấp thiết phải đổi giáo dục và phương pháp dạy học lịch sử - 21

2.2 Những tiền đề của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay - 26

3 Đổi mới phương pháp dạy học - 29

3.1 Đổi mới từ cấp lãnh đạo - 29

3.2 Đổi mới ở cấp vĩ mô - 29

3.3 Đổi mới ở tầm vi mô - 29

CHƯƠNG II - 31

XÂY DỰNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ PHỤC VỤ CHO VIỆC DẠY HỌC LỊCH SỬ - 31

1 Tầm quan trong của công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử - 31

1.1 Khái niệm và tầm quan trọng của công nghệ thông tin - 31

1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng công nghệ thông tin - 32

1.2.1Xuất phát từ thuyết phản xạ của I.P Pavlov - 32

1.2.2Xuất phát từ thực nghiệm tâm lí - 33

1.3 Quan điểm của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học - 34

1.4 Thực trạng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ở các trường phổ thông - 35

2 Internet và vai trò của internet trong dạy học - 43

2.1 Khái niệm về Internet - 43

2.2 Hệ thống mạng Internet - 44

Trang 7

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 6

2.3 Vai trò của Internet - 44

2.4 Một số yêu cầu khi khai thác tài liệu trên Internet trong dạy học lịch sử - 47

3 Xây dựng thư viện điện tử phục vụ dạy học và đổi mới phương pháp dạy học lịch sử Việt Nam lớp 11 – 12 - 49

3.1 Khái niệm về thư viện và thư viện điện tử - 49

3.1.1 Khái niệm về thư viện - 49

3.1.2 Thư viện điện tử - 49

3.2 Giới thiệu về thư viện điện tử - 50

3.3 Ý nghĩa của thư viện điện tử - 52

3.4 Hướng dẫn cách khai thác tư liệu từ thư viện điện tử - 53

3.5 Hướng dẫn cách xây dựng thư viện điện tử - 57

3.5.1 Giới thiệu khái quát về Web - 57

3.5.2 Các thao tác trong cửa sổ trình duyệt - 60

3.5.3 Giới thiệu Dreamweaver - 61

3.5.4 Màn Hình Dreamweaver - 62

3.5.5 Kế hoạch thiết kế một Website - 62

3.5.6 Tạo Website bằng dreamweaver - 63

3.5.7 Định dạng văn bản- sử dụng CSS trong Dreamweaver - 67

3.5.8 Hình ảnh và liên kết trang trong Dreamweaver - 71

3.5.9 Liên kết trang trong Dreamweaver - 74

3.5.10 Bảng và trình bày trang bảng, kẻ bảng - 77

4 Khai thác kênh hình, tư liệu và bài giảng điện tử từ thư viện điện tử phục vụ cho đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay - 85

4.1 Khai thác kênh hình phục vụ đổi mới phương pháp dạy học lịch sử. - 85

4.1.1 Tầm quan trọng của kênh hình - 85

4.1.2 Cần làm gì để sử dụng kênh hình có hiệu quả - 87

4.1.3 Vận dung khai thác một số hình ảnh, lược đồ trong bài 19 – 20 lịch sử lớp 11 - 89

4.2 Xây dựng bài giảng điện tử bằng phần mềm MS Power Point - 91

4.2.1 Giới thiệu chung vá ý nghĩa của giáo án điện tử - 91

4.2.2 Hướng dẫn các bước xây dựng giáo án điện tử - 92

4.2.3 Quy trình thiết kế một giáo án điện tử giảng dạy - 105

4.2.4 Vận dụng vào việc xây dựng giáo án điện tử bài 17 - 106

KẾT LUẬN - 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 120

PHỤ LỤC - 122

Trang 8

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 7

CHỮ VIẾT TẮT

Technology Transfer

TW Trung ương

CP Chính phủ

ĐH Đại học

POP Point Of Prensence

USD Đồng Đôla của Mĩ

Trang 9

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay cả thế giới đang bị cuốn sâu vào nền kinh tế thị trường với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa với mục tiêu chung là cùng hòa nhập, cùng phát triển Một xã hội phát triển không ngừng có tính chất chóng mặt như thế nhất là trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật thì lại càng phát triển như vũ bão Các sản phẩm khoa học mà con người sáng chế ra nó có thể làm thay con người mà năng xuất tăng lên hàng vạn hàng, triệu lần Con người tạo ra những sản phẩm ấy nhưng cũng phải kinh ngạc trước hiệu quả của nó Ví như trong 1 giây 1 chiếc máy tính có thể xử lí tới hàng triệu phép tính

Cuộc cách mạng công nghệ này đã trang bị cho con người rất nhiều phương tiện hiện đại ở tất cả các ngành, các lĩnh vực khác nhau Và trong nền giáo dục và dạy học cũng vậy Rất nhiều loại máy móc hiện đại đã được đưa vào trợ giúp cho sự giảng dạy của giáo viên cũng như giúp cho học sinh tiếp cận kiến thức một cách dễ dàng mà không hề bị gò ép

Do vậy, ở mỗi quốc gia, dân tộc nào sớm đổi mới tư duy giáo dục, sớm ứng dụng sự tiến bộ của khoa học kỉ thuật của nhân loại thì dân tộc đó sớm trở thành quốc gia có nền giáo dục vững mạnh Và ở nước ta cũng vậy việc ứng dụng các tiến

bộ khoa học kỉ thuật, đổi mới giáo dục đang được đặt ra và thực hiện Trong cuộc cải cách giáo dục lần này bên cạnh việc đổi mới chương trình , nội dung sách giáo khoa phần quan trọng là đổi mới phương pháp dạy học trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học kỉ thuật tiên tiến Mà chúng tôi gọi tắt là công nghệ thông tin (CNTT) Chỉ có như vậy mới có thể đào tạo được những nguồn nhân lực có đủ trí tuệ phục vụ cho đất nước, phục vụ cho nền kinh tế hiện đại mà cao hơn hết là để đạt

4 mục tiêu lớn trong giáo dục mà UNESCO đặt ra : Học để biết – Học để làm – Học

để tự khẳng định mình – Học để cùng chung sống

Do vậy việc ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng ở trường THPT hiện nay ở nước ta là điều hết sức cần thiết Xu hướng này trên thế giới đang được thực hiện rất nhiều và khá phổ biến Các bài giảng lịch sử điện tử

có khản năng sử dụng lợi thế tối đa phương pháp dạy học trực quan sinh động Chỉ

có như thế mới có thể đáp ứng được một phần trong phương pháp dạy học tích cực lịch sử ở trường Trung học phổ thông

Thực tế hiện nay cho thấy tình trạng “ dạy chay” trong các trường phổ thông

ở nước ta còn rất phổ biến Giáo viên rất ít sử dụng phương tiện trực quan nên giờ học rất buồn tẻ và học sinh rất chán học Nhất là lối dạy học cũ : thầy đọc trò chép làm cho học sinh thụ động thiếu năng lực tư duy sáng tạo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Giáo sư Phan Ngọc Liên đã nhận xét:

“ Bản thân lịch sử rất sinh động hấp dẫn song chúng ta lại làm nghèo đi tính

phong phú của lịch sử, làm khô cứng đi những sự kiện bởi sự thuyết trình, thông báo, lý luận, quan điểm… các nội dung sách giáo khoa và nội dung giảng dạy…”

Trang 10

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 9

Do vậy, làm sao chúng ta phải bồi dưỡng tư duy sáng tạo, phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh để tạo lòng say mê, tinh thần hứng khởi khi học lịch

sử Việc ứng dụng CNTT vào dạy học lịch sử ở trường Phổ thông phần nào đáp ứng yêu cầu cấp bách đó Bởi các phương tiện máy chiếu, máy vi tính, phim video… đã làm cho người học phần nào tiếp thu nguồn thông tin, bài học hấp dẫn sinh động Góp phần vào mục tiêu giáo dục chung

Lý luận và thực tiễn dạy học từ lâu cũng đã bắt rễ và vững chắc một nguyên lí

: “Việc dạy học lịch sử phải chuyển từ sự tri giác những sự vật hiện tượng đơn nhất

đến sự hình thành biểu tượng đúng đắn và từ sự khái quát hóa những biểu tượng cụ thể đến khái niệm Mọi sự giảng dạy đều đi từ tri giác đến thông hiểu, từ cụ thể đến

Để hình thành cho học sinh một biểu tượng lịch sử và để các em hiểu lịch sử, việc dạy học của giáo viên phải hết sức sáng tạo trong phương pháp giảng dạy của mình Đặc biệt phải trực quan để các em thấy được lịch sử diễn ra như thế, tại không gian đó vào thời điểm đó nó mang một đặc trung như vậy Như thế mới tạo được sự húng thú cũng như việc tiếp nhận kiến thức và hiểu được lịch sử ở các em

Mặt khác hiện nay hầu như các trường Trung học phổ thông đã được trang bị khá nhiều cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học nhất là máy tính và hệ thống máy chiếu và học sinh đã được trang bị kiến thức tin học khá tốt Các em được học tin học từ trung học cơ sở và đến phổ thông trung học các em đủ kiến thức và kĩ năng

để tự làm việc một mình với máy tính Đây là một lợi thế rất lớn phục vụ cho việc đổi phương pháp dạy học hiện nay

Từ nhận thực đó tôi hy vọng việc sử dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở THPT hiện nay sẽ có ý nghĩa thiết thực Góp phần đổi mới phương pháp nâng cao hiệu quả dạy học nhất là ở các vùng nông thôn, vùng

sâu vùng xa Vì vậy chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài : “Xây dựng thư viện điện

tử phục vụ cho việc dạy học lịch sử Việt Nam ( chương trình lớp 11 – 12) Việc xây

dựng thư viện sẽ cung cấp cho giáo viên và học sinh thêm những tư liệu phục vụ cho việc dạy – học cũng như cho việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử có sự tham gia của công nghệ thông tin nhất là máy vi tính và hệ thống mạng internet

Tôi rất hy vọng thư viện này sẽ được sử dụng nhiều vào dạy học và được các giáo viên phổ thông hưởng ứng, tiếp nhận, bổ sung để cho việc dạy – học môn lịch

sử ngày càng dể dàng, thoải mái và các em thấy học lịch sử càng sinh động , hấp dẫn hơn

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài này đã giúp tôi hiểu sâu sắc về vai trò, vị trí của phương tiện dạy học hiện đại bằng máy tính ( Computer) trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng Đặc biệt là sử dụng Internet để lấy thông tin, sử dụng phần mềm hổ trợ MS Power Point để soạn giáo án và giảng dạy thông qua phương tiện nghe nhìn (Computer & Projector) Đồng thời giúp tôi biết cách sử

1Đặng Thành Hưng ( 2002), Dạy học hiện đại lí luận, biện pháp kỉ thuật, NXB Quốc gia Hà Nội

Trang 11

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 10

dụng phương tiện dạy học hiện đại cũng như thực hiện các thao tác khi tiến hành

giảng dạy đảm bảo kiến thức mang tính khoa học và tính khách quan Đề tài cũng

giúp tôi kết hợp được các phương pháp dạy học hiện đại khác

Như chúng ta đã biết quá trình học tập của học sinh về bản chất là quá trình

hoạt động nhận thức Quá trình đó diễn ra theo quy trình sau: đầu tiên là học sinh

tiếp cận với sự kiện, nhân vật, hiện tượng lịch sử Thông qua bài giảng của giáo viên

cùng với các tài liệu học tập và với phương tiện dạy học sẽ hổ trợ sự tiếp cận kiến

thức tạo cho học sinh những tri giác những biểu tượng lịch sử - đây là giai đoạn đầu

tiên của nhân thức Từ đó bằng sức mạnh của tư duy, trìu tượng hóa, những khái

niệm, quy luật và bài học lịch sử sẽ được hình thành Từ những kiến thức đã học

được học sinh vận dụng vào cuộc sống thực tiễn để giải quyết nhiệm vụ, vấn đề mà

xã hội đang đặt ra Quá trình đó được biểu diễn như sau :

Sự kiện hiện tượng lịch sử Biểu tượng lịch sử Các thao tác tư duy

( nhận thức cảm tính ) của học sinh

Khái quát hóa, trìu tượng hóa vận dụng kiến thức vào thực tiễn

( nhận thức lí tính)

Lênin xác định nhận thức của con người như sau: “Từ trực quan sinh động

tới tư duy trìu tượng, từ tư duy trìu tượng tới thực tiễn Đó là con đường nhận thức

chân lí nhận thức hiện thực khách quan”

