1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phân tích và đánh giá mô hình quan hệ ứng dụng công nghệ thông tin phương thức phát triển mới nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia

78 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, các khía cạnh khác nhau về NLCT quốc gia của Việt Nam đã được đánh giá và xếp hạng qua một số Bảng xếp hạng thường niên trên thế giới bao gồm Báo cáo NLCT toàn cầu c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

HOÀNG MINH TIẾN

NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ

MÔ HÌNH QUAN HỆ “ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN“ –

“PHƯƠNG THỨC PHÁT TRIỂN MỚI NÂNG CAO

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA QUỐC GIA“

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

KỸ THUẬT PHẦN MỀM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng

Hà Nội - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu và tìm hiểu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư Tiến sỹ Huỳnh Quyết Thắng, không sao chép bất kỳ kết quả nghiên cứu nào của các tác giả khác Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng một số thông tin, tài liệu từ các nguồn sách, tạp chí được liệt kê trong danh mục các tài liệu tham khảo

Hà Nội, ngày … tháng 7 năm 2018

Tác giả Luận văn

Hoàng Minh Tiến

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ Kỹ thuật phần mềm với đề tài: Nghiên cứu phân tích và đánh giá mô hình quan hệ “Ứng dụng công nghệ thông tin” – “Phương thức phát triển mới nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia”, tôi

đã cố gắng tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa lý luận, thu thập tài liệu, vận dụng lý luận vào phân tích tình hình hiện tại và giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra Bên cạnh

đó, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo và những góp ý của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp và bạn bè, sự quan tâm động viên của gia đình Với sự giúp đỡ quý báu

đó, cộng với cố gắng, nỗ lực trong học tập và nghiên cứu của bản thân, đến nay tôi

đã hoàn thành luận văn thạc sỹ

Tôi xin gửi lời cảm ơn tất cả những người đã giúp đỡ tôi, các tác giả mà tôi đã tham khảo, trích dẫn những nghiên cứu, tư liệu của họ Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, góp ý, giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Bộ môn Công nghệ Phần mềm, Viện Công nghệ thông tin và Truyền thông

Đặc biệt chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình đầy tinh thần trách nhiệm của giáo viên hướng dẫn khoa học là Phó Giáo sư Tiến sỹ Huỳnh Quyết Thắng Tôi luôn nhận thức rằng, luận văn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, tồn tại

do hiểu biết hạn hẹp và năng lực hạn chế của bản thân; do đề tài nghiên cứu bao gồm nhiều nội dung, thời gian nghiên cứu hạn hẹp Vì vậy, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn và mong luôn nhận được những tình cảm chân thành của tất cả mọi người./

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC BẢNG 5

DANH MỤC HÌNH 6

DANH MỤC CÔNG THỨC 7

DANH MỤC THUẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA VÀ BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ CỦA VIỆT NAM 9

1.1 Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh quốc gia 9

1.1.1 Khái niệm Năng lực cạnh tranh quốc gia 9

1.1.2 Một số phương pháp đánh giá và xếp hạng NLCT quốc gia trên thế giới 11

1.2 Đánh giá NLCT quốc gia của Việt Nam qua một số bảng xếp hạng 25

1.2.1 NLCT quốc gia Việt Nam theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới 25

1.2.2 NLCT quốc gia Việt Nam theo Báo cáo môi trường kinh doanh (Doing business) 28

1.2.3 NLCT quốc gia Việt Nam theo một số báo cáo khác 31

1.3 Bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia phù hợp với Việt nam 32

1.3.1 Đề xuất về khái niệm NLCT quốc gia 33

1.3.2 Đề xuất về cách tiếp cận và bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia 34

1.4 Tiểu kết chương 39

CHƯƠNG 2 CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - PHƯƠNG THỨC PHÁT TRIỂN MỚI NÂNG CAO TOÀN DIỆN NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA 40

2.1 CNTT tại các quốc gia phát triển trên thế giới 40

2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng Chính phủ điện tử 41

2.2.1 Khái niệm Chính phủ điện tử 41

Trang 5

2.2.2 Chức năng của Chính phủ điện tử 41

2.3 Xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam 42

2.4 Một số kết quả đạt được trong xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam 45

2.5 Mô hình ứng dụng CNTT nâng cao NLCT quốc gia 53

2.6 Tiểu kết chương 54

CHƯƠNG 3 THỬ NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 55

3.1 Đề xuất mô hình phân tích, đánh giá về mối tương quan giữa ứng dụng công nghệ thông tin và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 55

3.1.1 Mô hình phân tích, đánh giá và mối liên hệ 55

3.1.2 Công thức đánh giá điểm số của yếu tố, tiêu chí và thuộc tính cạnh tranh 56

3.1.3 Các mẫu phiếu khảo sát và bộ dữ liệu mẫu 58

3.1.4 Sử dụng phần mềm hỗ trợ mô hình hóa và thử nghiệm trên bộ dữ liệu mẫu 64

3.1.5 Phân tích và thiết kế phần mềm 65

3.2 Đánh giá kết quả thử nghiệm 71

3.2.1 Đối với các yếu tố cạnh tranh 71

3.2.2 Đối với các tiêu chí cạnh tranh 72

3.2.3 Đối với các thuộc tính cạnh tranh và nhận xét mối liên hệ với các yếu tố cạnh tranh 72

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Cách tính trọng số đối với các chỉ số theo các giai đoạn phát triển 19Bảng 1.2 Những thay đổi về điểm và xếp hạng của Việt Nam trong Báo cáo xếp

hạng NLCT toàn cầu (Giá trị: cao nhất là 7) 26

Bảng 1.3 Những thay đổi về vị trí xếp hạng của Việt Nam trong báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới 30Bảng 1.4 Nhận diện các lĩnh vực cần cải thiện nhằm nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh của Việt Nam 32Bảng 1.5 Bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam 36Bảng 2.1 Số liệu về CNTT đóng góp cho GDP của một số quốc gia 40

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các yếu tố nền tảng của NLCT theo quan điểm của Porter 11

Hình 1.2 Mô hình Kim cương của Porter 13

Hình 1.3 Xác định NLCT và các yếu tố nền tảng của năng suất 14

Hình 1.4 Sáu cấp độ đánh giá NLCT của Diễn đàn kinh tế thế giới 15

Hình 1.5 Khung chỉ số GCI 17

Hình 1.6 Các nhân tố NLCT theo quan điểm của IMD 20

Hình 1.7 Khung phân tích NLCT quốc gia của Ủy ban châu Âu 22

Hình 1.8 Tháp Năng lực cạnh tranh của Ireland 23

Hình 1.9 Những nhân tố quan ngại nhất về môi trường kinh doanh ở Việt Nam (% số người trả lời) 28

