1. Trang chủ
  2. » Vật lí lớp 11

Tai lieu BDTX Lich su dia phuong Ha Tinh

123 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 77,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi vào đến Đỗ Gia, nghĩa quân Lam Sơn được nhân dân địa phương và các hào kiệt tiếp thêm tài lực, như Nguyễn Tuấn Thiện, lãnh tụ của đội quân Cốc Sơn, người làng Phúc Đậu, xã Sơn Dương [r]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

SỞ KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ - MÔI TRƯỜNG HÀ

TĨNH

LỊCH SỬ

HÀ TĨNHSÁCH GIÁO KHOA PHỔ THÔNG

ĐỊA PHƯƠNG HỌC

(Tái bản lần thứ 3 có bổ sung)

Biên soạn: PHAN ĐÌNH BƯỞI

Thường vụ Hội khoa học GDLS Việt Nam

2015

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

"Lịch sử Hà Tĩnh" - sách Giáo khoa dùng trong tường PT - được biên soạn để dạy trong các tiết học lịch sử địa phương mà chương trình lịch sử của Bộ giáo dục - Đào tạo quy định.

Sách này gồm có 8 bài, trong 11 tiết quy định Bài 1: Hà Tĩnh trong buổi đầu của lịch sử Bài 2: Những thành tựu của Hà Tĩnh trong quốc gia phong kiến Đại Việt (T.K,X-XVII)

sử dụng.

Sách: "Lịch sử Hà Tĩnh" này khó tránh khỏi thiếu sót Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh mong

Trang 4

nhận được những lời góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các em học sinh và bạn đọc gần xa để chúng tôi sửa chữa, bổ sung, nâng cao chất lượng trong những lần tái bản.

Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh xin chân thành cảm ơn Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tĩnh, Ban Văn xã tỉnh Hà Tĩnh, Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường Hà Tĩnh, các tác giả những cuốn sách viết về lịch sử Hà Tĩnh và các giáo viên

có kinh nghiệm đã giúp đỡ tư liệu, góp ý kiến quý báu khi biên soạn tập sách Giáo khoa Lịch sử địa phương này.

SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HÀ TĨNH

Giám đốc

Chủ nhiệm đề tài giáo khoa địa phương học

ĐINH LÊ BÁU

Trang 5

Bài 1

HÀ TĨNH TRONG BUỔI ĐẦU LỊCH SỬ

I - THỜI NGUYÊN THỦY

Ở Hà Tĩnh, các nhà khảo cổ học đã khai quậtđược nhiều di chỉ: Phái Nam (Thạch Hà), Phôi Phối(Nghi Xuân), Rú Dầu (Đức Thọ), Cồn Lôi Mốt(Thạch Hà) v.v

Những di chỉ khảo cổ đó cho chúng ta biết đượcngười nguyên thủy ở Hà Tĩnh cách đây khoảng 5-6ngàn năm Đó là các bộ lạc người sống và làm đồgốm, trồng lúa nước đầu tiên trên đất Hà Tĩnh

1 Những người làm gốm đầu tiên

Các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều di chỉ làm gốmcủa người nguyên thủy Khai quật di chỉ Phái Nam(Thạch Hà), trong một hố đào 60m2, các nhà khảo cổ

đã tìm được hơn 5.000 mảnh đồ gốm vỡ Đất sét làmgốm được trộn thêm cát, nặn thành dải rồi cuộn chồnglên nhau theo đường xoắn ốc từ dưới lên trên, bắt đầu

từ núm nhọn ở đáy Chỉ trong 60m2 đó, người ta tìmđược 102 mảnh nồi đáy nhọn, có nghĩa là đã có 102chiếc nồi đáy nhọn vỡ ra ở đây Cho nên, có thể nói,làm nồi đáy nhọn là trình độ kỹ thuật của ngườinguyên thủy Hà Tĩnh bấy giờ Các nhà khảo cổ họccũng đã tìm thấy những đám tro than, ở giữa cónhững hòn đá ám khỏi, một số hòn nứt nẻ vì lửa nung,thường có ba hòn được kê để bắc nồi Đó là bếp của

Trang 6

người nguyên thủy ở đây Trong tro than, đôi khi lẫnxương thú, xương cá và xương càng cua, cũng có khitìm được răng voi và răng tê giác Như vậy là ngườiNguyên thủy ở Hà Tĩnh bấy giờ đã săn bắt được cảnhững loài thú lớn bên cạnh lượm bắt sò điệp để sống

là chủ yếu mà dấu tích ngày nay còn lại là những cồn

12 cm, mặt trước được mài cẩn thận, lưỡi cuốc mỏng

và cong về phía trước Cái cuốc đó chính là công cụ

để trồng trọt, trước hết là trồng lúa nước của ngườinguyên thủy ở đây

Người ta cũng tìm thấy cái bàn nghiền để xát thóc.Trong 150m2 ở bãi Phôi Phối đã tìm được 35 phiến đáxát thóc Những phiến đá này dài khoảng 25cm, rộng

( 1) Quỳnh Văn - Nghệ An Di chỉ Quỳnh Văn biểu tượng cho một nền văn học nguyên thủy Việt Nam.

Trang 7

7-9cm Tại đây, người ta cũng tìm thấy những condao bằng đá, có khả năng là những con dao cắt lúa.Như vậy là thời ấy, nông nghiệp trồng lúa đã bướcđầu chiếm vị trí chủ yếu trong cuộc sống của cư dânnguyên thủy Hà Tĩnh, và họ cũng đã bắt đầu khai pháđồng cói, rừng cây để mở rộng địa bàn cư trú.

Bên cạnh đó, họ đã biết dệt vải, biết trang sứcbằng vỏ sò, vỏ ốc đẹp, những vành khuyên bằng đáhoặc bằng đất nung

Tóm lại, ở Hà Tĩnh con người đã trải qua thời hậu

đá mới Cộng đồng người nguyên thủy ở đây, thời bấygiờ là những cư dân làm nghề nông, trồng lúa, làmgốm, dệt vải "Có thể nói, phần lớn đất trồng lúa củangười Hà Tĩnh ngày nay đã thấm đậm mồ hôi của tổtiên ta từ cuối thời đá mới"(1)

CÂU HỎI

1 Theo em, vì sao người ta biết ở Hà Tĩnh, con người

đã trải qua xã hội nguyên thủy, thời hậu đá mới?