Quá trình dạy học và việc sử dụng thiết bị dạy học qua con đường cảm giác

đã có tác dụng rất lớn đến sự tiếp nhận kiến thức của học sinh2

viện sẽ cung cấp cho giáo viên và học sinh một số tư liệu bổ ích phục vụ cho việc

dạy – học của mình Hi vọng trong những tiết học các em sẽ được tiếp xúc với bài

giảng điện tử có nhiều hình ảnh trực quan, có những đoạn phim tư liệu minh họa

các em tiếp cận với bài học bằng nhiều quan của mình nhất là thị giác kết hợp với

thính giác điều này sẽ giúp các em hứng thú hơn trong quá trình học, nhanh hiểu bài,

nhớ lâu hơn

Ngoài ra, còn giúp học sinh nhanh chóng đi đến hình thành các khái niệm lịch

sử quan trọng bởi tiện ích của các trình diễn và khả năng đặc biệt của phương tiện

trực qua Giúp học sinh ghi nhớ một cách sâu sắc và sinh động có tính hấp dẫn và

thu hút cao

Với sự hướng dẫn của giáo viên học sinh tự mình muốn tìm hiểu Đó là động

cơ học tập là điều kiện để phát huy năng lực tư duy Trên cơ sở đó học sinh hiểu

được lịch sử một cách logic, khách quan và có hệ thống do vậy sẽ giúp học sinh yêu

lịch sử hơn

Ngoài ra đề tài sẽ là nguồn tư liệu phong phú cho riêng bản thân chúng tôi

phục vụ cho việc giảng dạy sau này

2 Phần này sẽ nói rõ hơn trong mục 2.1 của chương II

Trang 12

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 11

3 Lịch sử vần đề

Phương pháp sử dụng phương tiện hiện đại ( Internet & Máy tính) vào dạy học, đặc biệt là phần mầm MS Power Point đã được ngành giáo dục nước ta đặc biệt chú ý Các kỳ hội thảo khoa học, các bài viết của nhiều giáo sư trên tạp chí nghiên cứu giáo dục rất nhiều đã đề cập rất nhiều tới vấn đề này

Việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại không phải bây giờ mới được đặt

ra mà ngay từ thế kỉ XVI – XVII vấn đề này đã nêu lên hình thành quan điểm giáo dục tiến bộ

Moteques ( 1533-1592) nhà giáo dục học người Pháp cho rằng : “ Muốn dạy tốt và học tốt người thầy phải hiểu học sinh, lắng nghe học sinh phải để học sinh chạy trước mà nhận xét chứ không nên bắt trẻ nhắm mắt lại nhận định theo hướng

Cômensky ( 1592-1670) nhà giáo dục học người Tiệp Khắc quan niệm : “ Tôi thường bồi dưỡng học sinh của tôi tinh thần độc lập quan sát trong đàm thoại và

đại ” (xuất bản 1963) ông khẳng định : Tính trực quan sẽ có khản năng làm cho

John Locke ( 1632-1704)- Người Anh, quan niệm : Những hiểu biết của

chúng ta là do những cảm giác mà đối tượng bên ngoài tạo ra trên những giác quan khác nhau và những cảm giác này là những dữ kiện giản dị của tri giác, nghĩa là

J.J Rouseau (1712-1775) phát triển quan niệm này cao hơn trong tác phẩm

Emile hay bàn về giáo dục , ông nêu cao việc dạy học phải cho học sinh trực tiếp

nhìn, ngắm, sờ, mó để rút ra những hiểu biết cho bản thân

E Raut quan niệm : “ Cùng với sự phát triển chương trình môn học thì

Usinsky ( 1824 – 1873) người Nga cũng cho rằng : “ Trẻ em phải suy nghĩ

bằng hình dáng, màu sắc, âm thanh và cảm giác vì thế dạy học trực quan đối với trẻ

Đặc biệt cuộc cách mạng khoa học kỉ thuật lần hai ( những năm 40 của thế

kỉ XX) bùng nổ ra thì việc ứng dụng phương tiện kỉ thuật vào dạy học trở nên phổ biến và khái niệm “ công nghệ giáo dục ” xuất hiện

Công nghệ giáo dục là khoa học về giáo dục nó xác lập nguyên tắc hợp lí của công nghệ dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình đào tạo cũng như xác lập các phương pháp và phương tiện có kết quả nhất để đạt được mục đích đào tạo đồng thời tiết kiệm sức của thầy và trò

Công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ cũng có rất nhiếu ý kiến của các nhà nghiên cứu đưa ra nhằm vận dụng công nghệ thông tin vào việc nâng cao hiệu quả dạy học

Collier cho rằng : công nghệ giáo dục là áp dụng các kỉ thuật và phương tiện

hổ trợ để cải tổ quá trình học tập

Mackenzi đề cập tới công nghệ giáo dục trong mối quan hệ giữa trong mối quan hệ máy móc dụng cụ với cải cách chương trình phát triển sư phạm…

Trang 13

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 12

Còn theo Nakaro – giáo sư người Nhật ông đưa ra ý kiến: công nghệ giáo dục

là phương thức tư duy có tính khoa học và hệ thống đối với giáo dục, chứ không đơn thuần chỉ là giới thiệu phương tiện giảng dạy hay công nghệ phần cứng

Theo Hồ Ngọc Đại thì công nghệ giáo dục : là những quy trình kỉ thuật trong

dạy học nó gồm cả chiến lược và sách lược, chiến thuật và thủ thuật trong dạy học giúp phát triể theo những giá trị chân – thiện – mĩ

Unessco định nghĩa : “ Công nghệ giáo dục là khoa học về giáo dục, nó xác

lập nguyên tắc hợp lý của công nghệ dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình đạo tạo cũng như xác lập các phương pháp và phưng tiện có kết quả nhất để đạt mục đích đào tạo đồng thời tiết kiệm được nhiều sức lực của thầy và

Ở nước ta có rất nhiều tác phẩm, công trình đề cập tới việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ở phổ thông :

1 “ Con đường và biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở

Lan, Nxb Giáo Dục, 2006

2 Công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo Ban công nghệ

thông tin, Nxb Giáo dục và Đào tạo, 1997

3 Những công trình khoa học tiêu biểu 1976-2006, khoa Lịch Sử-

4 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào tính chất riêng của bộ môn lịch sử : Người học không trực tiếp tiếp xúc với sự kiện hiện tượng lịch sử mà phải nhận thức gián tiếp qua các tư liệu lịch sử Nên trong quá trình thực hiện tôi sử dụng các phương pháp sau :

Phương pháp giáo dục học đây là phương pháp quan trọng nhất, xuyên suốt

trong đề tài Phương pháp giáo dục học là cách thức sử dụng các nguồn lực trong giáo dục như giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện vật chất để giáo dục người học Vì vậy, căn cứ vào mục đích của phương pháp nên trong khoá luận này chúng tôi cố gắng thực hiện để công trình này để đạt hiệu quả như mong muốn Đó là chúng tôi mong muốn giáo viên và học sinh khai thác, sử dụng nguồn lực trong dạy học thật hiệu quả Tức là thông qua nguồn tư liệu có trong thư viện giáo viên khai thác kết hợp với những phương tiện dạy học hiện đại : máy tính, hệ thống máy chiếu… nó sẽ phục vụ cho việc giảng dạy cũng như đổi mới phương pháp của giáo viên Từ đó góp phần nâng cao chất lượng học lịch sử hiện nay cũng như tạo được niềm hứng thú cho các em khi tham gia môn học

Mặt khác, không chỉ thông qua những kênh hình, những đoạn phim tư liệu khi giáo viên giảng và trình chiếu cho các em mà thông qua quá trình tìm kiếm và khai thác tư liệu nó cũng góp phần vào việc giáo dục tư tưởng, lập trường chính trị

và đặc biệt giáo dục tri thức cho các em

Trang 14

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 13

Bên cạnh đó hai phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic cũng được

chúng tôi quan tâm Thực hiện phương pháp lịch sử tức là xuyên suốt trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi trình bày các vần đề theo một trình tự cụ thể đúng như lịch

sử đã diễn ra

Phương pháp lôgic : các vấn đề, các nội dung, hay các sự kiện lịch sử được trình bày một cách lôgic sẽ làm cho học sinh nhanh chóng hiểu và tiếp cận lịch sử Trong bài khóa luận này phương pháp lôgic cũng được sử dụng triệt để nhằm cho độc giả khi đọc có thể hiểu được nôi dung đề tài :

Đầu tiên là yều cầu cấp thiết đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường

THPT hiện nay

Tiếp đó là thực trạng của việc sử dụng công nghệ thông tin trong các nhà

trường Giới thiệu tầm quan trọng của công nghệ thông tin và mạng internet đối với con người nói chung và với dạy học nói riêng

Cuối cùng là xây dựng thư viên điện tử phục vụ dạy học Đặc biệt trong phần

xây dựng thư viện điện tử này chúng tôi sẽ hướng dẫn cách xây dựng thư viện, cách khai thác thư viện và cách khai thác kênh hình, bài giảng điện tử cho hiệu quả

Phương pháp tham khảo và xử lí tài liệu : trong quá trình nghiên cứu đề tài

này tôi phải thu thập tham khảo nhiều ý kiến, nhiều tài liệu, luận văn, tạp chí và nhiều nguồn thông tin khác nhau Do vậy một một phần chúng tôi phải tham khảo tài liệu gốc để so sánh đối chiếu Phải tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn thầy cô trong khoa và giáo viên dạy học phổ thông Mặt khác để hoàn thành tôi phải xử lí những thông tin và tài liệu thu nhận được để tạo cơ sở lí luận ban đầu cho công trình và để viết thành bài hoàn chỉnh

Ngoài ra tôi còn sự dụng một số phương pháp khác : phương pháp điều tra,

thăm dò, trắc nghiệm ở giáo viên, học sinh một số trường phổ thông trên địa bàn

thành phố để đánh giá việc sử dụng và sử dụng công nghệ thông tin và sử dụng phương pháp dạy học mới cũng như tham khảo về vai trò của công nghệ thông tin

trong giáo dục và dạy học Phương pháp đối chiếu, toán thống kê, sưu tầm, phân

loại

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để xây dựng khóa luận và hoàn thành công trình này có chúng tôi nghiên cứu

ở hai nhóm đối tượng chính : máy tính là đối tượng nghiên cứu chủ yếu Ngoài ra còn có một số phần mềm tin học : MS Power Point, phần mềm lập và tạo website (Macromedia Dreamweaver 8)

Máy Tính :Trong giáo dụcvà dạy học máy tính được nghiên cứu với chức

năng sau:

Máy tính là một nội dung trong giáo dục

- Nội dung đặc biệt thuộc về lĩnh vực tin học mà nhóm học viên phải được học để cho các công tác chuyên môn được thực hiện tốt hơn

- Nội dung phương tiện: là vấn đề tin học mà mọi người đều phải học để xóa

mù tin học về máy tính và chuẩn bị thêm hành trang cho tương lai cho cuộc sống mới

Máy tính là một công cụ trong giáo dục

Trang 15

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 14

Là một công cụ quản lí CMI ( Computer Managed Intruction) bao gồm : tất

cả các những nhiệm vụ xử lí các số liệu hàng ngày mà các thầy giáo phải hoàn tất để đánh giá lại học sinh và kiểm tra các tài liệu

Sử dụng máy tính để quản lý các quá trình dạy học các vần đế quản lý đó có thể bao gồm việc lập kế hoạch học tập, tổ chức kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học Dùng máy tính để lưu trữ, phân tích và giải thích các dữ liệu về một quá trình

Máy tính là một công cụ dạy học CAI (Computer Assisted Intruction) : bao gồm công việc dạy học, luyện tập và thực hành, tiến hành trắc nghiệm và dạy học chương trình hóa Thầy giáo dùng máy tính để tìm kiếm tài liệu soạn bài, lập các chương trình dạy học cho học sinh

- Máy tính là một công cụ hổ trợ học tập CAL (Computer Assisted Learning) : bao gồm việc tham gia các trò chơi, luyện tập, học khám phá, nghiên cứu dữ liệu, và lập trình cho máy tính Trong thực tế nhiều chương trình máy tính dùng cho dạy học mà thầy giáo dùng để đạt mục tiêu giảng dạy của mình Các nội dung mang tính chất chung như tìm kiếm tài liệu - nghiên cứu dữ liệu, lập trình… thầy giáo và học sinh đều có thể sử dụng cho công việc của mình