Hình 3.1 Giao diện tính điểm yếu tố, tiêu chí và thuộc tính cạnh tranh 64

Hình 3.2 Biểu đồ các trường hợp sử dụng (Use Case) 65

Hình 3.3 Biểu đồ tuần tự người dùng truy cập phần mềm 67

Hình 3.4 Biểu đồ trạng thái của người dùng khi đăng nhập thành công 68

Hình 3.5 Mô hình triển khai phần mềm theo ASP.Net MVC 69

Hình 3.6 Bản đồ sitemap của phần mềm 70

Hình 3.7 Biểu đồ ERD quan hệ thực thể trong CSDL 70

Hình 3.8 Biểu đồ nhện của các yếu tố cạnh tranh 71

Hình 3.9 Biểu đồ nhện của các tiêu chí cạnh tranh 72

Hình 3.10 Biểu đồ nhện của các thuộc tính cạnh tranh 73

Trang 8

DANH MỤC CÔNG THỨC

Công thức 3.1: Công thức MAVT (Multi-Attribute Value Theory) 56Công thức 3.2 :Công thức tính điểm số cạnh tranh quốc gia 57Công thức 3.3 Công thức tính yếu tố cạnh tranh 58

Trang 9

DANH MỤC THUẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT

NLCT Competing capability Năng lực cạnh tranh CNTT Information Technology Công nghệ thông tin

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA

VÀ BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ CỦA VIỆT NAM

Trong hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam đã có nhiều đổi mới, từ một nền kinh tế khép kín đã trở thành một bộ phận năng động của nền kinh tế toàn cầu Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng, mức sống và thu nhập của người dân được nâng cao,

tỷ lệ đói nghèo giảm, và ngày càng là một trong những điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, song nền kinh tế đã và đang bộc lộ những thách thức và vấn đề nội tại, năng lực cạnh tranh (NLCT) còn yếu trên nhiều mặt Nhìn chung, NLCT quốc gia của Việt Nam được đánh giá và xếp hạng ở mức khiêm tốn, thường thấp hơn so với các nước trong khu vực Do vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo phát triển bền vững là nội dung quan trọng đối với phát triển kinh tế của Việt Nam

Trong thời gian qua, các khía cạnh khác nhau về NLCT quốc gia của Việt Nam

đã được đánh giá và xếp hạng qua một số Bảng xếp hạng thường niên trên thế giới bao gồm Báo cáo NLCT toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới (WB), Báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh của tạp chí Forbes, Báo cáo chỉ số tự do kinh tế của Quỹ hỗ trợ di sản và Tạp chí phố Wall, Chỉ số Quản trị toàn cầu của Ngân hàng thế giới, Chỉ số Cảm nhận tham nhũng của Tổ chức minh bạch quốc tế [1] Các báo cáo xếp hạng nói trên

có phương pháp luận và hệ thống các chỉ số khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu khác nhau của các tổ chức liên quan Chưa có sự đồng thuận hoàn toàn giữa các tổ chức

về phương pháp và hệ thống chỉ số đánh giá và xếp hạng NLCT quốc gia [2]

Đánh giá NLCT của một quốc gia thông qua bộ chỉ số là một nhiệm vụ đầy thách thức bởi vì có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới NLCT quốc gia, các yếu tố đó khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và trình độ phát triển của từng nền kinh tế cụ thể

1.1 Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh quốc gia

1.1.1 Khái niệm Năng lực cạnh tranh quốc gia

Thuật ngữ năng lực cạnh tranh (NLCT) được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, cả trong cộng đồng các nhà hoạch định chính sách và trong giới nghiên cứu Những

Trang 11

tranh luận về khái niệm NLCT xoay quanh các quan điểm về thị phần, chi phí, hiệu quả thương mại, năng suất, mức sống hay tiếp cận từ năng lực của doanh nghiệp, môi trường kinh doanh Có thể nói, khái niệm và bản chất NLCT có thể hiểu một cách đa dạng và do đó khó có được sự nhất trí về lý thuyết cũng như thực tế Tuy vậy, hiện nay quan điểm phân tích NLCT từ khía cạnh năng suất được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia cũng như các học giả nghiên cứu vận dụng Trong đó, áp dụng phổ biến nhất là quan điểm của Porter [12] Porter nhìn nhận năng lực cạnh tranh là những yếu tố tạo ra của cải và tăng hiệu quả kinh tế Khả năng thực hiện điều này

phụ thuộc vào năng suất (productivity) mà qua đó lao động và vốn của một nước

được sử dụng Như vậy, NLCT là một tập hợp các nhân tố quyết định năng suất của một quốc gia; trên cơ sở tiến bộ về năng suất sẽ xác lập mức độ thịnh vượng mà một nền kinh tế có thể đạt được [12, 13]

Kế thừa và phát triển quan điểm đánh giá NLCT thông qua yếu tố năng suất của Porter, rất nhiều nghiên cứu sau này đã chỉ ra rằng năng suất là động lực cốt lõi thể hiện sự khác biệt về mức độ thịnh vượng giữa các quốc gia [7, 9] Theo đó, các nghiên cứu cũng đề xuất các bộ yếu tố (bộ chỉ số) nhằm giải thích sự khác biệt về năng suất giữa các quốc gia [7, 13, 4] Báo cáo NLCT toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới và Xếp hạng Môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới đã phát triển

và thể hiện được nhiều yếu tố từ các đề xuất này [5] Các tài liệu chính sách như Chương trình Tăng trưởng của OECD [11] và Chiến lược 2020 của Ủy ban châu Âu [3] phần lớn tiếp cận NLCT quốc gia dựa vào năng suất

Vì những lý do trên, xây dựng phương pháp và bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam dựa trên cách tiếp cận về năng suất là một lựa chọn hợp lý Theo đó, trên cơ sở xác định các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sẽ thiết kế bộ chỉ số đánh giá NLCT phù hợp với thực trạng của Việt Nam

Trang 12

1.1.2 Một số phương pháp đánh giá và xếp hạng NLCT quốc gia trên thế giới

a) Mô hình các nhân tố nền tảng của NLCT theo quan điểm của Porter

Mức độ tinh thông

trong chiến lược &

hoạt động công ty

Trình độ phát triển cụm ngành

Chất lượng môi trường kinh doanh quốc gia

Năng lực cạnh tranh Vi mô

Năng lực cạnh tranh Vĩ mô

Các lợi thế tự nhiên

Hạ tầng xã hội và Thể chế chính trị

Chất lượng chính sách vĩ mô

Tài nguyên thiên

Hình 1.1 Các yếu tố nền tảng của NLCT theo quan điểm của Porter

M Porter [12, 13] đưa ra khung khổ phân tích về các nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh Theo đó, khái niệm có ý nghĩa duy nhất về NLCT là năng suất Theo Michael Porter, có ba nhóm nhân tố quyết định NLCT của một quốc gia, bao gồm (i) Các yếu tố lợi thế tự nhiên của quốc gia (tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, quy mô), (ii) NLCT vĩ mô (hạ tầng xã hội và thể chế chính trị, chất lượng chính sách vĩ mô), và (iii) NLCT vi mô (mức độ tinh thông trong chiến lược và hoạt động của công ty, trình độ phát triển cụm ngành, chất lượng môi trường kinh doanh quốc gia) (xem Hình 1)