2 Hãy nêu sự phát triển của người nguyên thủy ở HàTĩnh?

Bài đọc thêm:

( 1) Hà Văn Tấn: Nghệ Tĩnh thời nguyên thủy

Trang 8

1 DI CHỈ KHẢO CỔ BÃI PHÔI PHỐI

Bãi Phôi Phối ở xã Xuân Viên (Nghi Xuân) là một

gò cát rộng, nằm cạnh ngọn Cửa Rào - Mỹ Dương,dưới chân phía đông dãy Hồng Lĩnh, phía nam hạ lưuSông Lam

Di chỉ khảo cổ Phôi Phối là di chỉ nhiều tầng rấtgiá trị trong nghiên cứu lịch sử xã hội nguyên thủy ởnước ta, nhất là ở Hà Tĩnh

Ở đây, các nhà khảo cổ học đã khai quật và tìmđược lớp đất sâu của di chỉ này những công cụ bằng

đã được ghè đẽo bên cạnh những nồi gốm đáy nhọn,

có hoa văn hai mặt Loại đồ đá và đồ gốm ở Phôi Phốigiống với đồ đá, đồ gốm ở Thạch Hà trong di chỉ PháiNam

Càng lên lớp trên, công cụ đá được ghè đẽo vắngdần rồi mất hẳn, đồ gốm đáy nhọn cũng giảm dần, đồgốm đáy tròn tăng lên Ở mặt ngoài đồ gốm đáy tròn

có in dấu dây thừng, loại gốm được làm bằng bànxoay

2 XƯỞNG CHẾ TẠO RÌU ĐÁ Ở RÚ DẦU

Rú Dầu nằm giữa hai xã Đức Bồng, Đức Lạc(Đức Thọ) Đó là di chỉ khảo cổ của một xưởng chếtạo rìu đá thời nguyên thủy

Cho đến nay, trên sườn rú Dầu vẫn còn vô sốnhững chiếc rìu đá mới, được ghè đẽo, chưa mài Đó

là những chiếc "Phác vật rìu đá"

Trang 9

Người nguyên thủy đã đến rú Dầu - ghè vỡ đá núi

và chế tác công cụ tại chỗ Trên rú Dầu hầu hết làphác vật rìu, không thấy đá mài Có thể là cư dânnguyên thủy đến rú Dầu làm phác vật rìu, rồi đưa vềnơi ở mài, hoặc là đưa trao đổi với những bộ lạc ởnhững nơi không có đá tốt để làm rìu Sau đó, họ sẽmài thành cái rìu hoàn thiện

Trên thế giới, khảo cổ học cũng đã tìm thấy nhiềunơi có hiện tượng chế tác công cụ đá và trao đổi nhưvậy

3 ĐỒ GỐM CÓ TẠI THỜI NGUYÊN THỦY Ở

HÀ TĨNH.

Ở Thạch Lạc (Thạch Hà), các nhà khảo cổ học đãtìm thấy trong di khảo cổ những đồ gốm có tai

Tai là những thỏi đất dài khoảng 4-5 cm được gắnvào miệng để đựng khi đất hãy còn ướt Những tainày có mặt cắt ngang hình bán nguyệt, hình chữ nhậthoặc hình tròn

Ở mặt trên của tai, người nguyên thủy vẽ lênnhững hình trang trí đẹp như hình thoi hoặc hình tamgiác

Ở di chỉ bãi Phôi Phối tìm được tai còn gắn vớimiệng đồ đựng Ở di chỉ rú Trò (Thạch Lâm, ThạchHà) các nhà khảo cổ học tìm được một tai gốm cong,đầu mút được nắn chẻ đôi, giống hình đuôi cá

Trang 10

4 CON DẤU ĐỂ LÀM VẢI HOA VÀ ĐỒ TRANG SỨC CỦA NGƯỜI NGUYÊN THỦY Ở HÀ TĨNH

Ở Thạch Lạc (Thạch Hà) khảo cổ học tìm đượctrong di chỉ con dấu tròn bằng đất nung, có đườngkính 7,5cm, một mặt có hai gờ nổi cao hơn 1 cm, mộtmặt khác có hình hoa thị 4 cánh nằm trong một vòng

có 15 cánh nhọn, trông rất đẹp

Những con dấu như thế này khảo cổ học cũng đãtìm thấy ở di chỉ Hoa Lộc (Thanh Hóa) Một số di chỉkhác ở Đông Nam Á, người ta cũng tìm được con dấubằng đất với sợi vải còn dính trong nét khắc

Do đó có thể nói người nguyên thủy ở Hà Tĩnhthời hậu đá mới đã biết dệt vải và đã bắt đầu có nhữngmảnh vải hoa sơ khai

Ở bãi Phôi Phối, người ta cũng thấy có nhiều đồtrang sức như vỏ sò, vỏ ốc đẹp, những chiếc khuyêntai bằng đất nung, có đường vạch hoặc đường chấmtrang trí

Ở di chỉ Thạch Lạc (Thạch Hà) khảo cổ học cũngtìm được vòng đeo tay bằng đá rất đẹp

II - HÀ TĨNH THUỞ VUA HÙNG

1 Hà Tĩnh: Bộ Cửu Đức thuở vua Hùng

Một nước Văn Lang của Vua Hùng đã từng tồn tạitrong truyền thuyết Đến khi các nhà khảo cổ học khai

Trang 11

quật được những di chỉ, đặc biệt là di chỉ Đông Sơn,thì thời đại Vua Hùng với một nền văn minh VănLang - Âu Lạc hiện lên với nền tảng vật chất dày dặn

và một đời sống tinh thần phong phú

Hà Tĩnh có rất nhiều di tích văn hóa Đông Sơn.Các nhà khảo cổ học thường gặp dấu vết văn hóaĐông Sơn lộ ra ở đôi bờ sông phía Bắc Hà Tĩnh, cónơi kéo dài tới mấy cây số như ở Nghi Xuân, bờ namsông Lam, ở Đức Thọ, bên bờ sông La

Các tài liệu khảo cổ thu thập được giúp chúng tahình dung cuộc sống của người Hà Tĩnh thuở các vuaHùng dựng nước