- Bằng máy tính chúng ta có thể : soạn giáo án điện tử và lấy thông tin tài liệu

tham khảo qua mạng bằng đường truyền Internet (ADLS)

Bên cạnh máy tính các phần mềm MS Power Point 2003 và Drweamweaver cũng là đối tượng mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu

MS PowerPoint 2003: là một phần mềm trong bộ Microsoft Office 2003

được sử dụng để trình bày một vấn đề, tiếp thị một sản phẩm, soạn thảo một bài giảng, Chương trình là một công cụ có tính chuyên nghiệp cao để diễn đạt các ý tưởng cần trình bày không chỉ bằng lời văn mà còn thể hiện qua hình ảnh tĩnh và động cùng với âm thanh, các đoạn phim một cách sống động Vì thế nó là một công cụ hỗ trợ giảng dạy rất tốt trong trường học, hỗ trợ thuyết trình trong các hội thảo, hướng dẫn sử dụng các sản phẩm trong việc quảng cáo, …

MacroMedia Drweamweaver : là một thành phần trong bộ sản phẩm của

MacroMedia gồm nhiều sản phẩn : MacroMedia Flash, MacroMedia Fireword, MacroMedia Drweamweaver phần mềm này thích ứng với mọi hệ điều hành window Tiện ích của Drweamweaver là chương trình dùng để tạo trang web, hay website rất hay Tạo một trang web bằng cách gõ các tag html là việc rất cực khổ và khó khăn khi dùng Drweamweaver bạn chỉ cần nhập dữ liệu như bạn muốn Drweamweaver sẽ tự động phát sinh các tag html thích hợp Và như vậy công việc tạo web của bạn “dễ thở” hơn rất nhiều

6 Mục tiêu nghiên cứu

Việc xây dựng và hình thành đề tài này một phần nó giúp ích cho công việc giảng dạy của tôi sau này Vì trước mắt đây là phương được xem là bộ mà chúng tôi

có thể sử dụng vào kì thực tập của mình trong kì II ( năm 4)

Với bất kì ai khi làm bất kì một điều gì cũng muốn được thành công và đạt kết quả cao Mục tiêu quan trọng nhất của chúng tôi khi đặt tâm huyết vào đề tài này

là sẽ giúp cho quá trình giảng dạy của giáo viên ở phổ thông nhẹ nhàng hơn, học

Trang 16

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 15

sinh chủ động tiếp cận kiến thức, học hiểu bài hơn, yêu thích lịch sử hơn Mặt khác

nó có thể hướng dẫn học sinh tự tìm ra kiến thức thông qua quá trình chuẩn bị thực hiện và trình chiếu

Đặc biệt chúng tôi hi vọng thư viện sẽ góp phần nhỏ vào quá trình đ ổi mới phương pháp giảng dạy lịch sử hiện nay

2 Vì sao phải đổi mới giáo dục và phương pháp dạy học lịch sử hiện nay

3 Đổi mới phương pháp dạy học

CHƯƠNG II : ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN XÂY DỰNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ PHỤC VỤ CHO VIỆC DẠY HỌC LỊCH SỬ

1 Tầm quan trong của công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử

2 Internet và vai trò của internet trong dạy học

3 Xây dựng thư viện điện tử phục vụ dạy học và đổi mới phương pháp dạy học lịch sử Việt Nam lớp 11 – 12

4 Khai thác kênh hình, tư liệu và bài giảng điện tử từ thư viện điện tử phục vụ cho đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay

Trang 17

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 16

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI PHƯƠNG

PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ HIỆN NAY

1 Quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng

1.1 Quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học

Phương pháp : là con đường, cách thức và phương tiện tác động tới đối tượng

để đạt được mục đích đề ra

Phương pháp dạy học lịch sử : là những con đường, cách thức, biện pháp để giúp học sinh nhận thức được sự kiện hiện tượng lịch sử thông qua các phương tiện dạy học tác động tới học sinh để đạt được mục tiêu giáo dục

Đổi mới phương pháp dạy học là chúng ta đi tìm những con đường, cách

thức, biện pháp và những phiện tiện dạy học mới để giúp học sinh nhận thức được

sự kiện, hiện tượng và hiểu được lịch sử

Dù có ở thời điểm nào, ở xã hội nào đi chăng nữa thì phương pháp dạy học cũng không tách rời ý nghĩa thực tiễn của và lí luận của việc dạy học Đó là :

Dạy học để làm gì – Mục đích dạy học ? Dạy học cái gì – Nội dung dạy học ? Dạy học như thế nào – Phương pháp dạy học ?

Sự tác động của mối quan hệ giữ 3 yếu tố này trong dạy học lịch sử cuối cùng cũng đi tới một mục đích chung là : hình thành tri thức cho học sinh để các em có thể tự khám phá ra tri thức và vận dụng tri thức ấy vào cuộc sống phục vụ cho quá trình sống và cho xã hội Nói khác hơn việc dạy học lịch sử ở phổ thông cũng góp phần vào quá trình đào tạo nhân tài, bỗi dưỡng nhân lực phục vụ đất nước

Để làm được điều này cốt yếu và quan trọng nhất là học sinh phải nắm được kiến thức cơ bản của lịch sử ngay khi còn học trên ghế nhà trường Từ kiến thức thu nhận được học sinh sẽ vận dụng vào đời sống Vì vậy chọn một phương pháp giáo dục có hiệu quả nhất để truyền thụ hết kiến thức từ giáo viên tới học sinh không phải

là điều dễ dàng Việc đổi mới phương pháp phải đảm bảo những yêu cầu sau

học theo hướng tích cực

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học hiện có thay vào đó là phải kế thừa phát triển các mặt tích cực của phương pháp dạy học truyền thống, đồng thời học hỏi vận dụng các phương pháp mới phù hợp với hoàn cảnh điều kiện dạy học hiện nay

Vấn đề cơ bản là tìm ra cách vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học như thế nào phát huy được những mặt tích cực của phương pháp nhằm nâng cao trình độ tạo sự tích cực, chủ động, sáng tạo của các em trong học tập Trên cơ sở đó

Trang 18

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 17

giúp các em biết cách tự học, biết các hợp tác, tích cực chủ động phát hiện giải quyết vần đề để vừa có kiến thức vừa ruyèn luyện được năng lực hành động

1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học nghĩa là tổ chức dạy học theo lối mới

Cần hiểu đổi mới phương pháp dạy học nghĩa là tổ chức dạy học theo lối mới, tạo lập quá trình dạy học những điều kiện, những giá trị mới Tạo cho học sinh một

vị thế mới và những tiền đề, những điều kiện thuận lợi để hoạt động Cụ thể là :

-Học sinh trở thành chủ thể hoạt động, tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo trong hoạt động lĩnh hội kiến thức

-Tạo ra và duy trì ở học sinh những động lực mạnh mẽ : đó chính là động

cơ, hứng thú, niềm lạc quan của học sinh trong quá trình học tập Những nhân tố này chính là động lực thúc đẩy học sinh tích cực tự giác, chủ động sáng tạo trong quá trình hợp tác

- Phát triển ở học sinh khản năng tự đánh giá kết quả học tập trên cơ sở đó

có thể điều chỉnh các hoạt động của mình theo mục tiêu

Xác lập vai trò chức năng mới của người thầy trong quá trình dạy học Cụ thể là :

- Giáo viên là người tổ chức chỉ đạo điều khiển các hoạt động học tập tự giác, chủ động và sáng tạo của học sinh Giáo viên không còn là nguồn phát thông tin duy nhất, không phải là người hoạt động chủ yếu trên lớp như trước đây mà sẽ là người tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh

Với tư cách là người tổ chức, chỉ đạo, điều khiển quá trình học tập của học sinh Giáo viên cần phải đảm nhiệm và thực hiện tốt các chức năng sau :

+ Thiết kế : tức là lập kế hoạch cho quá trình dạy học cả về mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học Người giáo viên cần phải xuất phát từ mục tiêu và nội dung bài học mà thiết kế ra những tình huống thích hợp để học sinh chiếm lĩnh nó thông qua hoạt động học tập tích cực của học sinh

+ Ủy thác : tức là thông qua đặt vần đề về nhận thức, tạo đông cơ hứng thú, người thầy biến ý đồ dạy học của mình thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của trò

+ Điều khiển : quá trình học tập của học sinh trên cơ sở thực hiện một hệ thống mệnh lệnh, chỉ dẫn, trợ giúp, đánh giá ( bao gồm cả sự động viên)

+ Thể chế hóa : tức là xác nhận, định vị kiến thức mới trong hệ thống tri thức

đã có, đồng nhất hóa kiến thức riêng lẻ của học sinh thành tri thức khoa học xã hội, hướng dẫn vận dụng và ghi nhớ

Vai trò của người thầy và học trò được thể hiện qua sơ đồ sau :

- Tích cực, tự giác, sáng tạo, hoạt động

- Tự đánh giá điều chỉnh

Chủ thể nhận thức

Trang 19

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 18

1.1.3 Đổi mới phương pháp dạy học chỉ có kết quả trong điều kiện đổi mới một

cách toàn diện quá trình dạy học

Quá trình dạy học được tạo thành từ các nhân tố : mục tiêu, nội dung, phương pháp (phương pháp – hình thức hoạt động của cả thầy và trò), phương tiện đánh giá Tất cả các thành tố trên có mối quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau Trong

đó mục tiêu dạy học quyết định nội dung và phương pháp, nội dung quyết định phương pháp, phương tiện Ngược lại, phương pháp và phương tiện tác động (tích cực hoặc tiêu cực) tới đến mục tiêu và nội dung dạy học…

Việc đổi mới phương pháp dạy học cần phải xem xét tất cả các yếu tố của quá trình giáo dục, dạy học trong một chỉnh thể thống nhất liên quan chặt chẽ với nhau

Dưới đây là bảng so sánh giữa dạy học thông thường và dạy học đổi mới3

- Học sinh ( sau bài học này học sinh cần phải … )

- Chỉ rõ sản phẩm mà họ sinh cần phải đạt được sau bài học

2.Nội dung

- Nặng về kiến thức lí thuyết, nhẹ về kĩ năng

+ Giáo viên : truyền thụ một chiều kiến thức

đã chuẩn bị sẵn

+ Học sinh : thông hiểu, ghi nhớ (nặng về ghi nhớ máy móc), tái hiện

- Các phương pháp truyền thống được sử dụng linh hoạt tích cực theo hướng thích cực hóa hoạt động học tập của học sinh ( thuyết trình có sự tham gia tích cực của học sinh, đàm thoại, gợi mở, thảo luận, học nhóm…)

- Áp dụng một số phương pháp dạy học mới, thích hợp : giải quyết vấn đề, thảo luận, điều tra, đóng vai, động não…

- Đa dạng : + Trên lớp, cá nhân, học nhóm, lớp + Ngoài lớp : học ngoài trời, tham quan, khảo sát địa phương…

+ Ngoại khóa, thực tế, câu lạc bộ lịch sử, trò chơi học tập…

- Truyền thống là chủ yếu

- Truyền thống, hiện đại ( máy chiếu qua đầu, băng hình, máy vi tính và

3 Nguồn : Nguyễn Hải Châu, Phạm Thị Sen (Cb), Nguyễn Đức Vũ, Nguyễn Thị Kim Liên, Nguyễn Văn Luyện (2006), đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn địa lý 10, trang 31-32-33

Trang 20

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 19

5 Phương

học

- Sử dụng chủ yếu theo kiểu minh họa

Projector, …

- Sử dụng chủ yếu theo hướng nguồn tri thức (hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ chính các phương tiện dạy học)

- Giáo viên độc quyền đánh giá

- Hình thức đa dạng : tự luận, trắc nghiệm khách quan, bài tập, phiếu khảo quan sát…

- Nội dung : cả kiến thức và kĩ năng, chú trọng suy luận, khản năng thực hành, vận dung kiến thức Nếu có tái hiện thì yêu cầu ghi nhớ lôgic

- Giáo viên kết hợp với học sinh đánh giá, tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau

Bảng đen phấn trắng bàn ghế thuận tiện cho việc di chuyển học theo nhóm, máy Photocopy, vi tính và các điều kiện khác phục vụ dạy học

- Phòng bộ môn, câu lạc bộ…

8.Giáo viên

- Tạm bằng lòng với vốn chuyên môn, nghiệp vụ có sẵn

- Luôn phải nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, tiếp cận với phương pháp dạy học tiên tiến và phương tiện dạy học hiện đại

9 Học sinh

- Kết hợp nghe giảng với ghi chép đầy đủ, hệ thống

Có kĩ năng kết hợp vở ghi với sách giáo khoa khi học ở nhà

- Có kĩ năng làm việc với các nguồn tri thức ( có kĩ năng làm việc với sác giáo khoa, với bản đồ, biểu đồ, số liệu thống kê, máy vi tính, băng hình video, mạng internet….)