Trang 13

Theo quan điểm của Porter, các yếu tố lợi thế tự nhiên của quốc gia mặc dù

không tác động đến năng suất, nhưng có thể hỗ trợ trực tiếp cho việc tạo ra sự thịnh vượng Các nhân tố này cũng tạo ra một môi trường tổng thể mà trong đó một nền

kinh tế và vị thế tương đối của nó so với các nền kinh tế khác được xác định Nhóm

NLCT vĩ mô xác định môi trường hay bối cảnh chung mà trong đó các công ty hoạt

động Các nhân tố này bao gồm chất lượng của hạ tầng xã hội và thể chế chính trị cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô Nhóm nhân tố này không tác động trực tiếp lên năng suất nhưng tạo ra cơ hội cho các yếu tố thúc đẩy năng suất được phát huy

Nhóm NLCT vi mô thể hiện cách thức các công ty hoạt động và các yếu tố bên ngoài

có tác động trực tiếp lên kết quả hoạt động của các công ty Nhóm nhân tố này bao gồm sự tinh thông của doanh nghiệp, trình độ phát triển các cụm ngành và chất lượng của môi trường kinh doanh

Bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh

Các điều kiện nhân tố

• Độ mở và mức độ của cạnh tranh trong nước

• Tiếp cận các yếu tố đầu vào

Trang 14

Hình 1.2 Mô hình Kim cương của Porter

Nguồn: Porter (1998)

Ở cấp độ vi mô, Môi trường kinh doanh là điều kiện bên ngoài giúp doanh

nghiệp, do đó là ngành đạt được mức năng suất và trình độ đổi mới, sáng tạo cao hơn Để đánh giá chất lượng của môi trường kinh doanh ảnh hưởng tới NLCT ngành, Porter phát triển mô hình Kim cương với bốn góc thể hiện bốn đặc tính tổng quát của môi trường kinh doanh, bao gồm: (i) các điều kiện về nhân tố đầu vào, (ii) các điều kiện cầu, (iii) các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan, và (iv) bối cảnh cho chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh (xem Hình 2)

b) Các nhân tố ảnh hưởng tới NLCT quốc gia theo cách tiếp cận của Diễn đàn kinh tế thế giới

Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu (CGI) – Cách tiếp cận mới của Diễn đàn kinh tế thế giới

Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCR) [5] là một báo cáo thường niên do Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum - WEF) thực hiện, xuất bản lần đầu vào năm 1979 Báo cáo này nghiên cứu và xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của các quốc gia Từ năm 2004, Diễn đàn kinh tế thế giới công

bố chỉ số NLCT toàn cầu (Global competitiveness Index - GCI) trong Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu Chỉ số này đo lường cả các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô ảnh hưởng tới NLCT quốc gia

Chỉ số GCI được xây dựng dựa trên mô hình lý thuyết đơn giản nhưng vững chắc trong khi vẫn đảm bảo khả năng mở rộng nghiên cứu và giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu được thực tế Cách tiếp cận về NLCT quốc gia của Diễn đàn kinh tế

thế giới tương đồng với quan điểm năng suất của Porter Theo đó, năng lực cạnh

tranh là một tập hợp các yếu tố về thể chế, chính sách và các nhân tố quyết định năng suất của một quốc gia; trên cơ sở tiến bộ về năng suất sẽ xác lập mức độ thịnh vượng mà một nền kinh tế có thể đạt được

Các yếu tố nền tảng của NLCT theo quan điểm của WEF

Trang 15

Nền tảng NLCT quốc gia theo quan điểm của WEF là năng suất, trên cơ sở định nghĩa của Porter Chỉ số GCI thể hiện các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới năng suất Khung chỉ số GCI được thiết kế dựa trên cơ sở lý thuyết nhằm tạo ra một khung khổ chung nhưng vẫn phản ánh được điều kiện cụ thể của từng quốc gia Theo đó, khung chỉ số GCI có ba nền tảng: (1) Các lợi thế tự nhiên, (2) NLCT vĩ mô và (3) NLCT vi mô Cách tiếp cận này của WEF hoàn toàn phù hợp với Mô hình các nhân

tố nền tảng của NLCT theo quan điểm Porter (xem Hình 1.3 và Hình 4)

Hình 1.3 Xác định NLCT và các yếu tố nền tảng của năng suất

Nguồn: GCR 2008-2009

Thiết kế Bộ chỉ số xếp hạng NLCT của Diễn đàn kinh tế thế giới

(i) Biến phụ thuộc

Biến phụ thuộc được sử dụng khi tính toán chỉ số GCI là mức GDP bình quân đầu người (tính theo ngang giá sức mua) GDP bình quân đầu người là công cụ đo lường rộng nhất về năng suất của một quốc gia và có mối quan hệ mạnh theo thời gian với mức sống của quốc gia Đây là đại lượng đo lường đơn lẻ bao quát nhất về hiệu quả của một quốc gia so với các nước khác Tuy vậy, GDP bình quân đầu người sẽ phản ánh cả nguồn lực tự nhiên (sự thịnh vượng tự nhiên của quốc gia - inherited prosperity), chứ không chỉ năng suất trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên đó (sự thịnh vượng được tạo ra – created prosperity)

(ii) Dữ liệu

Chỉ số xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của WEF dựa trên số liệu kinh tế được chính các nước tham gia khảo sát công bố (hard data) và kết quả từ

Trang 16

khảo sát ý kiến các doanh nghiệp và chuyên gia kinh tế (soft data) Các số liệu thống kê như tỷ lệ nhập học, nợ chính phủ, thâm hụt ngân sách và tuổi thọ được tham khảo từ các tổ chức quốc tế như Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Tổ chức y tế thế giới (WHO) Chỉ số GCI cũng sử dụng dữ liệu từ kết quả khảo sát hàng năm về ý kiến các doanh nghiệp và chuyên gia kinh tế của Diễn đàn kinh tế thế giới

Trang 17

hưởng tích cực (tiêu cực) tới lĩnh vực khác Điểm và xếp hạng đối với mỗi nhóm chỉ số thành phần dựa trên điểm của các chỉ số con Tất cả các chỉ số, gồm chỉ số con, chỉ số thành phần, chỉ số nhóm và chỉ số tổng hợp GCI được cho theo thang điểm từ 1-7 với 1 là kém nhất và 7 là tốt nhất 12 trụ cột được xếp thành 3 nhóm chỉ

số (xem Hình 1.5):

Trang 18

(i) Nguồn: GCR 2012

Hình 1.5 Khung chỉ số GCI

Trang 19

(ii) Xác định giai đoạn phát triển trong xếp hạng NLCT

Dựa trên lý thuyết về các giai đoạn phát triển, chỉ số GCI giả định rằng ở giai đoạn đầu tiên, nền kinh tế được thúc đẩy bởi các yếu tố sản xuất (factor-driven – Giai đoạn 1) và các quốc gia cạnh tranh với nhau dựa trên khả năng sẵn có về các yếu tố sản xuất Năng lực cạnh tranh ở giai đoạn phát triển này chủ yếu được xem xét trên cơ sở các yếu tố thuộc nhóm chỉ số về các yêu cầu cơ bản Các doanh nghiệp cạnh tranh trên cơ sở mức giá và bán sản phẩm hay hàng hóa cơ bản, với năng suất thấp thể hiện qua mức lương thấp