Hà Tĩnh bấy giờ là Bộ Cửu Đức, một trong 15 bộ

tả nước Văn Lang

Bộ Cửu Đức là miền đất phương Nam xa xôi tớitận dãy Hoành Sơn của các vua Hùng Theo truyềnthuyết cũng đã có những lần vua Hùng thứ 13, vuaHùng thứ 18 tuần du tới với muôn dân ở đây, đã từngdừng lại khá lâu ở rú Bơờng, tức là ngọn Bằng Sơn ởven biển giữa Thạch Hà - Can Lộc ngày nay

2 Sản xuất và đời sống của dân cư bộ Cửu Đức

a) Nghề nông bấy giờ đã phát triển, với công cụbằng đồng, nhất là chiếc lưỡi cày bằng đồng, trâu bò

là những con vật nuôi thân quen để kéo cày, trồng lúa

Trang 12

nước của cư dân Năng suất lúa đã cao hơn trước, conngười đã bắt đầu có của đủ ăn và có dư thừa chút ít.b) Nghề làm gốm, đúc đồng phát triển Ở di chỉXuân An (Nghi Xuân) khảo cổ học tìm được nồi gốm

có dấu xỉ đồng, chứng tỏ đồ đồng đã được đúc ở đây.Trong số những đồ đồng tìm được dưới chân rú Dầu -Đức Thọ có chiếc rìu xéo lớn thuộc một kiểu đặc biệtchưa hề gặp ở nơi khác

Bên cạnh nghề đúc đồng phát triển, nghề luyện sắtcũng đã bắt đầu Ở Xuân Giang (Nghi Xuân) khảo cổhọc đã tìm được lò luyện sắt cùng thời Đó là mộtkiểu luyện hoàn nguyên trực tiếp của người Hà Tĩnhthuở Vua Hùng trong nước Văn Lang

c) Về tinh thần, cư dân trong bộ Cửu Đức thời bấygiờ đã biết trang điểm, đồng thời đã có những lễ nghikhi chôn người chết Người ta cũng đã biết du nhậpnhững chiếc khuyên tai bằng đá màu đen nhánh từNam ra và du nhập những nghi lễ từ Bắc vào

Tóm lại, bộ Cửu Đức của nước Văn Lang thuởvua Hùng ngày xưa, cách đây khoảng 4000 năm là HàTĩnh ngày nay Trong đó, cư dân làm nghề nông,trồng lúa nước và các nghề thủ công đúc đồng, làmgốm, bước đầu biết luyện sắt Đồng thời gắn liền vớinền sản xuất vật chất đó là đời sống tinh thần, các lễnghi, trang sức đã bước đầu phát triển

Trang 13

Bài đọc thêm, tham khảo

1 LÒ LUYỆN SẮT THUỞ VUA HÙNG Ở HÀ TĨNH

Ở Xuân Giang (Nghi Xuân) các nhà khảo cổ đãtìm thấy những di tích lò luyện sắt thuở các vua Hùng.Những lò này có hình tròn, đường kính 1,4m -thành lò được kè đá, trét đất sét dày 8-10cm, cao 40-60cm Các lò này thường được xây trên gò đất cao đểlợi dụng sức gió, nhất là gió Lào

Các nhà khảo cổ học cho đó là phương pháp

"hoàn nguyên trực tiếp", tức là phương pháp dùngthan để khử ô-xy của quặng sắt Trong lò luyện sắt,nhiệt độ có thể đạt tới 1.300oC-1.400oC Sắt tạo thành

ở nhiệt độ cao nên chất lượng tốt, ít các-bon và tạpchất, dẻo dễ rèn, dễ gia công

2 MỘT SỐ HÌNH VẼ VỀ CÔNG CỤ CỦA CƯ DÂN HÀ TĨNH THỜI NGUYÊN THỦY THUỞ VUA HÙNG.

Trang 14

Rìu đá ở Thạch Lạc

Nồi gốm có tai ở Thạch Lạc

Trang 15

Rìu đá ở di chí Phôi Phối

Rìu xéo bằng đồng ở Xuân An

Trang 16

Bình gốm vẽ màu ở bãi Phôi phối

Rìu xéo bằng đồng ở Rú Dầu

Bài đọc thêm

Trang 17

NHỮNG TÊN GỌI CỦA HÀ TĨNH

2 Thời Bắc Thuộc: Mỗi lần một triều đại mới lên

ở Nhà nước phong kiến Trung Hoa thì ở Việt Nam lạithay châu, đổi quận, do đó tên gọi của Hà Tĩnh cũngnhiều lần thay đổi

a) Thời nhà Triệu, nước Âu Lạc chia làm 2 quận:Quận Giao Chỉ và quận Cửu Chân, Hà Tĩnh là miềnđất cực Nam của quận Cửu Chân đến tận Hoành Sơn.b) Thời nhà Hán lập bộ Giao Chỉ, có hai quậnthuộc phạm vi nước ta, Hà Tĩnh là miền đất phía namcủa huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân

c) Thời nhà Ngô, quận Cửu Chân đổi thành quậnCửu Đức, Hà Tĩnh là đất nằm trong các huyện:

- Huyện Dương Thành (một phần) tương đươngvới huyện Nghi Xuân bây giờ

- Huyện Việt Thường tương đương với Đức Thọ

- Huyện Phù Lĩnh tương đương với Can Lộc

- Huyện Khúc Tư tương đương với Thạch Hà,Cẩm Xuyên, Kỳ Anh bây giờ

Trang 18

d) Thời nhà Tùy, Nghệ Tĩnh là đất Hoan Châu, HàTĩnh là đất phía nam của Hoan Châu, nằm trong 4huyện.