Có kĩ năng chọn lọc xử lí hệ thống hóa thông tin

- Trăn trở, chia sẽ với những suy nghĩ việc làm của giáo viên

- Quan tâm ủng hộ, khuyến khích tạo mọi điều kiện và nhân rộng điển hình tốt về đổi mới phương pháp dạy học

1.1.4 Đổi mới dạy học thể hiện trong một tiết học Lịch sử

Một tiết dạy học lịch sử theo tinh thần đổi mới cần khác một tiết học bình thường ở một số điển sau :

Đối với học sinh :

Trang 21

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 20

+ Học sinh biết rõ mục đích yêu cầu của giờ học, không chỉ về kiến thức mà còn cả về kĩ năng, tư tưởng và những thao tác vận dụng

+ Học sinh được dành thời gian thích đáng để tự làm việc với sách giáo khoa, kênh hình và các nguồn cung cấp kiến thức khác dưới sự hướng dẫn của giáo viên

+ Học sinh biết cách làm việc độc lập, theo nhóm, hợp tác với bạn để hoàn thành nhiệm vụ giáo viên giao cho

+ Học sinh có cơ hội được thể hiện mình, được trình bày lại kết quả làm việc với các phương tiện học tập và nêu phương pháp làm việc, biết tự đánh giá kết quả học tập

Đối với giáo viên :

+ Hình dung được kế hoạch bài dạy của mình một cách tường tận, chi tiết + Hạn chế việc giảng, thuyết trình, minh họa, hạn chế đưa câu hỏi vụn vặt nên tập hợp câu hỏi thành những gợi ý hướng dẫn giải quyết một vấn đề, một nội dung học tập tương đối trọn vẹn

+ Dành thời gian cho học sinh làm việc ( tất nhiên tùy thuộc vào nội dung, thời gian dành cho mỗi hoạt động của học sinh để giải quyết tìm hiểu một vấn đề) Khi học sinh làm việc cá nhân, hoặc làm theo nhóm, giáo viên theo dõi giúp đỡ và giải đáp các vấn đề nêu ra

+ Sau mỗi hoạt động giáo viên cần chốt ý chính giúp học sinh khẳng định lại kiến thức cơ bản của bài Việc sử dụng bất kì phương pháp nào vào cũng cần phải phát huy cao độ tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập

Hoạt động của giáo viên và học sinh trên lớp thường theo trình tự sau :

1 Định hướng cho học sinh ý thức

vào vấn đề

1 Ý thức vấn đề hay tự đề xuất vần đề

2 Giao nhiệm vụ cho học sinh, gợi

ý cách làm ( khi cần thiết) 2 Tiếp nhận nhiệm, vụ cách làm…

3 Theo dõi đôn đốc, giúp đỡ cá

nhân hay hóm học sinh hoàn thành

4 Điều khiển các hoạt động trình

bày kết quả uốn nắn những sai lệch

trong quá trình làm việc của học sinh,

chuẩn xác kiến thức

4 Trình bày kết quả đã nghiên cứu thảo luận ( hoặc tranh luận) để tìm lời giải đúng

5 Điều khiển học sinh tự đánh giá

kết quả, nhận xét đánh giá học sinh

5 Tự đánh giá, hoặc đánh giá kết quả của bạn, của nhóm

Trang 22

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 21

2 Yêu cầu đổi mới giáo dục và phương pháp dạy học lịch sử

Sự đổi mới giáo dục đặt ra nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học Vì vậy nghị quyết TW2 – khóa VIII xác định mục tiêu đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo là nhằm :

người Từng bước áp dụng phương pháp dạy học tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của

Tuy nhiên thực trạng và kết quả học tập và thi môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay là một con số rất đáng buồn tẻ Dưới đây là một số con số về kết quả tuyển sinh môn Lịch sử trong những năm gần đây

Đây là bảng thống kê tỷ lệ bài thi đạt và không đạt 4

yêu cầu môn Lịch sử qua các kỳ thi tuyển sinh đại học vào trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh5

Trang 23

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 22

Qua bảng thống kê ta thấy tỉ lệ bài thi đạt điểm từ trung bình trở lên chiếm

tỉ lệ rất thấp Và ngày càng giảm nhất là trong các năm 2005, 2006 tỉ lệ đạt không tới 10%

Hay qua biểu đồ 6 này ta cũng thấy

được kết quả học và thi môn lịch sử năm học

2004-2005 như thế nào

Ta thấy rằng :

Tỉ lệ bài thi môn lịch sử vào các

trường đại học đạt chỉ chiếm 3%, còn bài thi

không đạt chiếm tới 97% Một c on số khá

buồn cho nền giáo dục nước nhà

cả các môn thi thì môn lịch sử

có tỉ lệ bài thi điểm thấp nhất,

chỉ trung bình 2 đ/1 bài

thi.Đáng lưu ý là trong tổng số

hơn 150.000 thí sinh thi môn

Lịch sử được điểm 0-4,5đ

chiếm gần 96% gần 6000 em

được điểm 0 Số thí sinh sử đạt

điểm 5 trở lên chỉ có 6.700 em

chiếm gần 4% Và chỉ 34 bài thi

được 8,5-9đ mà thôi

Một thực tế cho thấy sự giảm sút trong chất lượng dạy học lịch sử Tình trạng thường gặp ở học sinh là coi thường lịch sử, nhớ nhầm sự kiện, không hiểu lịch sử,

Trang 24

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 23

không vận dụng vào bài học, kinh nghiệm quá khứ vào ruyèn luyện đạo đức, phẩm chất tư tưởng chính trị

Để lí giải tình trạng này có rất nhiều cuôc hội thảo khoa học, nhiều bài báo bài viết trình bày ý kiến của mình … Họ đã chỉ trích và đưa ra nhiều nguyên nhân (

do đề thi, do quan niệm, do phương pháp giảng dạy, do học sinh, do giáo viên…), song ta có thể quy về hai nguyên nhân chính tác động lẫn nhau

Ở giáo viên :

- Nhiều giáo viên còn có quan niệm không đúng đắn về chức năng nhiệm vụ của môn lịch sử ở trường phổ thông để đào tạo trẻ Một số giáo viên vẫn chưa thấm nhuần tính cấp thiết, tầm quan trọng, bản chất, phương hướng và cách thức đổi mới phương pháp dạy học

- Đa số giáo viên vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẻ hỏi đáp, nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, nhẹ về phát huy tính tích cực và phát triển tư duy học sinh, học sinh thụ động tiếp thu kiến thức một cách bị động Do vậy phương pháp dạy học chưa phát huy được tính tích cực của học sinh

- Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu : dạy theo lớp là chủ yếu Các hình thức dạy học cá nhân, theo nhóm, ngoài trời chưa được thực hiệ n hoặc có thực hiện song cón ít và chưa hiệu quả

- Cơ sở vật chất phục vụ dạy học, các phương tiện dạy học còn thiếu nhiều và chưa đồng bộ

- Nhìn chung các giờ học Lịch sử chưa mang lại nhiều hứng thú cho học sinh

Đối với học sinh:

- Do học sinh học kém nhiều môn những vẫn muốn thi đại học nên chọn khối

C ( Văn – Sử- Địa) để thi với suy nghĩ không được thì thôi Ban C vào có thể „„bịa‟‟

để viết mà lại không cần học – một quan niệm hoàn toàn sai lầm, coi thường ban C nói chung và Lịch sử nói riêng

- Xu hướng coi trọng môn học và nghành học có thể kiếm được nhiều tiền sau khi tốt nghiệp đại học ra trường nên học sinh xem thường khối thi Xã hội nhân văn

- Học sinh với lối học thụ động không phát huy được tính tích cực

Theo ý kiến của một số Giáo sư – Phó giáo sư Sử học thì có một số các nguyên nhân sau :

Theo Giáo sư Phan Huy Lê : “Quan điểm coi nhẹ lịch sử là nguyên do số một

” Theo Phó Giáo sư Vũ Dương Ninh : thời lượng môn lịch sử 1,5 -2 tiết /tuần là quá

ít

Theo Giáo sư Đỗ Thanh Bình – Chủ nhiệm khoa Lịch Sử Trường ĐH SP Hà Nội : do sự bất cập cả về trình độ lẫn nghiệp vụ sư phạm, lối dạy học “ như sách”dẫn tới học sinh chán học nghe giảng rồi chữ thầy trả thầy

Hiện thực đáng buồn này đã làm đau đầu biết bao nhà giáo dục, làm tốn rất nhiều giấy mực của báo chí Họ đổ lỗi cho người thầy dạy lịch sử Có lẽ người thầy cũng phải gánh chịu một phần trách nhiệm này với kết quả học tập kém ấy của học sinh Nhưng không phải tất cả lỗi ấy bởi, dù thầy có dạy giỏi mà trò không học thì cũng như không Một phần trách nhiệm của giáo viên là không đổi mới được

Trang 25

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 24

phương pháp dạy học mới có sức thu hút học sinh làm cho học sinh hứng thú trong học tập Và học sinh chán học xem thường lịch sử là điều cũng dễ hiểu

Lối dạy học lịch sử ở phổ thông hiện nay được đa số giáo viên thực hiện là : giáo viên lên lớp đọc cho học sinh ở dưới thụ động chép ( hoặc dùng bút chì gạch trong sách) Giáo viên trình bày bao nhiêu học sinh thụ động tiếp thu bấy nhiêu Và giờ trả bài hay kiểm tra học sinh chỉ việc học bấy nhiêu để đối phó với giáo viên Học sinh có thể “thuộc lòng ” những kiến thức giáo viên cho chép Tuy nhiên lại không hiểu nội dung và bản chất của sự kiện - hiện tượng lịch sử Như thế sẽ rất dễ quên và quên sẽ rất khó nhớ lại

Phó Tiến sĩ Phạm Thanh Bình – Giảng viên trường đại học Huế qua nghiên cứu và điều tra tình hình dạy học lịch sử ở các trường phổ thông các tỉnh : Thừa Thiên Huế - Quảng Bình - Quãng Trị cũng có nhận định như thế :“ Giáo viên

dạy học theo lối cổ truyền, giáo viên truyền tri thức, học sinh tiếp thu thụ động bài

Có thể nói cách dạy học lịch sử như trên sẽ không mang lại hiệu quả, gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy học, đồng thời hạn chế việc phát triển trí tuệ, tư duy ở các em Do vậy, việc dạy – học lịch sử trở thành gánh nặng của cả thầy

và trò và là mối lo ngại của toàn xã hội Do vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử là một vấn đề quan trọng cần phải giải quyết

Không phải là phương pháp dạy học lịch sử truyền thống không có tác dụng

gì mà chỉ thấy hạn chế Tuy nhiên nếu so sánh với PPDH mới :( dạy học liên môn, dạy học nêu vấn đề, bài tập nhận thức, sự dụng phương tiện dạy học, hình thành biểu tượng, ứng dụng CNTT ) thì PPDH truyền thống bộc lộ rất nhiều hạn chế

Qua bảng so sánh này ta sẽ thấy được điều đó10 :

Quan niệm tiếp thu và lĩnh hội, qua Dạy học là quá trình

đó hình thành kiến thức,

kĩ năng, tư tưởng, tình cảm

Học là quá trình kiến tạo : học

sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin,

tự hình thành hiểu biết, năng lực phẩm chất

Bản chất

Dạy học là quá trình truyền thụ tri thức của giáo viên

Dạy học là quá trình tổ chức hoạt

động nhận thức cho học sinh

Mục tiêu

Chú trọng cung cấp tri

thức, kĩ năng, kỹ xảo

Học để đối phó với thi

cử Thi xong những điều

Trang 26

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 25

đã học thừng bị bỏ quên hoặc ít dùng của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích

cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội

+ Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của học sinh

+ Tình huống thực tế, bối cảnh môi trường địa phương

Các phương pháp tìm tòi, điều tra,

giải quyết vấn đề, dạy học tương tác

Hình thức

tổ chức

Cố định : giới hạn

trong 4 bức tường của lớp học, giáo viên đối diện với cả lớp

Cơ động, linh hoạt : học ở lớp, ở

hiện trường, thực tế, phòng thí nghiệm học cá nhân, học theo nhóm, học đôi bạn và học cả lớp đối diện với giáo viên