Khi một quốc gia có năng lực cạnh tranh hơn, năng suất tăng lên và tiền lương cũng sẽ tăng, quốc gia này sẽ bước sang giai đoạn phát triển mà động lực là hiệu quả (efficiency-driven – Giai đoạn 2) Khi đó, năng lực cạnh tranh chủ yếu được tính toán dựa vào yếu tố nâng cao hiệu quả (efficiency enhancers) Các nước bước sang giai đoạn này phải bắt đầu phát triển quy trình sản xuất hiệu quả hơn và tăng chất lượng sản phẩm do mức lương đã tăng lên nhưng không thể tăng giá

Cuối cùng, khi các quốc gia bước vào giai đoạn phát triển mà động lực là đổi mới (innovation-driven – Giai đoạn 3), thì năng lực cạnh tranh chủ yếu được tính toán trên các yếu tố đổi mới và các nhân tố về sự tinh thông (innovation and sophistication factors) Ở giai đoạn này, tiền lương và mức sống sẽ được duy trì ở mức cao chỉ khi các doanh nghiệp có thể cạnh tranh bằng sản phẩm mới và/hoặc độc đáo

Chỉ số GCI tính đến các giai đoạn phát triển bằng cách gán các trọng số tương quan (relative weight) cho những chỉ số nhóm nào liên quan nhiều hơn đến một nền kinh tế trong giai đoạn phát triển đặc thù của nó Nhóm các chỉ số về các yêu cầu cơ bản là quan trọng nhất đối với các nước đang phát triển ở giai đoạn đầu Nhóm chỉ

số nâng cao hiệu quả là quan trọng đối với các nước phát triển ở giai đoạn 2 Và nhóm chỉ số về đổi mới và các nhân tố về sự tinh vi quan trọng đối với các nước phát triển ở giai đoạn 3

Trang 20

Bảng 1.1 Cách tính trọng số đối với các chỉ số theo các giai đoạn phát triển

Các giai đoạn phát triển

Giai đoạn 1

Quá độ

từ giai đoạn

1 sang giai đoạn 2

Giai đoạn 2

Quá độ

từ giai đoạn

2 sang giai đoạn 3

Giai đoạn 3

Trang 21

Phương pháp luận của WCY đánh giá môi trường quốc gia theo bốn nhóm

nhân tố NLCT chủ yếu, đó là: Kết quả kinh tế, Hiệu quả chính phủ, Hiệu quả doanh

nghiệp và Hạ tầng Mỗi nhóm nhân tố gồm 5 nhóm chỉ tiêu thành phần, mỗi một

nhóm chỉ tiêu thành phần thể hiện các khía cạnh khác nhau của NLCT Theo đó, WCY được đặc trưng bởi 20 nhóm chỉ tiêu thành phần (xem Hình 8) Một vài nhóm chỉ tiêu thành phần tiếp tục được chia nhỏ thành các loại khác nhau nhằm xác định các vấn đề của NLCT một cách rõ ràng hơn Tuy nhiên, mỗi một nhóm chỉ tiêu thành phần không nhất thiết có số lượng tiêu chí bằng nhau, và đều cố định chung một trọng số là 5% (20x5=100) Phương pháp đo lường của IMD nhằm đảm bảo mức tin cậy về kết quả và khả năng so sánh với kết quả của các năm trước Việc cố định trọng số cho mỗi nhóm chỉ tiêu thành phần có chức năng như “hàng rào lửa”

để tránh phát sinh các vấn đề về thiếu cân đối giữa các nhân tố và kết quả có thể so sánh tốt giữa các năm, nhờ đó nêu bật được sự cải thiện về NLCT IMD sử dụng

Hiệu quả doanh nghiệp (67 chỉ tiêu)

Năng suất Thị trường lao động Tài chính Thực tiễn quản lý Thái độ và giá trị

Trang 22

(Hard Data), gồm 131 tiêu chí được sử dụng để xác định xếp hạng chung WCY cũng có 83 tiêu chí để tham khảo như một nguồn thông tin có giá trị, nhưng không được sử dụng để tính xếp hạng Dữ liệu cứng thể hiện khoảng 2/3 điểm xếp hạng chung Ngoài ra, có 115 tiêu chí khác được thu thập từ Điều tra quan điểm nhà quản trị (Executive Opinion Survey) của IMD, gọi là Dữ liệu điều tra (Survey Data), thể hiện 1/3 điểm xếp hạng

Theo cách tiếp cận của IMD, Dữ liệu cứng là để chỉ ra NLCT được đo lường như thế nào trong một thời kỳ cụ thể, còn Dữ liệu điều tra đo lường xem NLCT được hiểu và cảm nhận như thế nào Điều tra của IMD được thiết kế nhằm định lượng các vấn đề mà nó không dễ dàng được đo lường, chẳng hạn như: thực tiễn quản lý, quan hệ lao động, tham nhũng, vấn đề môi trường hay chất lượng cuộc sống Kết quả điều tra phản ánh cách hiểu hay cảm nhận về NLCT của các nhà quản

lý doanh nghiệp, những người đang thực hiện các hoạt động kinh doanh quốc tế Phản ứng của họ gần gũi và sát hơn với thực tế do không có độ trễ về thời gian Độ trễ này là vấn đề mà Dữ liệu cứng gặp phải Điều tra của IMD thực hiện ở tất cả các nước được xếp hạng trong WCY Mẫu điều tra mang tính đại diện cho toàn bộ nền kinh tế, thực hiện đổi với một bộ phận đại diện cộng đồng kinh doanh trong mỗi một khu vực kinh tế như sản xuất cơ bản, chế tạo và dịch vụ, dựa trên đóng góp của các khu vực này vào GDP của nền kinh tế

d) Các yếu tố nền tảng của NLCT theo quan điểm của EU

Để đánh giá NLCT của của các nước trong Liên minh Châu Âu (EU), Ủy ban châu Âu thiết kế bộ chỉ số NLCT quốc gia (EU country competitiveness index - CCI) [15] Chỉ số này nhằm đo lường các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới NLCT của các quốc gia trong Liên minh Ủy ban châu Âu sử dụng cơ sở dữ liệu của IMD và WEF để đo lường các chỉ số

Chỉ số CCI được đo lường dựa trên 11 trụ cột về NLCT 11 trụ cột này được nhóm theo hai nội dung (đầu vào và đầu ra) Bộ chỉ số CCI gồm 66 chỉ số, trong đó