- Huyện Kim Ninh (hay Kim An)

3 Trong quốc gia phong kiến Đại Việt XVIII)

(T.K.X-a) Thời Tiền Lê (930-1009) Lê Hoàn cắt một phầnphía Nam của châu Hoan, lập ra châu Thạch Hà.b) Qua thời Lý (1025) Lý Thái Tổ lập trại ĐinhPhiên (có thể gồm đất các huyện Thạch Hà, CẩmXuyên và Kỳ Anh ngày nay) còn châu Thạch Hà đổithành huyện Thạch Hà

Trang 19

c) Đến thời Trần (1225) trại Đinh Phiên đổi thànhChâu Nhật Nam.

d) Sang thời Lê, 1469 Lê Thánh Tôn định lại bản

đồ hành chính cả nước, nhập châu, huyện thành cácThừa tuyên Diễn Châu và Hoan Châu nhập thànhThừa tuyên Nghệ An, gồm 9 phủ, 25 huyện, 2 châu

Hà Tĩnh ngày nay nằm trong các phủ sau:

- Phủ Hà Hoa, gồm các huyện:

+ Huyện Thạch Hà có 4 xã, 1 thôn, 3 trại

+ Huyện Kỳ Hoa (Kỳ Anh) có 37 xã, 10 thôn

- Phủ Lâm An, có 1 châu Quỳ Hợp (Hương Khê)Trong 20 năm giặc Minh đô hộ, nước ta là quậnGiao Chỉ, Hà Tĩnh thuộc phủ Nghệ An, nằm trong cáchuyện:

+ Huyện Nha Nghi (Nghi Xuân)

+ Huyện Phi Lộc (Can Lộc)

+ Huyện Cổ Đỗ (hay là Đồ Gia) Hương Sơn bấy giờ+ Huyện Chi La (Đức Thọ)

+ Huyện Thổ Hoàng (Hương Khê)

+ Huyện Hà Hoàng

Trang 20

b) 1852, vua Tự Đức lại nhập Đức Thọ vào Nghệ

An lấy phủ Hà Hoa lập Đạo Hà Tĩnh, gồm đất bahuyện: Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh bây giờ.c) 1875, Tự Đức bỏ Đạo Hà Tĩnh, lập lại tỉnh HàTĩnh gồm các phủ, huyện:

- Phủ Đức Thọ, có các huyện:

+ Huyện La Sơn (Đức Thọ) gồm 7 tổng, 61 xã,thôn, trang, phường

+ Huyện Thiên Lộc (Can Lộc) gồm 7 tổng, 90 xã,thôn

+ Huyện Nghi Xuân, gồm 5 tổng, 41 xã, thôn,trang, phường

+ Huyện Hương Sơn, gồm 10 tổng, 57 xã, thôn,

- Phủ Hà Hoa, có các huyện:

+ Huyện Thạch Hà, gồm 7 tổng, 55 xã, thôn,trang, phường

Trang 21

+ Huyện Hoa Xuyên, trước là đất huyện Kỳ Hoanăm Minh Mệnh thứ 17 (1837), vua hạ chiếu trích 4tổng: Mỹ Duệ, Mỹ Tân, Thổ Ngọa và Lạc Xuyên lậpthành một huyện mới: Huyện Hoa Xuyên, có 4 tổng,

Tóm lại, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Hà Tĩnh

đã có nhiều tên gọi Tên gọi đầu tiên, thuở vua Hùngdựng nước là bộ Cửu Đức Tên gọi Hà Tĩnh để "đi môrồi cũng nhớ về" là từ năm 1831, đến nay (1992) đã là

Trang 22

Trong quốc gia phong kiến Đại Việt (TK XVIII), Hà Tĩnh đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ

X-về sản xuất, xây dựng, đánh giặc giữ nước và văn hóa,khoa cử, góp phần xứng đáng của mình vào nền vănminh Đại Việt

Nhiều làng mới trù phú, dân cư đông đúc xuấthiện như làng Ngọc Sơn (Đức Thuận, Đức Thọ), làngTrảo Nha (Đại Lộc - Can Lộc), làng Tả Ao (XuânGiang, Nghi Xuân)

Công việc khẩn hoang, tạo lập thêm làng xã mớiđược tiến hành trên diện rộng, các làng cũ được mởmang Vùng Thổ Hoàng (Hương Khê), 572 người tùytòng của bà Trần Thị Ngọc Hào (vợ vua Trần Duệ

Trang 23

Tông) cùng nhân dân địa phương đã khai phá được3.965 mẫu ruộng đất, sau này biến thành ruộng công.Trong kháng chiến chống quân Minh, trang trại của

bà Hào là một cơ sở cung cấp lương thảo cho nghĩaquân Lê Lợi Vùng núi Mồng Gà (Hương Sơn), haicha con Tiến sĩ Sử Hy Nhan, Sử Đức Huy về ẩn trốngiặc Minh (1407) đã cùng nhân dân địa phương khaiphá đất hoang lập nên hai thôn An Phú và Trai Đầu(nay là xã Sơn Long, Sơn Trà - Hương Sơn) Tiến sỹ

Hà Huy Quang đời Trần đã cùng nhân dân địaphương khai phá đất đai lập nên xã Thịnh Văn (SơnThịnh - Hương Sơn)

Nguyễn Tôn Mật, quan cuối đời Trần, mộ dânkhai hoang lập nên một làng mới trù phú ở Can Lộc.Sang đời nhà Lê, Lê Lợi với chính sách quân điền

đã đưa nhà nước phong kiến Đại Việt phát triển lênđỉnh cao nhất Vùng Hà Tĩnh thời ấy, nông nghiệp,khai hoang phát triển lên một bước mới, được mùaliên tiếp, xóm làng no ấm, dân tình vui mừng vô kể.Nhiều vùng đất hoang ở Tiên Điền (Nghi Xuân),Cẩm Hưng (Cẩm Xuyên), Thượng Nga (Can Lộc),Thạch Điền (Thạch Hà) được khai phá, lập nên nhữngcánh đồng mới, những xóm làng mới

Lê Thánh Tôn (1481) chủ trương "Hết sức vàoviệc làm ruộng để rộng nguồn tích lũy cho Nhànước"(1) Do đó nhiều đồn điền mọc lên như đồn điền

( 1) Đại Việt sử ký toàn thư - T3 - Trang 276

Trang 24

Hà Hoa ở phía Tây nam huyện Thạch Hà (nay làThạch Điền), đồn điền Đức Quang ở mạn Tây bắcsông Ngàn Trươi.

Trên những vùng đất mới được khai phá, thủy lợi,

đê điều được chú ý Năm 1467, khơi kênh Nạ ở CẩmXuyên, kênh Lạc ở Kỳ Anh những kênh đó hợp vớinhững dòng sông, lạch tự nhiên tạo thành đường giaothông thủy Ngày nay nhân dân ta thường gọi là "sôngNhà Lê"

2 Các ngành nghề thủ công, lâm ngư nghiệp

Cùng với sản xuất nông nghiệp, các nghề thủcông, nghề rừng, nghề cá ở Hà Tĩnh bấy giờ cũngphát đạt

Trang 25

ở đây chuyên môn dệt Tơ ra chợ Hạ mua, lụa dệtxong bán tại chợ Hạ.