Hay qua bảng sau ta sẽ hiểu hơn về lợi thế của phương pháp dạy học mới 11:

- Trên lớp giáo viên chỉ đọc

sách giáo khoa ( giáo án soạn)

cho học sinh chép kể chuyện

không cần thiết để các em nghe

thích thú ghi chép

- Giáo viên trình bày kiến thức cơ bản nhất Hướng dẫn học sinh tìm hiểu theo sách giáo khoa cac loại tài liệu tham khảo cần thiết khác, biết sử dụng đồ dùng trực quan, giải quyết những câu hỏi, bài tập sách giáo khoa Nêu và cùng trao đổi vấn đề được đặt ra Ghi chép lời giảng của mình thông qua hiểu biết của mình

- Học sinh chỉ làm việc một

mình trên lớp, ở nhà hoặc với

giáo viên chỉ khi được hỏi, kiểm

11 Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Như Ý, Nguyễn Văn Thóa, Đinh Quang Sửu, Một số vấn đề về

cách dạy và cách học, Nxb Hà Nội, 2002 Bài viết được trích từ “ Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử một

yêu cầu cấp thiết” của giáo sư Phan Ngọc Liên bài đăng trên “ tự học” số 11 ( 10/2000)

Trang 27

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 26

- Dạy học theo từng bài, mục

riêng lẻ, rời rạc, làm cho kiến

thức học sinh tiếp thu được không

có hệ thống, không có sự kế thừa

trong nhận thức

- Các sự kiện nêu ra trong hệ thống có quan

hệ với nhau ( bối cảnh lịch sử diễn ra sự kiện, nguyên nhân – kết quả ) các bài học có quan

hệ chặt chẽ với nhau theo chương trình quy định kiến thức đã học làm cơ sở cho việc tiếp thu kiến thức mới Cũng cố kiến thức cũ

- Dạy học chỉ dừng lại ở việc

kiểm tra bằng các câu hỏi nặng ở

ghi nhớ sự kiện chỉ hiểu lịch sử

một cách chung chung công thức

- Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học nội dung sách giáo khoa, biết tự kiểm tra, đánh giá nhận thức của mình Biết đặt và giải quyết nội dung có liên quan tới nội dung bài học, biết làm bài tập thực hành của môn học, biết vận dụng liên hệ kiến thức đã học

- Việc kiểm tra đánh giá bằng nhiều phương pháp sinh động, toàn diện lý thuyết

và thực hành

- Nguồn kiến thức thu nhận

được của học sinh rất hạn chế

thường giới hạn trong bài giảng

của giáo viên

- Nguồn kiến thức mà học sinh thu nhận phong phú và đa dạng bài giảng của giáo viên, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo cần thiết : tranh ảnh, bản đồ, sách giáo khoa

và các loại hoạt động ngoại khóa thực hành khác

- Dạy học lịch sử tách rời các

môn học khác, đặc biệt là với các

môn ( Văn – Địa Lí- Công Dân)

- Thể hiện nguyên tắc liên môn, việc tích hợp kiến thức ở các môn học gần gũi ở mức

độ nhất định làm cho kiến thức phong phú vững chắc, tiết kiệm thời gian dạy học

Với những gì đã trình bày ở bảng so sánh ta thấy phương pháp dạy học Lịch sử

cũ đã quá lỗ thời Việc giảng dạy như thế sẽ không hiệu quả khi nền giáo dục nước nhà đang muốn rút ngắn khoảng cách và không tụt hậu so với thế giới Và yêu cầu đổi mới phương pháp là vấn đề đặt ra cấp bách và cần thiết hơn hết Tuy nhiên, việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay có rất nhiều tiền đề và điều kiện thuận lợi để thực hiện

2.2 Những tiền đề của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

 Cơ sở pháp lí của việc đổi mới

- Việc đổi mới toàn diện quá trình giáo dục, trong đó có đôi mới phương pháp được khẳng định ở các văn bản của đảng và nhà nước:

- Nghị quyết TW 2 khóa VIII nêu rõ : “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo

dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, ruỳen luyện nếp tư duy cho người học từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương tiệ n hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học

12 Văn kiện hội nghị lần thứ 2 BCHTW khóa VIII, ĐCSVN ( 1997) Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, trang 41

Trang 28

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 27

- Khoản 1, điều 27 Luật giáo dục quy định mục tiêu của giáo dục phổ thông

là : “ giúp học sinh phát huy toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các

kĩ năng cơ bản: phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc.”

- Khoản 2, điều 28 : Luật giáo dục quy định : “ Phương pháp giáo dục ở phổ

thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh… bồi dưỡng phương pháp tự học, khản năng làm việc theo nhóm, ruỳen luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

- Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 (ban hành kèm theo quyết định

số 201/2001/QĐ-ttg ngày 29 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng chính phủ ) ở mục

5.2 có ghi rõ : “ Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ việc

truyền thụ kiến thức thụ động, thầy giảng – trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức Dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích tổng hợp Phát triển năng lực của mỗi cá nhân Tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập…”

 Chương trình sách giáo khoa có sự thay đổi

Môn lịch sử nói riêng và tất cả các môn học ở trường trung học phổ thông hiện nay đều được đổi mới theo hướng tích cực hơn về nội dung, cũng như hình thức, bố cục… nhằm góp phần hoàn thiện học vấn cho học sinh, đồng thời tạo điều kiện cho học sinh có thể tiếp tục học lên bậc cao hơn, củng cố và phát triển bốn năng lực chủ yếu của học sinh đã hình thành ở cấp trung học cơ sở đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa Các năng lực đó là :

- Năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng phẩm chất đã được hình thành trong quá trình ruỳen luyện, học tập, giáo tiếp

- Năng lực hợp tác, phối hợp hành động trong học tập và đời sống

- Năng lực sáng tạo, có thể thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống

- Xuất phát từ mục tiêu cấp học

- Đảm bảo tính hệ thống, chỉnh thể và yêu cầu kế thừa trong hoàn thiện và phát triển học vấn phổ thông

- Tiếp tục đảm bảo yêu cầu cơ bản, hiện đại, sát thực với thực tiễn đất nước

- Đảm bảo tính sư phạm và yêu cầu phân hóa

- Góp phần đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

- Tiếp tục coi trọng vai trò của phương tiện dạy học…

Trang 29

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 28

Nội dung của môn lịch sử trung học phổ thông được chia thành hai mảng : Việt Nam và thế giới Trong 3 năm học các em sẽ được học song song cả lịch sử Việt Nam lẫn lịch sử thế giới từ thời cổ đại cho đến hiện đại Các em sẽ có đủ kiến thức về lịch sử dân tộc mình và lịch sử thế giới để có thể so sánh, đánh giá sự phát triển lịch sử của nước mình cũng như các nước khác Hiểu được bản chất của lịch sử dân tộc, bản chất của chủ nghĩa đế quốc…

 Nhận thức của giáo viên đã có sự thay đổi

- Hầu hết các giáo viên lịch sử đều hiểu được cùng với đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình và sách giáo khoa thì việc đổi mới phương pháp dạy học là điều tất yếu không thể thiếu và là nhân tố quan trọng nhất, quyết định đến việc nâng cao chất lượng dạy học lịch sử

- Trong những năm gần đây công tác bồi dưỡng giáo viên đã góp phần quan trọng tạo nên những thay đổi trong nhận thức của giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học Ngoài việc nâng cao trình độ nhận thức và lí luận dạy học cho giáo viên, chương trình bồi dưỡng thường xuyên còn tăng cường năng lực thực thi các phương pháp dạy học tiên tiến và sử dụng các phương tiện hiện đại cho giáo viên dạy học lịch sử ở các trường phổ thông

 Đặc điểm tâm lí học sinh

- Trong các kết quả nghiên cứu tâm lí học sinh và điều tra xã hội ở thanh thiếu niên ở nước ta đã có sự thay đổi trong tâm – sinh lí Các em nhận thức được trong bối cảnh giao lưu, mở cửa của thế giới hiện nay học sinh tiếp thu được nhiều nguồn thông tin Linh hoạt hơn thực tế hơn… các em cũng tự hiểu được đã sinh ra trong một đất nước anh hùng mình phải hiểu biết lịch sử hào hùng của đất nước mình

- Trong học tập các em cũng thích phương pháp học tập mới : khản năng học nhóm, phân tích tổng hợp, so sánh trìu tượng hóa, khái quát hóa…các em thích bày tỏ ý kiến cá nhân của mình… Tất cả điều này sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay

 Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học đã tăng cường

So với trước đây hiện nay cơ sở vật chất kỉ thuật phục vụ cho việc dạy học nói chung và dạy học học lịch sử nói riêng đã có những chuyển biến tích cực

Trong các giờ học hầu như tất cả các học sinh đều có sách giáo khoa Hệ thống bản đồ, lược đồ các trận đánh, chiến dịch, nhân vật hay các vùng lãnh thổ, ranh giới các quốc gia … được phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng Ngoài ra giáo viên có rất nhiều sách tham khảo : hướng dẫn thiết kế bài giảng, sách giáo viên, các sách bài tập, sách bồi dưỡng… Một số băng đĩa hình, film tư liệu cùng các kĩ thuật hiện đại như máy chiếu, máy tính ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong dạy học Điều này là một thuận lợi rất lớn cho việc đổi mới dạy học lịch sử hiện nay

Từ thực tiễn của nền giáo dục nước nhà cũng như những tiền đề từ bên ngoài mang lại cho việc đổi mới phương phá p dạy học Việc đổi mới PPDH hiện nay là một yêu cầu cấp thiết Và để đưa chất lượng của nền giáo dục có thể sánh ngang tầm với các nước trên thế giới đòi hỏi ở mỗi giáo viên cần có một phương pháp dạy học thật hiệ u quả Đòi hỏi Bộ giáo dục phải có những chính sách hợp lí tạo tiền đề cho quá trình đổi mới

Trang 30

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 29

3 Đổi mới phương pháp dạy học

Để chất lượng giáo dục được nâng cao hơn đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội thì cần phải có sự đổi mới một cách toàn diện, tổng thể trong giáo dục

Bắt đầu từ cấp lãnh đạo trong ngành giáo dục phải là những người có năng lực thật sự, phải có tầm nhìn sâu rộng, nắm bắt kịp thời những yêu cầu cấp bách mà nền giáo dục đang cần, phải tạo ra một môi trường là m việc dân chủ cho giáo dục Cần phải điều tra, đi sâu đi sát thực tế, lắng nghe ý kiến của những người trực tiếp giảng dạy, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của học sinh, giải quyết dần những vướng mắc mà nền giáo dục đang gặp phải

Không thể tách rời khỏi thực tế, không phải chỉ có lý thuyết suông, chỉ ngồi

từ trên ra các quyết định để rồi khi đưa vào thực hiện nó đã trở nên lỗ thời, đứt đoạn

Do vậy ta phải đi vào thực tế tìm hiểu nguyên nhân, biện pháp giải quyết Phải đổi mới ở tất cả các cấp từ vĩ mô đến vi mô

3.2 Đổi mới ở cấp vĩ mô

Phải xây dựng một chương trình chuẩn với mục tiêu to lớn là xây dựng cho đất nước những con người hòan thiện cả về nhân- thiện- mĩ và sức khỏe Đó là những học sinh mà ngoài kiến thức sách vở các em có khản năng sáng tạo, làm việc độc lập vận dụng những kiến thức kinh nghiệm có được vào cuộc sống và đủ trí tuệ phục vụ cho đất nước

Cần phải thay đổi cách thi cử đánh giá từ đó sẽ làm thay đổi cách dạy và học

và từ đó để cho giáo viên và học sinh thấy được đúng thành quả mà học sinh đạt được trong quá trình lĩnh hội kiến thức, cũng như để giáo viên thấy được hạn chế của mình để tìm cách khắc phục giúp các em học tốt hơn

Một sự thật đáng buồn của nền giáo dục đó là “bệnh thành tích” Nó đã ăn

sâu, bắt rễ vào tất cả các môi trường giáo dục từ tiểu học cho tới đại học, sau đại

học Bệnh thành tích đã đào tạo ra cho đất học những “ nhân tài ảo” Với một bảng điểm, một tấm bằng tốt nghiệp rất “đẹp” nhưng giá trị thực tiễn của nó lại không

có Nên làm gì để giải quyết tình trạng này? Đây là một câu hỏi được nền giáo dục nước nhà quan tâm và thực hiện rất nghiệm túc Song điều đầu tiên muốn loại bỏ nó

là sự tích cực, tự giác của của giáo viên và học sinh Những con người ở “môi trường trồng người” trước hết phải có cái tâm với nghề, có đạo đức nghề nghiệp, biết hy sinh… như thế mới có thể làm cho nền giáo dục của nước nhà tiến bộ được