38 chỉ số thuộc khía cạnh đầu vào và 28 chỉ số thuộc khía cạnh đầu ra Cách tiếp

cận về NLCT của Ủy ban châu Âu được mô tả trong Hình 8

Trang 23

Hình 1.7 Khung phân tích NLCT quốc gia của Ủy ban châu Âu

Nguồn: EU (2013)

đ) Phương pháp đánh giá NLCT của Ireland

Hội đồng NLCT quốc gia Ireland được thành lập năm 1997 và từ đó đến nay, Hội

đồng này công bố hai báo cáo thường niên, bao gồm: Báo cáo NLCT Ireland

(Ireland’s Competitiveness Scorecard) và Báo cáo Thách thức đối với NLCT của

Ireland (Ireland’s Competitiveness Challenge) Theo quan điểm của Hội đồng

NLCT quốc gia Ireland, NLCT thể hiện khả năng của doanh nghiệp cạnh tranh trên

thị trường [8] Do vậy, NLCT quốc gia là khả năng doanh nghiệp ở Ireland cạnh

tranh trên thị trường quốc tế Theo đó, Hội đồng này sử dụng khung phân tích là

tháp NLCT để đánh giá NLCT của Ireland (xem Hình 9)

7 Hiệu quả TT lao động

8 Quy mô thị trường

10 Mức độ tinh thông trong kinh doanh

11 Đổi mới

Trang 24

Hình 1.8 Tháp Năng lực cạnh tranh của Ireland

Nguồn: Ireland’s Competitiveness Scorecard 2012

Báo cáo NLCT thường niên của Ireland sử dụng nhiều bộ số liệu có thể so sánh được của các tổ chức quốc tế như OECD, EU, UN, IMF, WTO và các chỉ tiêu của các tổ chức xếp hạng NLCT quốc tế như WB, WEF Các số liệu, chỉ tiêu được nhóm thành ba nhóm theo khung phân tích về tháp năng lực cạnh tranh Cụ thể là:

Đỉnh tháp là nhóm chỉ tiêu về Tăng trưởng bền vững Nhóm chỉ tiêu này gồm 3

chỉ tiêu: (1) Kinh tế vĩ mô bền vững; (2) Chất lượng sống; và (3) Môi trường bền

vững Nhóm giữa là các chỉ tiêu thuộc Điều kiện thiết yếu đối với NLCT quốc gia,

bao gồm: (1) Hiệu quả kinh doanh (gồm Đầu tư; Thương mại); (2) Năng suất và đổi mới (gồm Năng suất; Đổi mới); (3) Giá cả và chi phí (gồm Giá cả; Chi phí chính thức; Chi phí không chính thức); (4) Việc làm và Cung lao động (gồm chỉ tiêu Việc

làm và thất nghiệp, Đặc điểm cung lao động) Đáy tháp là nhóm chỉ tiêu về Chính sách, bao gồm: (1) Môi trường kinh doanh (gồm chỉ tiêu Thuế, Tài chính, Quy định

và cạnh tranh); (2) Cơ sở hạ tầng cứng (gồm Đầu tư cơ sở hạ tầng; Hạ tầng Giao thông, Năng lượng và Môi trường; Hạ tầng công nghệ thông tin và liên lạc); (3) Cơ

sở hạ tầng tri thức (gồm Giáo dục chung; Giáo dục mầm non và tiểu học; Giáo dục phổ thông; Giáo dục đại học; Học suốt đời; Hạ tầng Nghiên cứu và Phát triển) Ireland lựa chọn các chỉ tiêu theo 3 nhóm thuộc tháp NLCT và so sánh giữa Ireland với 18 nền kinh tế khác thuộc OECD và EU Từ kết quả phân tích, so sánh,

Trang 25

báo cáo NLCT quốc gia Ireland chỉ ra những thách thức lớn đối với nâng cao NLCT quốc gia và đề xuất các chính sách thực hiện

Tóm lại, các báo cáo xếp hạng NLCT và đánh giá các yếu tố ảnh hướng tới

NLCT quốc gia trên thế giới có cách tiếp cận và hệ thống chỉ số khác nhau Hiện

nay, đánh giá NLCT quốc gia trên thế giới được thực hiện theo hai hình thức Hình

thức thứ nhất là các báo cáo so sánh, xếp hạng NLCT quốc gia Những báo cáo này

đưa ra những đánh giá độc lập dựa trên các bộ tiêu chí khác nhau để so sánh NLCT giữa các quốc gia Qua kết quả cho điểm đối với các chỉ số và kết quả xếp hạng chung, các quốc gia nhận biết được các điểm mạnh, điểm yếu về NLCT của đất nước và khoảng cách NLCT so với các quốc gia khác, từ đó tìm cơ hội cải thiện và nâng cao vị thế NLCT Các báo cáo xếp hạng phổ biến hiện nay như Báo cáo NLCT toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới (WB), Báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh của tạp chí Forbes, Báo cáo chỉ số tự do kinh tế của Quỹ hỗ trợ di sản và Tạp chí phố Wall, Chỉ

số Quản trị toàn cầu của Ngân hàng thế giới, Chỉ số Cảm nhận tham nhũng của Tổ chức minh bạch quốc tế,… thể hiện theo hình thức này

Hình thức thứ hai là các báo cáo chuyên sâu về NLCT quốc gia Các báo cáo

theo hình thức này được thiết kế dựa trên một khung phân tích về NLCT quốc gia

và các yếu tố ảnh hưởng tới NLCT quốc gia Từ đó, các báo cáo phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới NLCT và đề xuất kiến nghị nâng cao NLCT Báo cáo Thách thức NLCT Ireland, Báo cáo NLCT Singapore hay Báo cáo NLCT Việt Nam,… áp dụng theo hình thức báo cáo chuyên sâu này

Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có quốc gia nào xây dựng bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia riêng cho đất nước Các bộ chỉ số NLCT hiện nay được thiết kế để

so sánh NLCT giữa các quốc gia hoặc dùng để phân tích sâu về các nhân tố ảnh hưởng tới NLCT Bởi vậy, đề xuất phương pháp và bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam là nhằm phục vụ Báo cáo chuyên sâu về NLCT Theo đó, Việt Nam cần lựa chọn cách tiếp cận đánh giá NLCT phù hợp, từ đó thiết kế các chỉ số đánh giá theo mô hình đã lựa chọn

Trang 26

1.2 Đánh giá NLCT quốc gia của Việt Nam qua một số bảng xếp hạng

Rõ ràng, trên thế giới có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi đánh giá NLCT quốc gia Trong đó, Báo cáo NLCT toàn cẩu (GCR) của Diễn đàn kinh tế thế giới từ lâu

đã trở thành bảng xếp hạng về NLCT được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Báo cáo này được xem như một công cụ chuẩn mực, được nhiều tổ chức và các quốc gia áp dụng để đánh giá thế mạnh cũng như điểm yếu về NLCT của mỗi quốc gia