Nghề mộc cũng là nghề nổi tiếng, tập trung nhiều

ở hai huyện Đức Thọ và Hương Sơn, đặc biệt là thợmộc Thái Yên (Đức Thọ), Hán Dương (Nghi Xuân)v.v

Bên cạnh các nghề có kỹ thuật cao còn có cácnghề kỹ thuật tuy đơn giản nhưng đòi hỏi bàn tay điêuluyện, cũng phát triển khắp nơi như làm hàng nan ởQuảng Chiêm, Đông Cần (La Sơn), làm chiếu cói ởTrảo Nha, Xuân Giang, làm võng gai ở Mỹ Lộc(Thiên Lộc), làm quạt ở Thịnh Xá (Hương Sơn).Nghề nón lá tinh xảo cả nước đều dùng ở xã An Toàn(La Sơn), Đại Tiết (Thạch Hà), Đan Du (Kỳ Anh),Tiên Điền (Nghi Xuân)

Đồng thời với những ngành nghề trên, ở Hà Tĩnhthời bấy giờ, nghề rừng, nghề biển, nghề diêm cũng

có vị trí quan trọng trong sản xuất và đời sống của cưdân

Rừng Hà Tĩnh hồi đó có nhiều lâm sản quý nhưcác loại gỗ lim, sến, chua, gọ quế, sâm, trầmhương, sừng tê giác, ngà voi nứa mai, lá cọ, củ nâuv.v Những sản vật đó được khai thác, đóng thành bèmảng theo suối sông xuôi về hạ bạn trao đổi trong cư

Trang 26

dân trên địa phương hoặc bán đi nơi khác, có khi đemnạp cống triều đình.

Dân ven biển mỗi năm hai múa cá: Mùa dã khơi

và mùa dã lộng Cá đánh bắt về dùng ăn tươi hoặcphơi khô, hoặc ướp muối Nước mắm có tiếng là nướcmắm Cương Gián (Nghi Xuân), Làng Trang (Cửa Sót

- Thạch Hà), Nhượng Bạn (Cẩm Xuyên)

Ở Hà Tĩnh có nhiều nơi làm muối nổi tiếng nhưmuối Hộ Độ (Thạch Hà), muối Nhượng Bạn (CẩmXuyên), Vạn Áng (Kỳ Anh) Muối ở những vùng đóvừa nhiều, vừa ngon, cung cấp cho dân trong tỉnh vàbán đi các tỉnh khác

3 Thương mại: Bấy giờ đã phát triển Hệ thốngchợ trong tỉnh mọc lên ngày một nhiều; chợ làng, chợhuyện, chợ tỉnh Huyện nhiều nhất có 9 chợ (Can Lộc,Hương Sơn) huyện ít cũng có vài chợ Có chợ 10ngày họp một phiên, có chợ 5 ngày họp một phiên, cóchợ họp ngày lẻ, có chợ họp ngày chẵn, có chợ ngàynào cũng họp Những nơi ngã ba, ngã tư, gần bếnsông, chợ đông vui, tấp nập, có nơi trên bộ dưới thủyrộn ràng như Tam Soa, chợ Chế

Chợ ở Hà Tĩnh thời bấy giờ chưa phải là thành thịtrung đại như ở châu Âu nhưng đó là nơi trung tâm

Trang 27

mua bán, trao đổi sản phẩm, phục vụ cuộc sống của

cư dân

Tóm lại, trong quốc gia phong kiến Đại Việt, HàTĩnh đã đạt được những thành tựu đáng kể trong sảnxuất nông nghiệp, khai hoang tạo lập thêm làng, xãmới trù phú, sầm uất, các nghề thủ công, lâm nghiệp,ngư nghiệp, diêm nghiệp phát triển lên trình độ mới,buôn bán, giao lưu khá thịnh vượng

Những thành tựu đó tạo nên truyền thống sản xuấtvật chất và góp phần chủ yếu tạo nên tính cách conngười Hà Tĩnh trong nền văn minh Đại Việt

Trang 28

Trạng nguyên Nguyễn Thuyến, ông Tổ của họNguyễn Tiên Điền (Nghi Xuân) vốn ở làng CanhHoạch (Thanh Oai, Hà Tây) làm quan dưới triều Lêđến chức Thượng Thư, Tước quận công và được ănlộc vùng Tiên Điền.

Vùng Tiên Điền hồi ấy là vùng đất lòng chảo,chạy dài song song với bờ biển trên hữu ngạn sôngLam Đây là miền đất ngập nước mặn khi triều dâng,không trồng trọt được, cỏ lác mọc xanh um

Con trai Nguyễn Thuyến là Nam dương Quậncông Nguyễn Thiện, huy động dân làng đắp một con

đê vòng cung ngăn nước mặn, biến vùng Tiên Điềnthành vùng đất trồng trọt tốt

2 ÔNG THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẬU LIÊU

Núi Hồng Lĩnh có nhiều khe suối, nhưng nướcđều chảy ra Nghi Xuân Đồng ruộng Đậu Liêu khôcằn

Bùi Cẩm Hổ vận động dân làng đắp một conđường bằng đá chắn ngang trên khe núi cho nướcchảy về phía tây, tưới được hơn trăm khoảnh ruộng

Từ đó làng Đậu Liêu năm nào cũng được mùa, đất đaimàu mỡ thêm

Cảm ơn ông đức ấy, dân làng lập đền thờ và tônông làm Thành Hoàng

3 THỢ MỘC THÁI YÊN THỜI ĐẠI VIỆT

Trang 29

Làng Thái Yên (Đức Thọ) có tiếng về nghề mộc.Thái Yên ở hữu ngạn sông La, phía trong đê LaGiang, có sông nhỏ chảy qua, bốn phía chung quanhđồng lúa bát ngát mênh mông Trong làng lúc nàocũng rộn ràng tiếng cưa đục.

Thợ mộc Thái Yên trong thời Đại Việt đã đạt đếntrình độ kỹ thuật điêu luyện, được mọi nơi thừa nhận,

từ việc tạo hình, chạm trổ đến làm mộng, lắp ráp Ngoài việc sản xuất, trao đổi tại chỗ, thợ mộc TháiYên còn tổ chức thành từng phường 15-20 người, tỏa đilàm khắp các miền trong tỉnh và các tỉnh xa

Trong dân gian có câu:

"Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa

Cái nghề thợ mộc nhất là Thái Yên".