Quan trọng nhất là Đảng – nhà nước phải có biện pháp đủ mạnh, mang tính pháp lí, cưỡng chế đủ để răn đe những người làm giáo dục mà có tư tưởng không tốt, không tiến bộ trong giáo dục

3.3 Đổi mới ở tầm vi mô

Chúng ta cần xem xét đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện học tập cũng như phương tiện kiểm tra đánh giá

Trong khóa luận này chúng tôi không bàn nhiều tới đổi mới nội dung, mục tiêu hay ở phương tiện đánh giá mà chỉ quan tâm nhiều tới đổi mới phướng pháp và đổi mới phương tiện dạy học

Ta biết rằng : mục tiêu – nội dung- phương pháp- phương tiện kiểm tra đánh giá có mối quan hệ khá mật thiết với nhau Sự đổi mới cái này sẽ tác động tới cái

Trang 31

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 30

kia Và thật sự trong 4 yếu tố này thì mục tiêu giáo dục là quan trọng nhất, và cho tới cuộc cải cách giáo dục đầu thế kỉ XXI này mục tiêu giáo dục đã thay đổi Tuy nhiên, phương pháp dạy cũ vẫn chưa được giáo viên chú ý

Vì vậy chúng tôi đưa ra một số ý kiến của mình để thúc đẩy quá trình đổi mới giáo dục cho hoàn thiện, làm cho chất lượng giáo dục được nâng cao hơn

Muốn như vậy chúng ta cần phải có cơ sỡ vững chắc để thiến hành thay đổi

Cơ sở vững chắc đó chính là sự chỉ đạo từ cấp trên - từ Bộ giáo dục Bộ giáo dục phải có những chỉ thị - công văn - phải chỉ đạo khuyến khích mạnh mẽ giáo viên ở các trường đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả và chấ lượng học tập của các em

Với những văn bản này nó sẽ là sẽ chỗ dựa vững chắc có giá trị pháp lí cho các trường phổ thông tiến hành thực hiện ý tưởng đổi mới của mình trong việc chọn lọc những phương pháp dạy học mới, có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu : kích thích sự tư duy sáng tạo, sự tự lập của học sinh…

Để làm điều này nền giáo dục nước nhà phải tạo điều kiện cho các trường phổ thông tiến hành thực hiện Đó chính là nhà nước phải bỏ ra một khoản chi phí lớn để xây dựng một cơ sở vật chất tốt, phù hợp cho việc dạy học hiện nay : trang bị máy tính, máy chiếu, phòng học, bàn chế phù hợp với môi trường đào tạo

Còn ở các phòng giáo dục, giáo viên và học sinh cần phải làm gì để thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học mới này Trước hết ở các phòng giáo dục cần phải hưởng ứng một cách nhiệt tình những chỉ thị đề ra Mặt khác giáo viên cũng cần được bồi dưỡng và học tập những phương pháp dạy học mới, để từng bước vận dụng vào tiết học của mình Đặc biệt là giáo viên phải có một trình độ tin học nhất định để thực hiện đổi mới phương pháp có ứng dụng công nghệ thông tin cũng như máy chiếu hộ trợ

Các học sinh cũng có thái độ đúng đắn trong chọ tập nhất là với môn lịch sử Trong quan niệm của các em các môn phụ không quan trọng chỉ học để qua Như thế sẽ không tạo được sự hoạt động tích cực trong học tập Và một khi tất cả mọi thứ

đã thay đổi, các em cũng cần phải thay đổi cách nhìn, cách học… dạy học là có sự tác động giữa giáo viên – học sinh Nếu chỉ có giáo viên hoạt động còn học sinh thụ đông thì kết quả sẽ không được như mong muốn

Do vậy việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng cùng phải có sự đổi mới từ cấp cơ sở tới cấp bộ và ngược lại Phải có sự tác động giữa các cấp với nhau Đổi mới phương pháp dạy và học không phải là một phong trào Nó phải là một chính sách lớn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và được sự đồng thuận rộng rãi của toàn xã hội Chính sách ấy dựa trên những kế hoạch được soạn thảo thực chu đáo, có các nội dung mềm và nội dung cứng Nội dung mềm là triết lý giáo dục Còn nội dung cứng là xây dựng thêm phòng học, mua thêm trang thiết bị, tập huấn nguồn nhân lực tham gia chương trình đổi mới phương pháp dạy

và học

Trang 32

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 31

Theo định nghĩa của trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ ở châu

Á – Thái Bình Dương APCTT (Asean Pacific Center for Technology Transfer) công nghệ bao gồm 4 thành phần:

Phần thiết bị ( Technoware): Bao gồm máy móc, dụng cụ, kết cấu xây dựng,

nhà xưởng Đây là “ phần cứng” của công nghệ, giúp tăng nâng lực cơ bắp ( nhờ máy cơ- điện) hoặc tăng trí lực của con người nhờ máy tính điện tử

Phần con người ( Humanware): bao gồm đội ngũ nhân lực để vận hành, điều

khiển và quản lý dây chuyền thiết bị Phần này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ học vấn chuyên môn, tay nghề của đội ngũ, kể cả kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm Ở đây bao gồm những khía cạnh thành thạo, khéo léo, cần cù, trực cảm, tài nghệ, sáng tạo…

Phần thông tin ( Infnorware): bao gồm dữ liệu, tư liệu, dữ kiện, bản thuyết

trình, mô tả sáng chế, bí quyết, tài liệu chỉ dẫn, đặc tính kỹ thuật… Phần này có thể trao đổi một cách công khai, đơn giản trong dạng mô tả kỹ thuật hoặc được cung cấp

có điều kiện trong dạng bí quyết (Know How) theo luật của bản quyền sở hữu công nghiệp

Phần quản lý- tổ chức ( Orgaware): bao gồm các hoạt động, các liên hệ về

phân bố nguồn lực, tạo lập mạng lưới sản xuất, tuyển dụng nhân lực, trả lương, chế

độ phúc lợi, chính sách khích lệ, kiểm tra… với phần này, công nghệ được hiện thân trong thể chế và khoa học quản lý trở thành nguồn lực

CNTT ở đây – trong khóa luận này - tức là chúng tôi đang nói đến việc ứng dụng vào dạy - học thì chúng tôi tạm gọi là máy vi tính với phần mềm Dreamweaver

để xây dựng thư viện điên tử, và phần mềm hỗ trợ MS Power Point – mạng Intertnet cùng các phương trện máy chiếu hỗ trợ giảng dạy

Nói tới vai trò của công nghệ thông tin ta phải thấy rằng nó có vai trò vô cùng

to lớn đối với con người trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống Từ sinh hoạt hằng ngày tới lao động sản xuất tới học tập, phát triển kinh tế, đặc biệt là bảo vệ quốc phòng an ninh quốc gia

Trang 33

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 32

Vậy khi xét vai trò của công nghệ thông trong bài tôi chỉ xin đi vào vai trò : góp phần phát triển và đổi mới nền giáo dục đất nước

Ta nhận thấy rằng từ khi CNTT phát triển hay nói cách khác từ khi máy tính

và mạng Internet phát triển mạnh mẽ và trở thành một hệ thống trên thế giới nó đã đưa con người nói chung và nên giáo dục của các nước nói riêng phát triển một cách vựot bậc, tiến bộ hơn rất nhiều

Đối với giáo dục CNTT không những giúp cho việc dạy học mà nó còn phục vụ rất lớn trong việc thi cử- quản lí tài liệu, hồ sơ đặc biệt nó giúp con người tìm ra nhiều phương pháp đào tạo phương pháp dạy mới : dạy từ xa, dạy trên máy chiếu

Dạy học qua mạng Internet cho dù bạn đang ở Châu lục nào trên trái đất bạn muốn đăng kí học ở nước nào đi chăng nữa Bạn chỉ cần vào Website đăng kí và như thế là có thể tự học ngay trong phòng của mình qua chiếc máy vi tính

Trong đổi mới phương pháp : CNTT đã hữu ích rất nhiều với những nhà làm giáo dục : những giáo viên thông qua máy tính có thể trình bày được rất nhiều vấn

đề, kiến thức bên ngoài thông qua hình ảnh trực quan, những mô hình, những ví dụ

rõ ràng hay những thước phim sinh động mà học sinh có thể trực quan ngay trên lớp Như vậy sẽ tạo điều kiện cho các em ghi nhớ, tư duy cũng như có hứng khởi trong từng tiết học

Thông qua máy vi tính người giáo viên có thể soạn bài ngay trên các slide trên phần mềm MS power point, flash…và lên lớp giáo viên sẽ dành thời gian không phải ghi bảng để giảng dạy- trao đổi với các em những vấn đề cần thiết qua những Slide trình chiếu

Trong quản lí giáo dục, thi cử CNTT là một công cụ quản lí tài liệu, chấm thi rất nhanh chóng, chính xác tuyệt đối

Hiện nay một số Bộ giáo dục chưa ứng dụng được nhiều vai trò của CNTT vào phát triển nền giáo dục nước nhà nhất là trong việc đổi mới phương pháp dạy học truyền thống bằng phương pháp dạy học mới lấy học sinh làm trung tâm Và công nghệ thông tin sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đổi mới phương pháp này Đó là giảng dạy bằng giáo án điện tử hay những hình ảnh, thước phin tư liệu rất trực quan, hữu ích

Với dạy học lịch sử CNTT có vai trò khá lớn trong việc giúp các em tìm kiếm những nguồn thông tin, nguồn tư liệu đặc biệt CNTT sẽ giúp các em có những tiết học thật trực quan, thật sinh động và hấp dẫn bằng các hình ảnh, các đoạn phim lấy

từ internet được giáo viên trình chiếu cho xem thông qua các tiện dạy học hiện đại

1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng công nghệ thông tin

1.2.1 Xuất phát từ thuyết phản xạ của I.P Pavlov

Theo I.P Pavlov mỗi con người luôn mang tính cá biệt có giá trị riêng và luôn mang tính độc lập tương đối Tuy nhiên sẽ không thể có hoạt động của bất kì cá thể nào nếu không có sự tác động hỗ trợ thường xuyên giữa cá thể này với môi trường xung quanh Và sau nhiều lần thí nghiệm trên động vật ông rút ra kết luận : quá trình nhận thức luôn có hai hệ thống tín hiệu diễn ra không đồng nhất nhưng lại liên hệ chặt chẽ với nhau

Trang 34

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 33

Hệ thống tín hiệu thứ nhất bao gồm các mối liên hệ thần kinh tạm thời có điều kiện, kích thích tác dụng trực tiếp và o các giác quan và gây ra cảm giác ở các tri giác về vật thể và các hiện tượng tương ứng

Hệ thống tín hiệu thứ hai : Nhờ tư duy để khái quát các thông tin nhận được

từ tín hiệu thứ nhất Hình thức thứ hai truyền đi dưới dạng lí tính và các khái niệm, quy luật … lúc này mang tính chủ quan

Như vậy với kết luận này của Pavlov thì việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại sẽ giúp cho hệ thống tín hiệu thứ nhất của học sinh trong học tập lịch sử được phong phú và đa dạng hơn Góp phần làm hệ thống thông tin thứ hai có độ bền cao từ đó các em có thể ghi nhớ lâu hơn

1.2.2 Xuất phát từ thực nghiệm tâm lí

Theo các nhà nghiên cứu và khảo sát tâm lí hiện đại khi tiến hành thực nghiệm và tổng kết mức độ ảnh hưởng của các giác quan trong quá trình học tập và truyền thông như sau:

 Ghi nhớ bằng thị giác : hiệu quả nhớ 70%

 Ghi nhớ bằng thính giác : hiệu quả nhớ 60%

 Kết hợp cả thị giác và thính giác hiệu quả ghi nhớ : 86 %

Do vậy ta thấy được nếu sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học sẽ rất có hiệu quả cho việc ghi nhớ của học sinh

Tổ chức UNESCO cũng đưa ra kết quả điề u tra về mức độ ảnh hưởng của các giác quan đối với các phương tiện truyền thông như sau:

 Nhóm truyền tải thông tin bằng hình ảnh thu nhận 25% lượng thông tin

 Nhóm truyền tải thông tin bằng âm thanh thu nhận 15% lượng thông tin

 Nhóm truyền tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh thu nhận 65% lượng thông tin

Từ các thực nghiệm khoa học người ta tổng kết mức độ tiếp nhận kiến thức trong quá trình dạy học như sau:

- Sự tiếp nhận tri thức khoa học khi học đạt được :

Trang 35

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 34

mức độ tiếp nhận kiến thức rất cao Và nếu ta ứng dụng được điều này vào trong quá trình dạy học thì nó sẽ mang lại một thành công lớn đối với chất lượng giáo dục của các nước

1.3 Quan điểm của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Quan điểm ứng dụng CNTT trong giáo dục

 Ứng dụng CNTT phải được đặt trong toàn bộ hệ thống của quá trình giáo dục, phát huy sức mạnh tổng hợp nhanh đạt mục đích giáo dục CNTT là một loại phương tiện giáo dục Loại hình này có nhiều ưu thế Ứng dụng CNTT ảnh hưởng đến toàn bộ các thành tố của quá trình giáo dục: mục đích, nội dung, phương pháp, giáo viên, phương tiện, tổ chức, hình thức giáo dục Mục đích cụ thể của từng bậc học, cấp học, ngành học, lớp học, bài học có thể thay đổi, song ứng dụng CNTT ( hoà nhập mọi thành tố khác của giáo dục, phát huy sức mạnh tổng hợp) phải góp phần thực hiện mục đích cuối cùng của giáo dục trong từng giai đoạn

 Ứng dụng CNTT phải tính đến phát triển vũ bão của CNTT, sự xâm nhập mạnh mẽ của CNTT vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người CNTT đang phát triển như vũ bão Thiết bị được trang bị năm nay thì 5 năm nữa sẽ lạc hậu Hôm nay đặt kế hoạch xây dựng một phần mềm nào đó, có khi chưa kịp ra đời thì có thể đã có phần mềm khác mạnh hơn Nếu chúng ta nắm được sự phát triển của CNTT thì có thể tiết kiệm được sức lực và tiền bạc một cách đáng kể

 Ứng dụng CNTT vào giáo dục phải phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam Nước

ta hiện nay về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp Con người Việt Nam chưa có nhiều điều kiện tiếp xúc nhiều với máy móc, các sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại Điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn Nhiều trường ở nông thôn còn chưa có

cơ sở vật chất hiện đại Số giáo viên được đào tạo và bồi dưỡng một cách có hệ thống đã có thể sử dụng và ứng dụng CNTT chưa nhiều Nhiều giáo viên và học sinh chưa có điều kiện tiếp xúc với tiếng Anh

 Ứng dụng CNTT vào giáo dục phải mang tính khả thi và phát triển Kinh nghiệm xây dựng các hệ tin học cho thấy yêu cầu tính phát triển là một trong những yêu cầu hàng đầu khi thiết kế hệ thống Trong ứng dụng CNTT tính khả thi không được tính phát triển CNTT phát triển rất nhanh Không thể phát triển hệ mới để rồi vứt bỏ hệ cũ đã tiêu tốn nhiều công sức và tiền của Để đảm bảo tính khả thi và phát triển thường người ta đưa vào quy trình thiết kế hệ thống tin học các bước sau:

+ Thiết kế hệ thống lý tưởng, không hạn chế

+ Điều chỉnh hệ thống lý tưởng sao cho khả thi

 Ứng dụng CNTT trong giáo dục cần được phân cấp Hệ thống giáo dục là

hệ thống được phân cấp, cấp trung ương, cấp sở, cấp phòng, cấp trường Mỗi cấp có những đặc thù riêng, vấn đề riêng, nhiệm vụ cụ thẻ riêng CNTT của từng cấp phải phục vụ cụ thể nhiệm vụ của từng cấp đó, trong khuôn khổ nhiệm vụ chung và phải phù hợp với đặc điểm riêng của từng cấp

 Khi ứng dụng CNTT vào dạy học cần theo phương châm mạnh dạn, không cầu toàn Tốc độ phát triển của CNTT rất nhanh chóng, nếu chúng ta chần chừ, cầu toàn sẽ không bao giờ ứng dụng được và càng lạc hậu Một mặt, phải cân nhắc kỹ lưỡng để tiết kiệm tiền của, công sức nhưng mặt khác cũng mạnh dạn để tiết kiệm thời gian, vừa làm, vừa điều chỉnh

Trang 36

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 35

 Ứng dụng CNTT trong giáo dục không phải thủ tiêu vai trò của giáo viên

mà trái lại cần phát huy vai trò tích cực hoạt động của giáo viên trong quá trình giáo viên CNTT là phương tiện giáo dục, phương tiện này dù hiệu lực đến mấy cũng không thủ tiêu vai trò giáo viên Giáo viên vẫn là người tổ chức các hoạt động cho học sinh, nhưng trong các hoạt động này có sự tham gia của CNTT với tư cách là phương tiện giáo dục

 Ứng dụng CNTT trong giáo dục phải góp phần dạy học tin học Việc sử dụng CNTT trong giáo dục có thể góp phần hình thành ở học sinh những yếu tố nội dung tin học, ít nhất là ở chỗ:

 Thông qua việc học tập trên, học sinh được làm quen với những thao tác sử dụng máy

Bản thân học sinh được trải nghiệm những ứng dụng tin học và CNTT trong quá trình dạy học, điều đó có tác dụng tạo động cơ cho việc học tập những nội dung tin học Thêm vào đó, chính bản thân những ứng dụng của tin học và CNTT cũng là một trong những nội dung cần truyền thụ

1.4 Thực trạng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ở các

Ở Mỹ, các phương tiện nghe nhìn được đa dạng hóa và hiện đại hóa Phim đèn chiếu sách giáo khoa được lồng tiếng và tăng tiếng động bằng nhiều biện pháp khác nhau

Nền giáo dục ở các nước Anh, Pháp, Đức cũng đã đưa chương trình truyền thanh, truyền hình vào học đường và thực hiện nhiều loại trường lớp, phương thức hoạt động khác nhau

Ở Nhật, từ 1960 đã tổ chức nghiên cứu mẫu và sản xuất phim sách giáo khoa dùng trong nhà trường Tính đến năm 1984, nước Nhật có 29 trung tâm nghe nhìn

và 814 thư viện nghe – nhìn Theo một kết quả điều tra 1992 về trang bị máy tính ở Nhật cho thấy : bậc tiểu học được trang bị 50% , bậc trung học cơ sở được 86,1%, bậc phổ thông trung học được 99,4%

Ở Hàn Quốc, vào thời gian này cũng có tới hơn 50% trường tiểu học dạy – học tin học Ở Singapore trong danh mục thiết bị dạy học có đến hàng trăm đề tài băng hình Riêng cho việc đổi mới dạy học, cuối 1999 tất cả các trường học đã nối mạng internet với gia đình Mỗi trường học được đầu tư 2.5 triệu USD cho thiết bị công nghệ tin học, trung bình cứ 2 học sinh có một máy tính

Từ 1986-1991 ở Malaysia đã trang bị 365 trung tâm nghe nhìn cấp huyện và

4229 trung tâm nghe nhìn của các trường tiểu học nông thôn ( trong tổng 6795 trường tiểu học cả nước)

Trang 37

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 36

Như vậy, qua những con số này ta thấy rằng đối với nền giáo dục của các nước lớn trên thế giới cũng như các nước trong khu vực đã có sự đổi mới từ rất lâu theo hướng hiện đại hóa bằng việc ứng dụng khoa học kỉ thuật vào dạy học, nhất là

sử dụng máy tính và các phương tiện nghe nhìn Từ đó ta cũng hiểu được tại sao chất lượng giáo dục của các nước này lại rất tốt, rất cao so với các nước khác trên thế giới Đây cũng là một phương thức giáo dục mà chúng ta nên suy ngẫm và áp dụng cho nến giáo dục nước nhà

Ở nước ta, nhận biết được vai trò của CNTT, Đảng và Chính phủ ta đã ban hành nghị quyết 49/CP về phát triển công nghệ thông tin đến năm 2000

Trong giai đoạn này Đảng và Chính phủ tìm các giải pháp huy động nguồn nhân lực cả con người và cơ sở vật chất nhằm tiếp cận với công nghệ và thiết bị máy mới này Với sự chỉ đạo của Bộ một số trường Đại học đã thành lập trung tâm đào tạo tin học và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực công nghệ thông tin Trung tâm tính toán và ứng dụng tin học của trường ĐH Bách Khoa Hà Nội đã được thành lập và được trang thiết bị của Liên Xô

Các trường Đại học Bách Khoa – Đại học Tổng Hợp- Đại học Kinh Tế thuộc Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh sớm thành lập trung tâm tin học để bắt nhịp với trình độ phát triển chung của thế giới

Từ cuối năm 1992 bộ giáo dục và đào tạo đã có chủ trương đẩy mạnh đào tạo

tin học và chủ trương xây dựng dự án “đưa tin học vào các trường phổ thông.” Và

mục tiêu đưa tin học trở thành ngành học chính

Thực hiện nghị quyết của Đảng và Chính phủ nền giáo dục nước ta nhanh chóng đào tạo được một đội ngũ chuyên viên lành nghề trong lĩnh vực công nghệ thông tin, giáo dục phổ cập CNTT trong các trường phổ thông

Theo dự kiến của Thủ tướng Võ Văn Kiệt phê duyệt cho đến năm 2000 lực lượng cán bộ chuyên viên CNTT khoảng không dưới 20.000 người

Để có một đội ngũ giáo viên có trình độ tin học sau đại học theo dự kiến của Vụ giáo dục hàng năm cả nước phải đạo tạo 150 thạc sĩ, 30 tiến sĩ Và cho đến 2010

số lượng tuyển sinh đào tạo CNTT sau đai học tăng lên như sau13

Theo dự báo của Vụ giáo dục đến năm 2010 đội ngũ cán bộ giáo viên tin học

ở các trường phổ thông cần tới khoảng 8.000 người Mức chi phí cho lương và việc đào tạo giáo viên Tin học chiếm một số tiền lớn trong ngân sách nhà nước

Với sự quan tâm của Đảng - Nhà nước và Chính phủ việc đưa tin học vào nhà trường ngày càng mở rộng Tuy nhiên việc đưa tin học vào trường phổ thông hiện nay mới chỉ làm được một phần việc rất nhỏ chỉ tiến hành xóa mù tin học cho học sinh mà thôi Còn việc ứng dụng những thành tựu của tin học vào việc đổi mới

13

Báo cáo tại Hội nghị đào tạo sau Đại học – Bộ Giáo dục- Đào tạo 13/3/1999

Trang 38

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 37

phương pháp dạy học lại chưa được thực hiện nhiều Nhất là ở các tỉnh lẻ thì việc đổi mới phương pháp có sự hổ trợ của những phương tiện kĩ thuật hiện đại này lại càng khó khăn và ít được thực hiện

Việc ứng dụng thành tự khoa học kĩ thuật này là một lợi thế rất to lớn đôi với nền giáo dục nước ta Từ đó có thể thay đổi phương pháp dạy hiệu quả hơn và tất nhiên chất lượng giáo dục sẽ được nâng cao hơn

Theo chỉ thị 58 CT/TW của bộ chính trị khẳng định: “Đẩy mạnh ứng dụng

CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo, ở các bậc học, nghành học”

Ngày 30-7-2001 Bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo có chỉ thị 29/CT – BGDĐT đề ra nhiệm vụ ứng dụng CNTT – TT tới mức 2002- 2005 phải ứng dụng khoảng 5- 10% thời gian giảng vào các môn học khác ở trường phổ thông có sử dụng CNTT –TT để thực hiện giáo án điện tử

Theo tuổi trẻ số ra 42/2002, thứ 7 ngày 9-3-2003 Tiến sĩ Lê Phương Đông có

bài: “Bao giờ có vị trí xứng đáng trong dạy học” Qua kết quả khảo sát 15 Tỉnh và

Thành phố ông cho biết hầu hết các trường phổ thông đều có máy tính nhưng hầu hết máy đã cũ còn ở mức độ yếu Một số trường đưa tin học vào giảng dạy nhưng hầu hết còn mang tính lí thuyết và thiếu khản năng ứng dụng

Theo cuộc khảo sát của nhiều nhà nghiên cứu thì việc ứng dụng và đưa tin học vào THPT hiện nay có nhiều dấu hiệu đáng mừng :