Bên cạnh việc sử dụng các xếp hạng từ Báo cáo NLCT toàn cẩu, các tổ chức và các quốc gia còn tham khảo các kết quả từ Báo cáo Môi trường kinh doanh (Doing business) của Ngân hàng thế giới khi phân tích và đánh giá về NLCT quốc gia Báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới thể hiện kết quả điều tra, khảo sát về các quy định dẫn tới thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh, từ đó xếp hạng môi trường kinh doanh cho các quốc gia

Ngoài ra, còn có nhiều báo cáo xếp hạng toàn cầu khác về môi trường kinh doanh hay các yếu tố ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh cũng đưa ra những đánh giá độc lập dựa trên phương pháp luận và hệ thống các chỉ số khác nhau Qua các báo cáo xếp hạng này, các quốc gia nhận biết được các điểm mạnh, điểm yếu trong môi trường kinh doanh của đất nước, từ đó tìm cơ hội cải thiện môi trường kinh doanh, vốn cũng là các yếu tố cơ bản đối với nâng cao NLCT quốc gia

Phần dưới đây phân tích các khía cạnh NLCT của Việt Nam qua các chỉ số trong một số Bảng xếp hạng trên thế giới

1.2.1 NLCT quốc gia Việt Nam theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới

Theo xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới [5], năm 2013, Việt Nam được xếp cùng với 38 quốc gia khác thuộc nhóm các nước đang phát triển ở giai đoạn đầu (Factor driven economy) Năm 2013, năng lực cạnh tranh của Việt Nam được tăng

5 bậc, từ vị trí 75 trên tổng số 144 quốc gia và lãnh thổ (năm 2012) lên vị trí 70 trong tổng số 148 quốc gia và lãnh thổ Xếp hạng của Việt Nam năm 2013 tăng 5

bậc chủ yếu nhờ cải thiện về các chỉ số Môi trường kinh tế vĩ mô (xếp thứ 87, tăng

19 bậc) khi lạm phát trở về mức một con số trong năm 2012, Chất lượng cơ sở hạ

Trang 27

tầng (xếp thứ 82, tăng 13 bậc), Hiệu quả thị trường hàng hóa (xếp thứ 74, tăng 17

bậc) do các rào cản thương mại, thuế quan cũng như thuế thu nhập doanh nghiệp giảm Mặc dù các chỉ số này tăng bậc, song vẫn chỉ được xếp ở mức thấp, kém cạnh tranh

Tuy có sự cải thiện về vị trí xếp hạng cạnh tranh, song theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới, nền tảng của nền kinh tế và sự thịnh vượng của Việt Nam vẫn còn yếu và mong manh Trong năm 2013, các chỉ số của Việt Nam đều không vượt

quá thứ hạng 56, chỉ trừ duy nhất chỉ số Quy mô thị trường có xếp hạng tốt (thứ 36) Một số chỉ số có sự sụt giảm, bao gồm Hiệu quả của thị trường lao động (xếp thứ

56, giảm 5 bậc), Sự phát triển của thị trường tài chính (xếp thứ 93, giảm 5 bậc), Sự

sẵn sàng về công nghệ (thứ 102, giảm 4 bậc) Mặc dù các công nghệ mới vẫn đang

được phổ biến tới người dân, song các doanh nghiệp Việt Nam tỏ ra chậm chạp trong việc áp dụng các công nghệ mới trong kinh doanh, do đó đã đánh mất đáng kể khả năng tăng năng suất thông qua chuyển giao công nghệ

Bảng 1.2 Những thay đổi về điểm và xếp hạng của Việt Nam trong Báo cáo xếp

hạng NLCT toàn cầu (Giá trị: cao nhất là 7)

Xếp hạng Giá trị

Xếp hạng Giá trị

Xếp hạng Giá trị

Xếp hạng

Trang 28

B Nhóm chỉ số nâng

5 Đào tạo và giáo dục

12 Đổi mới công nghệ 3.45 44 3.4 49 3.16 66 3.07 81 3.14 76

Nguồn : Tổng hợp từ các báo cáo NLCT toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới

2009-2013

Trong Báo cáo NLCT toàn cầu 2013-2014, Diễn đàn kinh tế thế giới lựa chọn một danh sách gồm 16 chỉ số để tìm hiểu những nhân tố đang gây cản trở lớn nhất đối với môi trường kinh doanh của các quốc gia Kết quả điều tra của Diễn đàn kinh tế thế giới về trường hợp của Việt Nam cho thấy việc tiếp cận tín dụng, bất ổn về chính sách, thiếu lao động qua đào tạo là những vấn đề đáng lo ngại nhất trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam (xem Hình 1.9)

Trang 29

Hình 1.9 Những nhân tố quan ngại nhất về môi trường kinh doanh ở Việt

Nam (% số người trả lời)

Nguồn: Báo cáo NLCT toàn cầu 2013-2014

1.2.2 NLCT quốc gia Việt Nam theo Báo cáo môi trường kinh doanh (Doing business)

Báo cáo Môi trường kinh doanh [1] của Ngân hàng Thế giới là báo cáo thường niên, được thực hiện hàng năm kể từ năm 2003 Báo cáo đưa ra bảng xếp hạng tổng hợp về môi trường kinh doanh dựa trên bộ chỉ số đánh giá về các quy định liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp và về bảo vệ quyền sở hữu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước Để thực hiện bảng xếp hạng này, Ngân hàng Thế giới tập hợp thông tin từ những thay đổi trong khuôn khổ pháp lý, thủ tục hành chính và những trở ngại về kỹ thuật trong việc bắt đầu xây dựng hoặc mở rộng một doanh nghiệp Báo cáo Môi trường kinh doanh chỉ đánh giá mức độ cải cách trong mỗi lĩnh vực chứ không phải hiện trạng của lĩnh vực đó Báo cáo xếp hạng cả những nền kinh tế nhỏ nhất và một số nước nghèo nhất Mục tiêu của báo cáo nhằm cung cấp cơ sở khách quan cho việc hiểu và cải thiện môi trường pháp lý đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

.200 800 800 1.400 2.200 2.700 4.800 6.00 6.00 8.200 8.500 8.500 9.900 10.00 11.400

18.400

.00 2.00 4.00 6.00 8.00 10.0012.0014.0016.0018.0020.00

Y tế công cộng kém Tội phạm và trộm cắp Các quy định về lao động còn hạn chế

Năng lực đổi mới thiếu Bất ổn trong chính phủ Các quy định về ngoại hối

Bộ máy chính phủ không hiệu quả

Mức thuế Tác phong làm việc kém của người lao động

Tham nhũng

Cơ sở hạ tầng không thích hợp

Các quy định về thuế

Lạm phát Thiếu lao động qua đào tạo Bất ổn về chính sách Tiếp cận tín dụng

Trang 30

Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới thì từ khi xếp hạng Môi trường kinh doanh năm 2003, những cải cách về môi trường kinh doanh của Việt Nam đều theo hướng tích cực, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh Việt Nam không có cải cách ảnh hưởng tiêu cực tới chỉ số xếp hạng của Việt Nam Trong 9 năm qua, Ngân hàng Thế giới đánh giá rằng Việt Nam cũng đã có nhiều tiến bộ, thực hiện tổng cộng 16 cải cách về thể chế hoặc pháp lý ở 10 trên 11 lĩnh vực Gần đây nhất, trong báo cáo MTKD 2013, Ngân hàng thế giới ghi nhận cải cách của Việt Nam về tạo thuận lợi trong thủ tục thành lập doanh nghiệp bằng cách cho phép doanh nghiệp sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng tự in