4 MUỐI HỘ ĐỘ

Làng Hộ Độ (Thạch Nam - Thạch Hà) nằm trên

bờ bắc sông Cái chảy ra Cửa Sót Hộ Độ cách thị xã

Hà Tĩnh về phía bắc khoảng 6 km, phía đông có núiLong Ngâm (núi Nam Giới) như bức tường ngăn cảnnhững trận cuồng phong của thiên nhiên khắc nghiệt.Người Hộ Độ có nghề làm muối Muối Hộ Độ làloại muối ngon có tiếng

Kỹ thuật làm muối ở đây là kỹ thuật phơi nướcbiển Để có muối trắng, ít tạp chất, năng suất cao,

Trang 30

người ta đắp con đập phía bắc sông Cái, làm cống chonước biển theo sông chảy vào đồng muối Trên đồngmuối, diêm dân làm những mảnh sân hàu để phơinước Trước khi phơi, diêm dân Hộ Độ tạo ra nước cónồng độ mặn cao nhất Bấy giờ, cách đo độ mặn củanước thông thường là bỏ vào nước một nắm cơm bằngquả trứng, nếu nắm cơm nổi lên là nước đã có nồng

độ mặn tối đa

Những ngày nắng, nhất là trong mùa hạ, diêm dânlàm đất, lấy nước đổ ra sân phơi buổi sáng Chiềuđến, trên sân muối trắng toát, trông thật ngon lành.Muối Hộ Độ, ngoài tiêu thụ trong tỉnh còn đưa đitrao đổi khắp miền gần xa, nhất là miền ngược

Nhờ có muối Hộ Độ, cư dân Thạch Hà và cácvùng lân cận không lo nhạt Muối nhiều, thỏa mãnnhu cầu như nước Nếu ta thiếu thịt, thiếu đườngnhiều ngày vẫn chịu được nhưng nhạt muối vài bangày là mắt mờ, da bạc! Nhìn đồng muối Hộ Độ, tamới thấy muối ở đây có giá trị biết chừng nào!

NHỮNG THÀNH TỰU CỦA HÀ TĨNH TRONG QUỐC GIA PHONG KIẾN ĐẠI

VIỆT

(Tiếp theo)

Trang 31

II - GÓP PHẦN GIỮ GÌN ĐỘC LẬP

CỦA ĐẤT NƯỚC

Trong quốc gia phong kiến Đại Việt, Hà Tĩnh đãgóp phần xứng đáng của mình trong việc giữ gìn biêncương phía nam và bảo vệ độc lập, thống nhất của đấtnước

1 Giữ gìn biên cương phía nam

Buổi đầu của quốc gia Đại Việt, Hà Tĩnh là miềnđất biên viễn phía Nam, thường bị Chăm Pa và ChânLạp quấy rối, lấn chiếm Người Hà Tĩnh thời ấy đãkiên quyết giữ gìn từng tấc đất của đất nước Chẳnghạn năm Kiến Gia thứ 6 (1216) Chăm Pa và Chân Lạpvào cướp Hà Tĩnh Nhân dân địa phương đã cùng LýBất Nhiễm đánh bại bọn chúng Năm Đinh Sửu(1217) Chăm Pa, Chân Lạp lại vào lấn chiếm, dân HàTĩnh đã góp phần đánh lùi bọn giặc, làm cho biêncương yên ổn lâu dài

2 Góp phần đánh bại giặc Nguyên Mông

Trong thời nhà Trần ba lần đánh bại quân NguyênMông, người Hà Tĩnh một mặt khơi lại kênh cũ nốiliền với các sông suối tạo thành con đường thủy trongđất liền, phòng khi đường biển bị bọn giặc phong tỏa;mặt khác, trai tráng Hà Tĩnh ra trận, hoặc lập thànhcác phong đội trong các phủ huyện để sẵn sàng đánh

Trang 32

giặc và bổ sung cho quân nhà Trần khi cần Vua TrầnNhân Tông có câu:

"Cối Kê Cựu sự quân tu ký

Hoan Diễn do tồn thập vạn binh"

(Ý là: Chuyện cũ Cối Kê người nên nhớ, HoanDiễn còn kia chục vạn quân)

Hà Tĩnh thời ấy, thực sự là hậu phương vững chắccủa nhà Trần trong công cuộc đánh bọn giặc NguyênMông

3 Hà Tĩnh: Đất đứng chân trong thời điểm quan

trọng của nghĩa quân Lam Sơn

Trong 20 năm chống giặc Minh đô hộ Hà Tĩnh cónhiều cuộc khởi nghĩa, trong đó có những tấm gươngtiêu biểu như Đặng Tất, Đặng Dung, Nguyễn Biểu,Nguyễn Biên, Phan Liêu v.v

Đặc biệt khi Lê Lợi - Nguyễn Trãi phất cao cờkhởi nghĩa Lam Sơn, thì trong thời điểm hiểm nghèo

Hà Tĩnh trở thành đất đứng chân vững chắc của nghĩaquân

Từ khi nổi dậy ở Lam Sơn, nghĩa quân Lê Lợi đãthu được một số thắng lợi, song vẫn còn khó khănmuôn nỗi:

"Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần

Khi Khôi huyện quân không một đội "

(NGUYỄN TRÃI: Bình Ngô đại cáo)

Trang 33

Theo kế của Nguyễn Chích, Lê Lợi đưa quân vàoNghệ Tĩnh nơi đất rộng, người đông để làm chỗ đứngchân vững chắc.