Giảng viên Nguyễn Văn Hồng – Trường cao đẳng sư phạm Cần Thơ thăm dò thực trạng về việc ứng dụng CNTT ở 6 tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long ( 2006) có kết quả như sau:

Đối với sở giáo dục và đào tạo:

Khi tìm hiểu chủ trương chính sách 100% ý kiến cho rằng có quan tâm tới việc đựa CNTT vào trường phổ thông 75% cho rằng tỉnh, thành phố đã hoạch định cụ thể triển khai công nghệ thông tin vào trường phổ thông theo giai đoạn phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương 50% ý kiến đồng ý đưa ra các ý kiến quy định cụ thể nhằm khuyến khích nhiều đơn vị giáo dục và các nhân ứng dụng CNTT trong giáo dục

Hầu hết các trường phổ thông này đã sử dụng máy tính để quản lí hồ sơ, thi

cử, quản lí tài chính… Tuy nhiên chưa có đơn vị nào khuyến khích đánh giá trong dạy học thường xuyên

Một bất cập đối với các sở giáo dục này là : do nguồn ngân sách có hẹp, nên vấn đề tài chính ở các tỉnh rất khó khăn phần lớn chỉ sử dụng CNTT trong quản lí nghành, quản lí trường là chủ yếu Còn việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập chưa nhiều

Đối với các phòng giáo dục và đào tạo

Quan điều tra có tới 6/9 ( tức 66,66%) phòng giáo dục và đào tạo thực hiện chủ trương đưa CNTT vào trường phổ thông, nhưng chỉ có 11,11% đơn vị có hoạch định cụ thể từng giao đoạn Hầu hết (9/9) các trường phổ thông đã sử dụng máy tính và các phần mềm trong quản lí giáo dục còn việc ứng dụng vào dạy học lại rất khiêm tốn có 2/28 ( 7,14%) số trường có ứng dụng CNTT trong dạy học Việc dành riêng khoản kinh phí cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học có 2/9 (22,22%) đơn vị đã thực hiện

Trang 39

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 38

Việc đưa tin học vào trường Trung học cơ sở : phiếu thăm dò của giảng viên

Nguyễn Văn Hồng – trường Cao đẳng sư phạm Cần Thơ ở 265 trường của 4 tỉnh14

( 2006) kết quả thu được như sau :

28/265 trường = 10,56 % có chủ trương, văn bản riêng của nhà trường về ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học

6/28 trường = 21,42 % đã triển khai thực hiện Nhưng chỉ có 2/28 trường đã triển khai thực hiện từng giai đoạn

Số lượng máy tính theo thống kê được kết quả như sau:

Có 32 máy/28 trường THCS Số lượng máy tính dành cho giáo viên 19 máy/1762 giáo viên Số lượng máy tính dành cho học sinh 179 máy/ 40.964 học sinh

Về trình độ CNTT của giáo viên : Đại học và Cao đẳng : 8,06% Giáo viên

đã qua ít nhất một khóa bồi dưỡng CNTT : 32,02% Biết sử dụng các phần mềm soạn thảo văn bản, Word , Excel, Power Poit…: 40,09% Số tiết CNTT không đáng

kể Giáo viên có máy tính dùng riêng là 11, 73%

Thực trạng trên cho thấy việc đưa CNTT vào trường học ở khu vực phía Nam nói riêng và cả nước nói chung vẫn chưa được đầu tư đúng mức, các trường rất thiếu

cơ sở vật chất, thiết bị dạy học…, đội ngũ giáo viên còn rất yếu về CNTT

Đánh giá chung : Thực tế tới thời điểm hiện nay hầu như ở các trường phổ

thông ở các tỉnh và thành phố đã đưa tin học vào nhà trường Tuy nhiên mức độ chung của tình hình sử dụng bài giảng điện tử ở các trường rất khác nhau Nhìn chung thì ở các thành phố lớn đã có rất nhiều trường ứng dụng giáo án điện tử vào giảng dạy, còn ờ các tỉnh lẻ khác thì hầu như chưa có và nếu có thì cũng không thường xuyên

Thực tế trong kì thực tập kì I ( năm học 2007-2008) và kì II năm học

2008-2009 tôi được tận mắt chứng kiến cũng như qua lời nhận xét của các bạn thực tập thì nhiều trường THPT tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở vật chất rất tốt, phòng học được trang bị máy chiếu và giáo viên rất khuyến khích sử dụng bài giáo

án điện tử để giảng dạy:

Trường THPT Nguyễn Hiền ( quận 11)

Trường THPT Nguyễn Chí Thanh ( quận Tận Bình)

Có những trường 100% phòng học được trang bị máy chiếu : trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, THPT Trần Đại Nghĩa, THPT Lê Quí Đôn, THPT dân lập Trương Vĩnh Ký… Hầu như trường học nào cũng được trang bị máy chiếu phục vụ giảng dạy Tuy nhiên hầu như đa số trường còn lại cũng chỉ mới có vài phòng nghe nhìn là có máy chiếu mà thôi Song nhìn chung là hầu hết các trường đã sử dụng và khuyến khích giảng dạy bằng giáo án điện tử

14 Cần Thơ, Hậu Giang, Bến Tre, Cà Mau

Trang 40

SVTT : Lưu Văn Hoá & Mai Lễ Nô En 39

Tuy nhiên đây là mặt bằng chung của các trường PTTH trong Thành phố, nếu chúng ta đi lùi sâu hơn vào các tỉnh lẻ, nhất là huyện vùng sâu thì thực tế lại rất khác, và hoàn toàn ngược lại

Qua cuộc khảo sát của Phạm Bảo Toàn về thực tế sử dụng giáo án điện tử ở

6 trường THPT : Huỳnh Văn Nghệ, Tân Bình, Thường Tân, Lê Lợi, Tân Phước Khánh và Thái Hòa với hơn 10.000 học sinh thuộc huyện Tân Uyên ( tỉnh Bình Dương) ta phần nào hiểu được điều đó Lưu ý rằng đây là huyện vùng sâu vùng xa của tỉnh Bình Dương trang bị cơ sở vật chất còn tương đối nghèo nàn thu được kết quả như sau:

Trình độ tin học của giáo viên cũng rất hạn chế Kết quả khảo sát tại trường Huỳnh Văn Nghệ như sau15

: Trình độ Số lượng Phần trăm (%)

và cần “báo động” trình độ tin học của giáo viên rất thấp, việc sử dụng giáo án điện

tử vào giảng dạy rất hiếm, tức chỉ thỉnh thoảng ở một số giáo viên mà thôi

Không chỉ ở Bình Dương mà còn rất nhiều tỉnh khác cũng có trình trạng tương tự Lấy ví dụ ở tỉnh Thanh Hóa, tại huyện Nông Cống- (không phải là huyện miền núi) có 6 trường THPT16

song chưa có trường nào có phòng máy chiếu để học bằng giáo án điện tử

Nhìn chung ở một số tỉnh thành phố phát triển thi việc sử dụng giáo án điện

tử cũng có bước tiến hơn Qua việc điều tra ở trường phổ thông tại thành phố phát triển nhất nước ( Tp Hồ Chí Minh) ta sẽ thấy rõ điều đó:

Qua thống kê của Phan Văn Cả và Lê Vi Hảo cho thấy hầu hết giáo viên đã từng tiếp xúc và sử dụng vi tính (87,5%) nhưng chỉ ở mức độ thỉnh thoảng Có đến 12,5% số giáo viên chưa sử dụng máy vi tính dưới mọi hình thức Tất cả các giáo viên được hỏi đều khẳng định tầm quan trọng của việc khai thác công nghệ thông tin phục vụ cho việc học tập và giảng dạy (100%) giáo viên khẳng định như vậy Khoảng 43,7% giáo viên được hỏi đã sử dụng phòng nghe nhìn để giảng dạy và phục vụ cho giờ thao giảng Số giáo viên sử dụng phần mềm Power Point để soạn giáo án điện tử còn rất khiêm tốn

15 Ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế hệ thống bài giảng điện tử và tìm kiếm tư liệu hổ trợ đổi mới phương pháp dạy học môn hóa lớp 10 THPT– Luận văn tốt nghiệp của Phạm Bảo Toàn

16 THPT Nông Cống I, THPT Nông Cống II, THPT Nông Cống III, THPT Nông Cống IV, THPT Bán công

số I Nông Cống , và Trung tâm giáo dục thường xuyên dạy nghề Nông Cống

Tổng số giáo

viên

Số lượng giáo viên sử dụng giáo án điện tử

Số lượng giáo viên không

sử dụng giáo án điện tử

Ngày đăng: 09/03/2015, 19:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Côi (2006), Các con đường và biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử ở trường THPT, Nxb ĐHSP Khác
2. Những công trình khoa học tiêu biểu (1976 -2006 ) - Khoa Lịch Sử, Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb GD, 2006 Khác
3. Công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo – ban công nghệ thông tin, Nxbgd &ĐT, 1997 Khác
4. Bùi Loan Thùy, Lê Văn Viết ( 2001), Thư viện học đại cương, Nxb ĐH Quốc Gia TP HCM Khác
5. Viện thông tin khoa học xã hội (2000), Tri thức thông tin và phát triển, Nxb T.T KHXH HN Khác
6. Trịnh Đình Tùng(Cb), (2005), Hệ thống phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở, Nxb ĐHSP Khác
7. Nguyễn Khắc Khoa, Quản lí công nghệ thông tin Khác
8. Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Nhƣ Ý , Nguyễn Văn Thóa , Đinh Quang Sƣ̉u, (2002), Một số vấn đề về cách dạy và cách học, Nxb Hà Nội Khác
9. Robert J Marzano, Các phương pháp dạy học hiệu quả Khác
10. Lê Nguyên Long (2000), thử đi tìm một phương pháp dạy học hiệu quả, Nxb Giáo Dục Khác
11. Nguyễn Thị Côi (2000), Kênh hình trong dạy học lịch sử phổ thông, Nxb ĐH Quốc Gia Hà Nội Khác
13. Phạm Viết Vượng ( 2007), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb ĐHQGHN Khác
14. Phan Trọng Ngọ ( Cb) (2000), Những vấn đề trực quan trong dạy học, tập 1 : Cơ sở triết học của nhận thức trực quan, Nxb ĐH QG Hà Nội Khác
15. Benjamin s. Bloom (1995), Nguyên tắc phân loại mục tiêu giáo dục trong lĩnh vực nhận thức, Đoàn Văn Điều dịch, Nxb Giáo Dục Khác
16. Tô Xuân Giáp, 1997, Phương tiện dạy học, Nxb Giáo Dục Khác
17. Nguyễn Hải Châu , Phạm Thị Sen (Cb), Nguyễn Đƣ́c Vũ , Nguyễn Thị Khác
18. Lê Vinh Quốc (2008), Các yếu tố cơ bản trong quá trình giáo dục hiện đại và vấn đề đổi mới dạy học ở Việt Nam ( lý thuyết và ứng dụng) chuyên đề đổi mới dạy học, Nxb ĐHSP TP.HCM Khác
19. Nguyễn Khánh Toàn (2002), Bàn về giáo dục Việt Nam, Nxb Lao Động Khác
20. Đặng Thành Hƣng ( 2002), Dạy học hiện đại lí luận, biện pháp kỉ thuật, NXB Quốc gia Hà Nội Khác
21. Phan Ngọc Liên ( Cb), (2003), Phương pháp luận sử học, Nxb ĐH Sư Phạm Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thức  đơn  điệu  :  tự luận là chính - đề tài xây dựng thư viện điện tử hỗ trợ dạy học lịch sử việt nam
nh thức đơn điệu : tự luận là chính (Trang 20)
Hình thức  tổ chức - đề tài xây dựng thư viện điện tử hỗ trợ dạy học lịch sử việt nam
Hình th ức tổ chức (Trang 26)
Hình 49. Liên quân Pháp- Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng năm 1858. - đề tài xây dựng thư viện điện tử hỗ trợ dạy học lịch sử việt nam
Hình 49. Liên quân Pháp- Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng năm 1858 (Trang 90)
Hình 64. Lược đồ căn cứ Ba Đình (trang 130) - đề tài xây dựng thư viện điện tử hỗ trợ dạy học lịch sử việt nam
Hình 64. Lược đồ căn cứ Ba Đình (trang 130) (Trang 91)
Hình ảnh đoàn quân Nam tiến. - đề tài xây dựng thư viện điện tử hỗ trợ dạy học lịch sử việt nam
nh ảnh đoàn quân Nam tiến (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w