Tuy nhiên, trong hai năm trở lại đây, vị trí xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam liên tục giảm bậc Năm 2012, Ngân hàng thế giới xếp Việt Nam giảm 8 bậc so với năm 2011 Năm 2013, xếp hạng của Việt Nam giảm thêm một bậc so với năm 2012 (xếp thứ 99/185) Đây là thứ hạng thấp nhất của Việt Nam kể từ năm

2008 Trong 10 hạng mục để đánh giá môi trường kinh doanh, Việt Nam chỉ cải

thiện được 2 chỉ số so với năm trước là Giải quyết thủ tục cấp phép xây dựng (xếp thứ 28, tăng 39 bậc) và Nộp thuế (xếp thứ 138, tăng 13 bậc) Năm 2013, Ngân hàng

thế giới cũng ghi nhận Việt Nam đã thực hiện tốt cơ chế một cửa (thuộc chỉ số

Thành lập doanh nghiệp), kiểm soát rủi ro (thuộc chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới) Đáng chú ý là nhiều lĩnh vực của Việt Nam kém xa thế giới như Thành lập doanh nghiệp (xếp hạng 108/185); Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư (xếp hạng

169/185); Nộp thuế (xếp hạng 138/185); Tiếp cận điện năng (xếp hạng 155/185); hay Xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (xếp hạng 149/185) Bảng dưới

đây thể hiện những cải cách và xếp hạng các chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam trong báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới từ 2006-2013

Trang 31

Bảng 1.3 Những thay đổi về vị trí xếp hạng của Việt Nam trong báo cáo Môi

trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới

Trang 32

1.2.3 NLCT quốc gia Việt Nam theo một số báo cáo khác

Bên cạnh Báo cáo NLCT toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới và Báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới, hiện còn có một số báo cáo xếp hạng toàn cầu khác về môi trường kinh doanh và các yếu tố ảnh hướng tới môi trường kinh doanh Chẳng hạn như: Xếp hạng Môi trường kinh doanh của tạp chí Forbes; Báo cáo Chỉ số tự do kinh tế của Quỹ hỗ trợ di sản và Tạp chí phố Wall; Chỉ số quản trị toàn cầu của Ngân hàng thế giới; Chỉ số Cảm nhận tham nhũng của Tổ chức minh bạch quốc tế,… Các báo cáo này đưa ra những đánh giá độc lập dựa trên phương pháp luận và hệ thống các chỉ số khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu khác nhau của các tổ chức, nhưng đều nhằm mục đích đánh giá và đo lường chất lượng môi trường kinh doanh, và từ đó đo lường NLCT quốc gia Tuy chưa có sự đồng thuận hoàn toàn giữa các tổ chức về các chỉ số đánh giá môi trường kinh doanh, song các báo cáo này đều có chung nhận định là chất lượng môi trường kinh doanh của Việt Nam còn yếu Vị thế của Việt Nam trong các báo được xếp hạng rất thấp trên thế giới và so với các nước trong khu vực, do đó NLCT của nền kinh tế và sự thịnh vượng của Việt Nam vẫn còn kém và mong manh

Trên cơ sở khảo cứu môi trường kinh doanh của Việt Nam qua một số báo cáo xếp hạng trên thế giới (gồm Xếp hạng Môi trường kinh doanh của tạp chí Forbes; Báo cáo Chỉ số tự do kinh tế của Quỹ hỗ trợ di sản và Tạp chí phố Wall; Chỉ số quản trị toàn cầu của Ngân hàng thế giới; Chỉ số Cảm nhận tham nhũng của

Trang 33

đang yếu hoặc giảm điểm, do đó đòi hỏi phải có sự cải thiện chính sách nhằm nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh

Bảng 1.4 Nhận diện các lĩnh vực cần cải thiện nhằm nâng cao chất lượng môi

trường kinh doanh của Việt Nam Báo cáo xếp hạng Nhận diện các nội dung cần cải

hàng thế giới

- Tiếng nói và trách nhiệm giải trình

- Chất lượng của luật pháp

- Kiểm soát tham nhũng Chỉ số Cảm nhận tham nhũng của

Tổ chức minh bạch quốc tế

- Tham nhũng

1.3 Bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia phù hợp với Việt nam

Như đã trình bày ở trên, Bảng xếp hạng NLCT toàn cẩu của Diễn đàn kinh tế thế giới từ lâu đã được thừa nhận rộng rãi trên thế giới và là một công cụ chuẩn mực được nhiều tổ chức và các quốc gia áp dụng khi đánh giá NLCT quốc gia Các tổ chức quốc tế như Ủy ban châu Âu, Viện Phát triển quản lý quốc tế Thụy Sĩ, Tạp chí Forbes, Tổ chức minh bạch quốc tế,… hay các quốc gia như Singapore, Ireland, đã tham khảo cách tiếp cận và sử dụng nhiều chỉ số về NLCT quốc gia của Diễn đàn kinh tế thế giới Cách tiếp cận của Diễn đàn kinh tế thế giới dựa trên quan điểm NLCT của Michael Porter Năm 2010, Việt Nam lần đầu tiên thực hiện Báo cáo

Trang 34

Năng lực cạnh tranh Việt Nam Đây là báo cáo chuyên sâu về NLCT được thực hiện dựa trên khung phân tích NLCT của Michael Porter Bởi vậy, cách tiếp cận về đánh giá NLCT của Diễn đàn kinh tế thế giới cũng gần gũi với quan điểm của Việt Nam

đã thực hiện qua Báo cáo NLCT Việt Nam 2010

Các kết quả và chỉ số xếp hạng trong Báo cáo môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới cũng được nhiều tổ chức và quốc gia tham khảo khi đánh giá NLCT quốc gia Ngoài ra, một số chỉ số toàn cầu khác cũng đo lường các khía cạnh khác nhau trong môi trường kinh doanh Qua các chỉ số xếp hạng này, Việt Nam có thể nhận diện được các lĩnh vực cần cải thiện để nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh và do đó là NLCT của nền kinh tế

Vì những lý do trên, trong nỗ lực thiết kế bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam, việc lựa chọn và cải thiện bộ chỉ số CGI của Diễn đàn kinh tế thế giới cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam, cùng với tham khảo các chỉ số môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới và một số tổ chức khác là một lựa chọn hợp lý Đề xuất cụ thể về định nghĩa NLCT quốc gia, phương pháp và bộ chỉ số đánh giá NLCT được trình bày cụ thể trong phần dưới dây