Trên đường hành binh, sau những chiến thắngvang dội ở Bồ Đằng, Trà Lân lịch sử, Lê Lợi đã đếnchọn đất Đỗ Gia (Hương Sơn bây giờ) xây dựng căn

cứ địa

Tại đây, Lê Lợi đã được nhân dân địa phương vàcác hào kiệt tiếp thêm tài lực Do đó nghĩa quân LêLợi đã đánh tan cuộc tấn công của Trần Trí - Lý Antại cửa sông Khuất - trước động Tiên Hoa, đại bảndoanh của Lê Lợi Sau đó tàn quân của giặc rút lui lạilọt vào cạm bẫy đã bày sẵn của Đinh Luật - tướng của

Lê Lợi ở gần Tam Soa (Linh Cảm) Trần Trí cùngquân lính bị nhấn chìm xuống đáy sông Đó là vàonăm Ất Tỵ, ngày 27-4 (14-5-1425)

Sau chiến thắng Đỗ Gia, nghĩa quân Lê Lợi tiếnlên giải phóng thành Nghệ An Từ đó nghĩa quân raBắc, mở những cuộc phản công mãnh liệt đánh bạiquân Minh,giải phóng đất nước Hà Tĩnh thực sự làbàn đạp vững chắc của nghĩa quân Lê Lợi - NguyễnTrãi trong cuộc Bình Ngô vĩ đại trong lịch sử

4 Hà Tĩnh: Chỗ dừng chân chọn tướng, tuyển

quân của Quang Trung để ra Bắc đánh tan quânThanh

Trang 34

Trong những năm cuối thế kỷ XVIII, người HàTĩnh đã dốc sức ủng hộ Nguyễn Huệ - người anhhùng áo vải trong việc phò Lê diệt Trịnh, đánh bạiquân Thanh, thống nhất đất nước.

Trên đường ra Bắc Hà, Nguyễn Huệ đã tìm gặp vịDanh sĩ người Hà Tĩnh Nguyễn Thiếp Nguyễn Thiếp

đã nói đúng chủ đích của Quang Trung: "Chúa công

ra đi chuyến này không quá 10 ngày, giặc Thanh sẽ bịdẹp tan" Đó là sự trùng hợp giữa một thiên tài quân

sự với một Danh sĩ quê hương Hà Tĩnh

Thời ấy, Nghệ Tĩnh có khoảng 12,5 vạn dân, ấythế mà trong 10 ngày, Nguyễn Huệ đã tuyển chọnđược hàng vạn trai tráng lên đường ra Bắc đánh tanquân Thanh Ngày nay trong Gia Phổ họ Dương ởThạch Khê (Thạch Hà), người ta còn thấy những dòngghi: "Năm Mậu Thân 1788 Dương Bá Học lúc đó 18tuổi đã gia nhập đội ngũ Tây Sơn"

Nhiều làng ở Hà Tĩnh, Nguyễn Huệ đã dừng chân

và đã có sắc phong khen thưởng những làng đó Ví dụlàng Trung Tiết (Thạch Trung, Thạch Hà) còn giữ lạiđến ngày nay đạo sắc của vua Quang Trung khenthưởng dân làng về sự đón tiếp và cung ứng lươngthảo

Từ trong hàng vạn con em Hà Tĩnh dưới ngọn cờQuang Trung ra trận thời đó đã xuất hiện những tài bađánh giặc, giữ gìn đất nước Đó là Dương Văn Tào ở

Mỹ Duệ (Cẩm Duệ - Cẩm Xuyên), Hồ Phi Chấn ở

Trang 35

Tổng Hành Nhất (Thạch Hà), Ngô Văn Sở ở TrảoNha (Đại Lộc, Can Lộc).

Tóm lại, trong quốc gia Đại Việt (X - XVIII) Hà

Tĩnh đã góp phần xứng đáng của mình đánh bại kẻthù trong những lần đất nước bị xâm lăng, bảo vệ nềnđộc lập và thống nhất của Tổ quốc

CÂU HỎI

1 Hà Tĩnh đã góp phần bảo vệ độc lập, thống nhất củaquốc gia Đại Việt như thế nào?

2 Theo em chiến thắng Đỗ Gia có ý nghĩa như thế nàotrong toàn bộ sự nghiệp Bình Ngô của nghĩa quân Lam Sơn?

Bài đọc thêm

TRẬN ĐỖ GIA CỦA NGHĨA QUÂN LAM SƠN

Theo kế của Nguyễn Chích, Lê Lợi - Nguyễn Trãiđưa quân vào Nghệ Tĩnh

Sau những chiến thắng vang dội ở Bồ Đằng, TràLân, Lê Lợi đến chọn đất Đỗ Gia (Hương Sơn) xâydựng căn cứ địa

Buổi đầu chỉ huy sở đặt ở động Tiên Hoa

Đông Tiên Hoa là tên gọi chung cho Động Tiên

và Hoa Bảy, có hai quả đồi cách nhau vài trăm mét,thuộc làng Phúc Đậu (nay là Sơn Phúc - Hương Sơn)

Trang 36

Ở đây có núi Nầm, núi Cồn Đài, núi Cồn Chùa chechở mặt đông.

Từ động Tiên Hoa có thể theo Hói Chùa ra NgànPhố ngược lên châu Ngọc Ma, hoặc xuôi dòng vềTam Soa rồi ngược Ngàn Sâu tới chân Thổ Hoànghoặc xuôi La Giang về sông Lam, tới thành Nghệ An,hoặc ra biển cả Đồng thời cũng có thể theo thượngđạo mà đi ra, đi vào suối nước

Khi vào đến Đỗ Gia, nghĩa quân Lam Sơn đượcnhân dân địa phương và các hào kiệt tiếp thêm tài lực,như Nguyễn Tuấn Thiện, lãnh tụ của đội quân CốcSơn, người làng Phúc Đậu, xã Sơn Dương (nay là SơnPhúc, Hương Sơn) đã đưa đội quân của mình tới gianhập và kết nghĩa anh em với Lê Lợi, cắt tóc ăn thềdưới gốc thị, cạnh nhà (nay là xóm Nậy - Sơn Phúc)(1).Nguyễn Biên, Phan Liêu lãnh tụ của những cuộckhởi nghĩa những năm vừa qua cũng đưa quân gianhập

Các trang trại của các quý tộc họ Trần khi sa cơ

về quê Hà Tĩnh như bà Trần Thị Ngọc Hào - vợ vuaTrần Duệ Tông, cha con Tiến sĩ Sử Hy Nhan, Sử ĐứcHuy v.v là những cơ sở cung cấp lương thảo

Tổng hành dinh của Lê Lợi ở Động Tiên Hoađược bao bọc bởi xóm Cấm, xóm Hào, xóm Kho, bãi

( 1) Phan Huy Lê: "Nguyễn Tuấn Thiện" Trong danh nhân Nghệ Tĩnh Trang 38-51 Nuyễn Tuấn Thiện sau này được đổi thành

họ Lê và được phong "Khai quốc công thần".

Trang 37

nhà Dinh, Khe Tiền, bãi Triều, đền Lam Sơn TriềuLĩnh gần đấy có khu doanh trại ở thôn Phúc Nghĩa

- Ninh Xá (nay là Sơn Ninh - Hương Sơn) bảo vệ chỉhuy sở

Từ thành Nghệ An, quân Minh muốn lên Đỗ Giachỉ có thể theo 2 đường: Một là vượt Truông Mèn,Truông Trẩy, hai là ngược sông La lên Tam Soa rồivào Ngàn Phố Tựu kế, nghĩa quân đã xây dựng nhiềuchiến lũy ngăn chặn trên hai đường đó

Căn cứ Đỗ Gia được núi sông thiên nhiên và lòngngười Hà Tĩnh che chở

Năm Ất Tỵ, ngày 27-4 (14-5-1425) theo lệnh củaTriều Minh, Trần Trí - tướng tài của Thiên Triều từthành Nghệ An cất quân tấn công vào Đỗ Gia

Biết được dã tâm của giặc, Lê Lợi cho quân lậptrận địa mai phục ở cửa sông Khuất (còn gọi là HóiChùa) Địa thế ở đây hình khe, thế núi quanh co, hiểmtrở, nước sông chảy xoáy tít

Để nhử địch vào bẫy, Lê Lợi lệnh cho Đinh Liệtđang đóng giữ ở Tùng Lĩnh (Linh Cảm) mở rộng cửacho quân Trần Trí đi lên và chặn bịt, tiêu diệt hết khichúng tháo chạy qua đây

Trần Trí, Lý An chỉ huy đoàn thủy quân ngược LaGiang, rẽ phía Ngàn Phố, hướng Đỗ Gia mà tiến

Trang 38

Đường hành binh của giặc không gặp một chướngngại nào.

Khi toàn bộ thủy binh của giặc lọt vào trận địamai phục, Lê Lợi cho quân từ bốn phía xông ra đánhnhững đòn chí chết Bị đánh bất ngờ, quân địch hoảngloạn, số chết, số xô đẩy nhau tháo chạy Trần Trí vộivàng thu quân, định chạy về thành Nghệ An Đến gầnngã ba Tam Soa, tàn quân của y lại lọt vào cạm bẫycủa Đinh Liệt Trần Trí cùng toàn bộ lính giặc nhấnchìm xuống đáy sông hoặc bỏ xác bên bờ sông La.Sau chiến thắng Đỗ Gia, do yêu cầu phát triển củacuộc kháng chiến, chỉ huy sở của Lê Lợi dời lên thànhLục Niên được xây dựng trên núi Tam Soa

Từ đây, nghĩa quân Lê Lợi tiến lên giải phóngthành Nghệ An, rồi tiến quân ra bắc, mở những cuộcphản công mãnh liệt vào giặc Minh, giải phóng hoàntoàn đất nước Đại Việt

NHỮNG THÀNH TỰU CỦA HÀ TĨNH TRONG QUỐC GIA PHONG KIẾN ĐẠI

VIỆT

(Tiếp theo)

III - VĂN HÓA, KHOA CỬ

Trang 39

ở đây rất đẹp Nếu du khách vãn cảnh chùa dừng lại,phóng tầm mắt về phương Nam thì non nước, ruộngđồng, làng quê trải rộng mênh mông, xa tít, đẹp nhưbức tranh thủy mạc tuyệt vời, và trong cái yên tĩnhcủa không gian bập bềnh mây núi, một tiếng chuôngchùa ngân nga, trong trẻo như ru tâm hồn du khách đãđến với chốn Non Hồng.

Ngôi đền tiêu biểu nhất là đền Chiều Trưng ở lưngchừng núi Long Ngâm (núi Nam Giới) Đền được xâydựng ở thế kỷ XVII Giá trị của đền Chiêu Trưng làgiá trị kiến trúc Hà Tĩnh Phần Trung Điện không cócột Hoa văn chủ yếu là Tứ Linh (Long, Ly, Quy,Phượng) Những con vật này được khắc chạm trên cácbức xà, trông rất sinh động, có đường xà chạm bamặt, đặc biệt là bức chạm ở xà ngang trước cửa ra vàobên tả, miêu tả một dàn nhạc công ba người và một vũ

nữ Toàn bộ bức chạm dài 1m, rộng 0,30 m, bố cụcchặt chẽ, tỷ lệ cân đối, đường nét uyển chuyển có sức

Trang 40

truyền cảm, nhất là người thổi sáo, người đánh đànnguyệt và người đánh trống.

Sẽ là thiếu sót nếu ta không nói tới xây dựng nhà

ở và làng quê Hà Tĩnh trong thời Đại Việt

Nhà ở của cư dân Hà Tĩnh thời Đại Việt thườngtheo nam hướng, hầu hết làm bằng gỗ hoặc tranh tre,nứa, lá Nhưng dù là gỗ hay tre đều có cột, thấp, xàngang dọc giằng lấy nhau, chắc chắn Nhà ở HươngSơn, Đức Thọ thường có "chạn" để phòng khi lũ lụtthì mọi tài sản và sinh hoạt đều chuyển lên chạn.Nhà ở thường có rèm che, giữa có sân rộng, ngoài

là lũy tre Lũy tre nhà này nối lũy tre nhà khác, củalàng này tiếp với làng khác, đứng xa trông như bứcthành xanh tự nhiên, kiên cố

2 Sinh hoạt tinh thần

a) Đạo phật: Trong các triều đại phong kiến Đại

Việt, đặc biệt là thời Lý Trần, ở Hà Tĩnh đạo phậtcũng phát triển Hầu hết các làng xã dều có chùa thờphật, song đạo Phật ở Hà Tĩnh thời đó cũng ít chi phốisinh hoạt tinh thần của cư dân

b) Đạo Nho: Du nhập vào Hà Tĩnh từ thời Bắc

thuộc Các lễ nghi ở nhà, trong họ, giữa làng đều theosách nho học; các chuẩn mực đạo đức đều theo đạoNho v.v Tuy vậy các lễ nghi và chuẩn mực của đạoNho ở Hà Tĩnh không sâu đậm như những miền kháctrong nước Đại Việt

Ngày đăng: 04/03/2021, 09:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w