1.3.1 Đề xuất về khái niệm NLCT quốc gia

Sự tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về NLCT cho thấy rằng khái niệm và bản chất NLCT có thể hiểu một cách đa dạng và do đó khó có được sự nhất trí về lý thuyết cũng như thực tế Tuy vậy, hiện nay quan điểm phân tích NLCT từ khía cạnh năng suất được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia cũng như các học giả nghiên cứu vận dụng Bởi vậy, việc xây dựng phương pháp và bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam nên dựa trên cách tiếp cận về năng suất, cụ thể là khái niệm của

Porter [12, 13] Theo đó, năng lực cạnh tranh quốc gia là một tập hợp các yếu tố về

thể chế, chính sách và các nhân tố quyết định năng suất của một quốc gia; trên cơ

sở tiến bộ về năng suất sẽ xác lập mức độ thịnh vượng mà một nền kinh tế có thể đạt được

Trang 35

1.3.2 Đề xuất về cách tiếp cận và bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia

a) Xác định cách tiếp cận đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam

Nhìn chung, đánh giá NLCT quốc gia dựa trên cách tiếp cận về năng suất là lựa chọn phù hợp với quan điểm của nhiều tổ chức quốc tế cũng như của nhiều quốc gia Trong đó, cách tiếp cận của Porter về đánh giá NLCT quốc gia được vận dụng trong nhiều nghiên cứu gần đây, như báo cáo GCR của WEF, báo cáo NLCT Singapore (Singapore Competitiveness Report 2009) hay Báo cáo NLCT Việt Nam (2010) Đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam nên tiếp tục áp dụng theo cách tiếp cận này, song điều chỉnh các nhóm nhân tố cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam Đồng thời, hệ thống các chỉ số đánh giá NLCT quốc gia cần được thiết kế bao quát nhiều lĩnh vực chính sách, song nhấn mạnh hơn vào các nhân tố ảnh hưởng quan trọng tới giai đoạn phát triển và mục tiêu phát triển của nền kinh tế

b) Cấu trúc Bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam

Như đã trình bày ở trên, các báo cáo xếp hạng toàn cầu về môi trường kinh doanh

và NLCT đã giúp Việt Nam nhận diện các lĩnh vực hiện đang yếu hoặc giảm điểm,

do đó đòi hỏi phải có sự cải thiện chính sách Cụ thể như: Thể chế, Môi trường kinh

tế vĩ mô, Cơ sở hạ tầng, Đào tạo và giáo dục bậc cao, Mức độ sẵn sàng về công nghệ, Thị trường tài chính, Tham nhũng… Do đó, khi xây dựng bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia cần tính đến các nội dung này nhằm nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh và NLCT của nền kinh tế

Trong xếp hạng NLCT toàn cầu, Việt Nam hiện thuộc nhóm 38 nước đang phát triển ở giai đoạn đầu (Factor driven economy) và nhóm các chỉ số về các yêu cầu cơ bản là quan trọng nhất Theo quan điểm của Diễn đàn kinh tế thế giới, khi một quốc gia có năng lực cạnh tranh hơn, năng suất tăng lên và tiền lương cũng sẽ tăng, quốc gia này sẽ bước sang giai đoạn phát triển mà động lực là hiệu quả (efficiency driven economy – giai đoạn 2) Khi đó, năng lực cạnh tranh chủ yếu được tính toán dựa vào yếu tố nâng cao hiệu quả (efficiency enhancers) Việt Nam đang ở giai đoạn 1, nhưng trong thời gian tới, mục tiêu của Việt Nam là được xếp vào nhóm nước thuộc

Trang 36

giai đoạn 2 Do đó, khi thiết kế các chỉ số đo lường NLCT quốc gia Việt Nam cần

chú trọng tới các yếu tố nâng cao hiệu quả

Bên cạnh đó, việc xây dựng các chỉ số đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam cũng cần dựa trên quan điểm về ba khâu đột phá trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 Đó là:

(1) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm

là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính

(2) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ

(3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn

Theo để xuất trình bày ở trên, việc xây dựng phương pháp và bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam nên dựa trên cách tiếp cận về năng suất Trong đó, trình

độ công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất Bởi vậy, yếu tố mức độ sẵn sàng và trình độ công nghệ cũng cần được lựa chọn khi thiết kế bộ chỉ

số đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam

Theo cách tiếp cận này, bộ chỉ số đánh giá NLCT của Việt Nam nên đặt trọng tâm vào 5 nhóm lĩnh vực sau: Thể chế; Cơ sở hạ tầng; Môi trường kinh tế vĩ mô; Chất lượng nguồn nhân lực; Sẵn sàng về công nghệ

Bảng 5 dưới đây là đề xuất sơ bộ về Bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam, trên cơ sở tham khảo có điều chỉnh bộ chỉ số CGI của Diễn đàn kinh tế thế giới nhằm phù hợp với điều kiện thực tế và mục tiêu phát triển của Việt Nam, cùng với tham khảo các chỉ số môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới và một số

tổ chức khác

Trang 37

Bảng 1.5 Bộ chỉ số đánh giá NLCT quốc gia Việt Nam

Chỉ số

Nguồn tham khảo NHÓM CHỈ SỐ CÁC YÊU CẦU CƠ BẢN

1.03 Đầu tư công sai mục đích

1.04 Lòng tin của dân chúng đối với các nhà

1.10 Hiệu quả pháp lý trong giải quyết tranh chấp

1.11 Hiệu quả pháp lý trong thực thi các quy định

1.12 Minh bạch trong hoạch định chính sách của

Trang 38

1.16 Mức độ tin cậy vào dịch vụ ngành công an

B Thể chế tư

1 Đạo đức doanh nghiệp

1.17 Hành vi đạo đức của doanh nghiệp

1.18 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp IMD

2 Trách nhiệm giải trình

1.19 Kiểm toán và chế độ báo cáo

1.20 Hiệu quả hoạt động của ban giám đốc doanh

nghiệp

1.21 Bảo vệ cổ đông thiểu số

1.22 Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư

1.07 Bảo dưỡng và phát triển hạ tầng

1.08 Hạ tầng phân phối (distribution

infrastructure)

IMD IMD

B Hạ tầng điện và điện thoại

1.09 Chất lượng cung ứng điện năng

Trang 39

1.10 Số thuê bao điện thoại di động

1.11 Số thuê bao điện thoại cố định

III Môi trường kinh tế vĩ mô

3.01 Cân đối ngân sách của chính phủ

3.02 Tổng tiết kiệm quốc gia

3.03 Lạm phát

3.04 Nợ chính phủ

3.05 Xếp hạng tín dụng

NHÓM CHỈ SỐ NÂNG CAO HIỆU QUẢ

IV Đào tạo và giáo dục bậc cao hơn

5.05 Chất lượng giáo dục môn toán và khoa học

5.06 Chất lượng các trường quản lý

5.07 Tiếp cận internet trong trường học

C Đào tạo qua công việc

5.09 Sự sẵn có về các dịch vụ nghiên cứu và đào

tạo

Ngày đăng: 28/02/2021, 00:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w